+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Đám đông và trách nhiệm

  1. Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45

    Đám đông và trách nhiệm

    Share/Bookmark



    Người càng đông, càng ít tử tế

    Hình như mật độ dân số càng đông trong một địa điểm nhất định, tinh thần trách nhiệm và hợp tác càng ít phát triển. Bickman và các cộng sự (1973) đã tiến hành theo chủ đề này một nghiên cứu trong các cư xá sinh viên của hai trường đại học ở Mỹ.

    Cư xá thứ nhất bao gồm những dãy nhà 22 tầng, mỗi tầng có thể chứa 500 sinh viên. Cư xá thứ 2 chỉ gồm những nhà có từ 2 - 4 tầng, có thể phục vụ trung bình cho khoảng 58 sinh viên. Các nhà nghiên cứu muốn kiểm tra xem mức độ tương trợ trong nội bộ của từng cư xá khác nhau như thế nào. Họ sử dụng phương pháp sau: Để trên lối đi hành lang chung (chỗ rất dễ thấy) 1 phong bì thư cảm ơn có ghi địa chỉ người nhận, công dấu và dán tem nhưng không đề địa chỉ người gửi. Việc làm này là để xem số phong bì "bị đánh rơi" có được nhiều người gửi qua bưu điện để họ chuyển cho người nhận không. Người ta chờ đợi điều xảy ra là càng có nhiều người đi qua thì càng có cơ may nhiều phong bì được phát hiện và được bỏ vào hòm thư.

    Nhưng kết quả lại trái ngược với mong đợi đó. Các khảo sát viên nhận thấy chỉ có 63% các thư được để trong các cư xá có mật độ sinh viên cao được gửi qua bưu điện, trong khi tỉ lệ này là 87% trong các cư xá mật độ trung bình và 100% trong những cư xá có mật độ sinh viên thấp. Cùng thí nghiệm như trên được lặp lại trong 1 số trường đại học khác cũng đem lại những kết quả tương tự.

    Để xác định các yếu tố tham gia vào 1 trạng thái như vậy, người ta gửi những bảng câu hỏi cho các sinh viên sống trong các khu tập thể khác nhau đó. Các câu trả lời khẳng định là các sinh viên sống trong các cư xá có mật độ cao biểu lộ tinh thần trách nhiệm ít hơn trong cộng đồng. Điều này có thể được giải thích chủ yếu là đa số những người này thường cảm thấy cô đơn và vô danh nhiều hơn, và do đó sẽ cảm thấy ít có trách nhiệm hơn với mọi người xung quanh.


    "Những người chứng kiến câm""những nạn nhân chiều lòng"
    (Mọi người cứ đọc bài này xong sẽ hiểu mấy thuật ngữ này ^^!)

    Sợ hãi bị liên lụy, hình như thúc đẩy con người ngày càng tránh tham dự vào những tai họa mà họ chứng kiến:
    + Đó là vào năm 1964, vào 3h sáng, Catherine Genovese, một phụ nữ trẻ ở New York sau một đêm làm việc trở về nhà thì bị tấn công tàn nhẫn ngay trước cửa nhà bởi một gã đàn ông cầm dao. Bị đâm một cách man rợ, cô gái vừa la vừa chống cự, tìm cách bỏ chạy nhưng không kịp. Cô ta la hét, kêu cứu như vậy và tiếp tục chống cự gần nửa giờ trước khi bị kẻ tấn công đánh gục. Có khoảng 38 người đứng ở cửa sổ (12 người chứng kiến từ đầu đến cuối) nhưng không một ai đến cứu hoặc nghĩ đến việc gọi cảnh sát.

    + Vào năm 1985, trong một hẻm cụt gần một đại lộ ở Paris, một phụ nữ trẻ bị ba gã đàn ông tấn công và hãm hiếp giữa ban ngày trước mắt khoảng chục người qua đường vẫn tiếp tục đi không nói một lời.

    + Tại một thành phố của Đức, trong một vụ va chạm, người lái xe mô tô bị văng xuống đường. Anh ta nằm bất động trên vỉa hè. Những khách bộ hành cứ đi, những người lái xe cứ thế nhìn chằm chằm vào anh ta khi đợi đèn mà không một ai dừng lại giúp. Cuối cùng, sau 15 phút kéo dài, một hành khách ngồi trên xe bus bèn kéo cửa xe xuống và hỏi người bị nạn xem anh ta có đau không và gọi cứu hộ tới. Khi việc này được đài truyền hình đưa tin, một quyết định lớn đã được đưa ra: Bất kỳ ai có bằng lái xe ở Đức đều được huấn luyện để cấp cứu trong những trường hợp khẩn cấp như sự việc kể trên. Sau vụ việc này, một bác sĩ Đức làm việc ở phòng cấp cứu đã nhận xét: "Khi nhìn thấy người khác gặp nguy hiểm, mọi người vẫn bước đi. Dường như họ không quan tâm tới những gì đang diễn ra xung quanh."
    .......
    Những hành động như vậy thường hay xảy ra trên đường phố hoặc trong đường tàu điện ngầm ở các thành phố lớn nhưng hầu như hoặc không bao giờ những người chứng kiến có sự can thiệp. Người ta tự hỏi có không biết bao nhiêu thành phố hiện đại đã trở thành những doanh trại để mỗi người ẩn núp trong đó chỉ sống cho bản thân và không một ai bảo vệ những người anh em của mình.

    Nhưng nếu như chúng ta ít quan tâm bảo vệ quyền của những người khác phải chăng chúng ta không còn quan tâm đến những quyền của chính mình? Hay nói cách khác, nếu chúng ta không chịu đấu tranh cho quyền lợi của chính mình thì làm sao chúng ta dám đứng ra bảo vệ quyền lợi của những người khác? Mỗi ngày chúng ta chịu đựng những va chạm nhỏ, những xúc phạm đến quyền làm người của chúng ta, mà phần lớn không phản ứng lại. Ngay cả khi không có một nguy hiểm nào đối với sự an toàn của mình, nhiều người vẫn thích chấp nhận một thái độ thụ động bằng cách tự nhủ là những cái đó không có gì nghiêm trọng.

    Nhà tâm lý học Moriarty muốn biết trong chừng mực nào người ta không tố cáo (có thể chịu đựng được) sự vi phạm những quyền cơ bản của con người. Ông đã tiến hành những thí nghiệm khác nhau trong phòng nghiên cứu của trường đại học tổng hợp New York cũng như ở các địa điểm khác.

    Thí nghiệm đầu tiên là yêu cầu hai đối tượng cùng ở trong một căn phòng để tiến hành làm một test khá hóc búa gần như không thể hoàn thành được trong 20 phút theo quy định. Một trong hai sinh viên này là cộng sự của Moriarty có nhiệm vụ mở hết cỡ chiếc máy ghi âm xách tay phát nhạc rock và chỉ giảm âm lượng sau lần yêu cầu thứ ba của đối tượng kia (đối tượng thí nghiệm). Trong số 20 đối tượng chỉ có 1 người bắt buộc người sinh viên kia ngừng ngay phát máy, với một sự kiên quyết khiến cho người kia chấp hành ngay. Ba người khác chỉ yêu cầu lần thứ nhất và không nhắc lại điều này khi người làm ồn báo sẽ ngừng lại khi hết bài hát, một lời hứa không bao giờ được thực hiện. Còn 80% những người còn lại, không một ai nói một lời nào, dù một số người tỏ ra sốt ruột, họ tiếp tục chấp nhận bị quấy rầy khiến không thể tập trung vào công việc.

    Khi được hỏi vì sao, theo ý họ, những kết quả lại thấp như vậy, phải chăng là do sự hiện diện của âm nhạc, thì họ nói là không chắc âm nhạc đã có ảnh hưởng đến kết quả như vậy. Chỉ sau khi đòi hỏi họ cho biết cảm tưởng thực thì các sinh viên mới thừa nhận là họ bị làm trở ngại và thậm chí cảm thấy nổi giận muốn chống lại kẻ làm ồn ào. Nhưng dù muốn can thiệp, cuối cùng họ vẫn không dám làm và tự nhủ là sự thử thách không đến mức quan trọng để phải tiến hành can thiệp. Những nghiên cứu về sau cho thấy ngay cả với những thử thách quan trọng hơn, số nạn nhân đồng ý với trên hầu như vẫn không giảm đi.

    Moriarty và nhóm của ông tiến hành những thí nghiệm khác trong đó những đồng sự của ông nói to giọng trong thư viện của một trường trung học hoặc trong một phòng chiếu phim, làm cản trở một cách rõ ràng trực tiếp đến sự yên tĩnh của những người xung quanh. Tuy nhiên, không hơn 1/4 trong số họ phản ứng bằng cách đổi chỗ ngồi. Còn những người khác thì chờ đợi...

    Một nghiên cứu khác nhằm làm nạn nhân đối mặt trực tiếp với người vi phạm. Người này thừa dịp một cá nhân vừa ra khỏi trạm điện thoại để hỏi anh ta có trông thấy cái nhẫn mình tưởng là bị bỏ quên trên hộp điện thoại không. Sau câu trả lời là không, "kẻ đồng mưu" với nghiệm viên vặn lại: "Quả thực anh không trông thấy ư? Đôi khi có những người lấy các đồ vật mà không hề nghĩ là mình đã lấy... Anh có thể dốc túi cho xem được không?" Một trong những đối tượng nổi cáu bỏ đi luôn, 3 người khác từ chối một cách lễ phép, 80% còn lại dốc túi...

    Theo Moriarty, một sự thụ động như vậy là dấu hiệu của một vấn đề xã hội nghiêm túc. Nó cho thấy khi đối mặt với những stress của cuộc sống hiện tại và cảm giác cô đơn và vô danh mà nó gây nên, con người hình như cho rằng ít có sự việc đáng bỏ công để bảo vệ, nhất là đối với những người lạ. Và Moriarty kết luận: "Những luật lệ không được áp dụng sẽ không còn là luật lệ và những quyền không được bảo vệ có nguy cơ nhanh chóng bị lên án".

    (Sưu tầm)

    View more random threads same category:

    thay đổi nội dung bởi: athes_owl; 26-12-2009 lúc 12:34 AM

    Spoiler


  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    Quy tắc công nhận xã hội

    Khó khăn lớn nhất là con người thường không suy nghĩ thấu đáo về bản thân mình, không biết suy xét xem họ đang hy sinh cái gì khi chạy theo số đông.


    - RALPH WALDO EMERSON -

    Chúng ta là những sinh vật xã hội. Tất cả chúng ta đều có khát khao bẩm sinh là được thuộc về một nhóm xã hội nào đó. Chính xác là chúng ta đề cao cảm giác thuộc về một nhóm người đến mức càng nhiều người tin rằng một ý kiến, một xu hướng hay một quan điểm nào đó là đúng đắn thì chúng ta cũng tin rằng điều đó là đúng đắn. Quy tắc Công nhận xã hội thừa nhận rằng chúng ta có xu hướng thay đổi nhận định, quan điểm và hành vi của mình để phù hợp với những tiêu chuẩn của nhóm mà chúng ta là thành viên. Chúng ta coi một hành vi là đúng đắn khi thấy những người khác thực hiện hành vi đó. Càng có nhiều người thực hiện thì hành vi đó càng trở nên đúng đắn.

    Chúng ta cảm thấy hòa hợp khi người khác làm những điều mà chúng ta muốn làm. Ngay từ bé, chúng ta đã biết rằng khi làm theo những quy phạm xã hội, chúng ta sẽ ít khi mắc sai lầm. Có 2 dạng quy phạm: quy phạm rõ ràng và quy phạm ngầm định. Quy phạm rõ ràng được nói và viết ra công khai. Chẳng hạn, những quy định pháp luật, những biển báo trên đường, số tay hướng dẫn nhân viên hay những quy tắc của trò chơi. Còn Quy phạm ngầm định thường không được công khai. Chẳng hạn, hầu hết mọi người đều không được hướng dẫn là phải mỉm cười khi gặp ai đó, nhưng trên thực tế, họ vẫn thường làm vậy. Hoặc khi bạn biết là không nên đặt hai chân của mình lên trên bàn ăn khi là khách mời của một gia đình nào đó, cho dù chủ nhà chưa bao giờ nói là họ ngăn cấm chuyện này. Đó là những nét văn hóa, những quy tắc lịch sự.

    Nếu chúng ta không biết được quy chuẩn nào đó, chúng ta sẽ nhìn ra xung quanh để tìm kiếm nó. Quy tắc Công nhận xã hội trở thành phương cách để tiết kiệm thời gian và công sức khi cần xác định những điều được coi là đúng đắn và phù hợp. Chúng ta coi những hành vi, ứng xử của người khác là chỉ dẫn cho hành động của bản thân, và hợp thức hóa những gì chúng ta nên hoặc không nên làm, do đó chúng ta không cần thiết phải bỏ công tìm hiểu đúng hay sai trong bất kỳ tình huống nào. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang ngồi trong một rạp hát và thưởng thức một vở kịch. Bỗng nhiên, ai đó hét lên: "Cháy!". Bạn có nghĩ rằng mình phải nhảy dựng lên và chạy đi không? Nếu những người khác làm như vậy thì bạn cũng sẽ làm như vậy. Nhưng nếu mọi người vẫn ngồi yên thì bạn cũng sẽ ngồi yên.

    Công nhận xã hội: Sức mạnh của số đông

    Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu yêu cầu những trẻ em rất sợ chó chứng kiến một cậu bé chơi đùa với một chú chó trong hai mươi phút mỗi ngày. Chỉ sau bốn ngày, 67% trẻ em sẵn sàng ngồi chơi với một chú chó và thậm chí có thể ở lại với chú chó sau khi những người khác đã rời khỏi căn phòng. Tác động này vẫn còn kéo dài rất lâu. Một tháng sau, những trẻ em đó trở nên rất hào hứng khi chơi với chó. Trong một nghiên cứu tương tự với những trẻ em sợ chó, việc xem những bộ phim trong đó có hình ảnh trẻ em chơi đùa với những chú chó cũng ảnh hưởng tương tự như khi xem các hình ảnh thật nêu trên.

    Trong một nghiên cứu khác, người ta yêu cầu những người tham gia xác định đường thẳng dài hơn trong số hai đường thẳng hiển thị trên màn hình. Một đường thẳng rõ ràng là dài hơn đường thẳng còn lại. Tuy nhiên, trước khi tiến hành nghiên cứu, người ta đã bí mật gợi ý cho đa số thành viên tham gia thử nghiệm này cố tình nói ngược lại để gây sức ép cho số ít còn lại. Kết quả thật ngạc nhiên: một số người tham gia đã thực sự chịu sức ép này nên đã thay đổi câu trả lời của họ. Trong suốt thời gian nghiên cứu, 75% đã có câu trả lời sai ít nhất một lần. Trong một nghiên cứu có liên quan, người ta phát hiện rằng kể cả khi đáp án đã rất rõ ràng nhưng mọi người vẫn cố ý đưa ra câu trả lời sai trong suốt 37% thời gian nghiên cứu chỉ bởi vì muốn đi theo quan điểm chung của số đông.

    Bạn có nhận thấy mình thường nghe những tiếng cười đã được thu âm trước trong các vở hài kịch trên truyền hình mặc dù chẳng có tình huống nào thực sự buồn cười cả không? Các nghiên cứu chứng minh rằng sử dụng tiếng cười được thu âm trước sẽ tác động đến khán giả, khiến cho họ cười lâu hơn, cười thường xuyên hơn và cho điểm cao hơn đối với tính chất khôi hài của vở kịch. Điều đáng buồn là thủ thuật này lại có hiệu quả trên thực tế! Có bằng chứng cho thấy tiếng cười được thu âm trước phát huy hiệu quả cao nhất khi trò cười thực sự chán ngắt. Khi hai khán giả cùng xem một vở diễn và một người được nghe tiếng cười thu âm còn người kia thì không, khán giả được nghe tiếng cười thu âm luôn luôn là người cười nhiều hơn.

    Một nghiên cứu khác cũng được tiến hành để kiểm tra liệu người qua đường có dừng lại và nhìn chằm chằm lên trời hay không nếu thấy một nhóm người khác đang làm như vậy (Họ chỉ nhìn mà không giải thích gì cả). Các nhà nghiên cứu đã sắp xếp các nhóm từ 1 đến 15 người tập hợp tại một khu phố ở New York. Một máy quay phim đã được lắp sẵn để ghi lại kết quả thử nghiệm. Kết quả cho thấy càng có nhiều người trong nhóm chăm chú nhìn lên trời thì càng có nhiều khách qua đường dừng lại và cũng nhìn chằm chằm lên trời.
    .......

    Mặt tối của sự công nhận xã hội - Sự thờ ơ của người ngoài cuộc

    Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi một ai đó gặp khó khăn hoặc cần sự giúp đỡ, số người dửng dưng càng tăng thì số người thực sự giúp đỡ càng giảm. Hiệu ứng này còn có tên gọi "Sự thờ ơ của người ngoài cuộc". Hiệu ứng này xảy ra bởi vì trong hầu hết mọi tình huống, càng có nhiều người hiện diện thì chúng ta cảm thấy sự phân tán trách nhiệm càng lớn. Ý thức của chúng ta về sức ép xã hội giảm xuống khi chúng ta nghĩ rằng có thể có những người có khả năng giúp đỡ tốt hơn chúng ta.

    Bạn đã bao giờ rơi vào tình thế mà do nhóm có đông người mà bạn không thể thực sự là mình chưa? Ví dụ, trong một dự án nghiên cứu theo nhóm, bạn sẽ không làm việc chăm chỉ như khi phải tự mình chịu trách nhiệm. Hoặc, bạn đã cùng với một vài người khác giúp đẩy một chiếc ôtô bị sa lầy vào khu vực an toàn nhưng bạn không thực sự đẩy hết sức mình. Khi chúng ta ở trong nhóm, trách nhiệm sẽ bị phân tán. Thậm chí đôi khi, chúng ta không biết liệu mình có nên tham gia hành động hay không bởi vì có quá nhiều người đã hành động. Bạn đã bao giờ thấy một người vẫy tay đứng bên đường nhưng bạn vẫn tiếp tục lái xe giống như tất cả những chiếc xe khác đang chạy qua chưa? Khi có sự tham gia của nhiều người, chúng ta thường cho rằng sẽ có một ai đó đứng ra và hành động trước hoặc chúng ta có thể kết luận rằng sự giúp đỡ của mình không thực sự cần thiết.

    Trường hợp có thật trong lịch sử sau đây là minh họa điển hình của thái độ thờ ơ của người ngoài cuộc. Catherine Genovese, một phụ nữ trẻ sống ở thành phố New York, bị giết hại giữa đêm khi đang trên đường từ nơi làm việc về nhà. Sự thật đáng tiếc là trong một thành phố như New York, cái chết của cô chỉ là một trong vô số những vụ giết người. Sau đó, sự kiện này không được báo chí đề cập nhiều ngoại trừ vài dòng đăng tải trên tờ Thời báo New York. Câu chuyện về Genovese có lẽ vẫn chỉ là một sự kiện lặt vặt và không đáng kể nếu như người ta không công khai về một sự thật nữa trong vụ giết hại cô.

    Một tuần sau khi Genovese bị giết, A. M. Rosenthal, biên tập viên của tờ Thời báo New York, dùng bữa trưa với cảnh sát trưởng thành phố. Rosenthal hỏi vị cảnh sát trưởng về một vụ sát hại khác trong khu vực này, nhưng ông cảnh sát trưởng lại hiểu lầm rằng Rosenthal muốn hỏi về vụ Genovese nên tiết lộ một thông tin khủng khiếp mà cảnh sát không công khai cho dư luận biết. Cái chết của Genovese không phải là một sự kiện diễn ra trong bí mật, im lặng và che giấu. Ngược lại, đó là một sự kiện ồn ào mà mọi người đều chứng kiến. Khi kẻ tấn công Genovese đuổi theo cô và đâm dao ba nhát vào người cô trong khoảng thời gian kéo dài 35 phút, có 38 người hàng xóm đứng nhìn sự kiện từ cửa sổ căn hộ của họ mà không hề gọi điện cho cảnh sát!

    Rosenthal ngay lập tức cử một nhóm đi điều tra tình trạng "thờ ơ của người ngoài cuộc" này. Không lâu sau đó, tờ Thời báo New York đăng tải một bài báo dài trên trang nhất, mô tả chi tiết sự kiện này và phản ứng của những người hàng xóm. Trong hơn nửa tiếng đồng hồ, 38 côn dân đáng kính và tuân thủ pháp luật của khu phố Queens đã chứng kiến kẻ giết người ngang nhiên săn đuổi và đâm dao vào người phụ nữ ở khu Kew Gardens. Không một người nào gọi điện thoại cho cảnh sát khi người phụ nữ bị tấn công; chỉ có một nhân chứng đã gọi điện sau khi cô ta đã chết.

    Đọc bài báo này, tất cả mọi người đều choáng váng sững sờ. Làm sao người ta có thể chứng kiến cảnh tượng như vậy mà tuyệt nhiên không làm gì cả? Thậm chí kể cả những người hàng xóm được ám chỉ trong bài báo này cũng không biết giải thích thế nào về sự thờ ơ của họ. Câu trả lời mà họ đưa ra là: "Tôi không biết", "Tôi sợ", và "Tôi không muốn dính líu". Những "lời giải thích" này chẳng nói lên điều gì. Tại sao không ai gọi cho cảnh sát? Rất nhiều phương tiện truyền thông - các tờ báo, tạp chí, đài truyền hình, đài phát thanh - đã tiến hành nghiên cứu và điều tra để giải thích cho sự kiện khó tin này. Tất cả cũng đều đi đến một kết luận: Đơn giản vì những nhân chứng đó không thèm quan tâm.
    __________________________________________________ _________

    Bạn có thực sự nghĩ rằng 38 con người đó không thèm quan tâm đến mức chẳng buồn gọi điện thoại không? Những người hàng xóm không có phản ứng gì bởi vì họ nghĩ rằng một người nào đó sẽ gọi giúp đỡ và sẽ gọi cảnh sát. Hầu hết chúng ta đều là những người tốt. Nếu cá nhân mỗi người hàng xóm hiểu rằng họ có trách nhiệm phải giúp đỡ và gọi cảnh sát thì tôi dám chắc là họ đã làm như vậy.
    __________________________________________________ _________

    Một thử nghiệm khác được tiến hành ở New York cũng chứng tỏ xu hướng "thờ ơ của người ngoài cuộc". Thử nghiệm này cho rằng khi một người đang đứng một mình thấy khói bốc lên, 75% những người tham gia thử nghiệm đã thông báo về hiện tượng này. Tuy nhiên, khi họ đứng trong một nhóm ba người thì tỷ lệ thông báo giảm xuống còn 38%. Nếu hai người trong nhóm khuyến khích người thứ ba đừng làm gì cả thì khả năng thông báo giảm xuống còn 10%.

    Thông thường chúng ta không biết liệu mình có đang thực sự chứng kiến một tình huống khẩn cấp hay không. Chẳng hạn, nếu chúng ta nhìn một người ngã gục xuống thềm, chúng ta có thể do dự giữa hai kết luận: Có phải anh ta vừa lên cơn đau tim hoặc anh ta đang say sỉn vì đã nốc rượu quá nhiều? Do đó, những người ngoài cuộc có thể có thái độ "thờ ơ" vì không chắc chắn chứ không phải vì vô cảm. Và nếu họ chưa chắc chắn thì thông thường họ sẽ không giúp đỡ bởi vì không biết liệu mình có trách nhiệm phải làm việc đó hay không.

    Tất cả những người khác quan sát sự việc cũng có thể tìm kiếm sự biện minh nào đó. Bởi vì hầu hết mọi người đều thích xuất hiện với một tư thế đĩnh đạc và điềm đạm khi có mặt những người khác nên họ có thể tìm kiếm sự biện minh bằng cách liếc qua những người xung quanh họ. Do đó, tất cả mọi người đều thấy những người khác bối rối và không làm gì cả. Tuy nhiên, khi mọi người biết rõ trách nhiệm của họ trong một tình huống khẩn cấp, họ sẽ phản ứng và hành động rất nhanh chóng.

    (trích từ cuốn "Sức mạnh thuyết phục" của Kurt W. Mortensen)
    thay đổi nội dung bởi: athes_owl; 26-12-2009 lúc 12:32 AM

    Spoiler

  • Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn   Thank  

  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    BẢN CHẤT CỦA LÒNG VỊ THA

    (trích từ cuốn "Trí tuệ xã hội" của Daniel Goleman)
    Thiên thần có thật

    Trong 1 vụ va chạm xe, cô gái nằm đó đau đớn, choáng váng, bất lực và lúng túng với chiếc chân phải bị gãy và cả thân người bị kẹt trong đống đổ nát.

    Rồi, 1 người đi đường - mà cô không bao giờ biết tên - đi đến và quỳ xuống bên cạnh cô. Anh cầm tay, trấn an cô trong khi chờ đợi cứu thương cố gắng đưa cô ra. Không kể sự đau đớn và lo lắng của cô, anh đã giúp cô lấy lại bình tĩnh.

    "Anh ấy là..." - cô ngừng lại, rồi nói tiếp: "thiên thần của tôi".

    Chúng ta không bao giờ biết chính xác điều gì đã khiến chàng trai đó tới quỳ bên cô gái để trấn an cô. Nhưng chúng ta biết chính xác, sự thương cảm ấy phụ thuộc vào bước tiên quyết là sự thấu cảm.

    Sự thấu cảm đòi hỏi mức độ chia sẻ cảm xúc nhất định - điều kiện trước hết để thấu hiểu thế giới nội tâm của ai đó. Theo lời 1 nhà thần kinh học, các nơ-ron phản chiếu "đem lại cho bạn sự thấu cảm dồi dào, cơ chế căn bản để khiến bạn cũng cảm thấy đau đớn khi nhìn thấy ai đó đau đớn".
    __________________________________________________

    Một buổi chiều, ở trường dòng thần học Princeton, 40 sinh viên chuẩn bị tiến hành thuyết giảng để lấy điểm. Một nửa trong số họ được thuyết giảng về các chủ đề tôn giáo ngẫu nhiên, còn nửa còn lại phải thuyết giảng câu chuyện ngụ ngôn về người Samanritan tốt bụng - người đã dừng lại bên đường để giúp đỡ 1 người xa lạ bị thương trong khi người bị thương này không được những người ngoan đọa hơn chú ý.

    Các sinh viên cùng đợi trong 1 căn phòng. Cứ 15', một người trong số họ phải sang 1 tòa nhà khác để thực hiện bài thuyết giảng. Không 1 sinh viên nào biết mình đang tham gia vào 1 cuộc thí nghiệm về lòng vị tha.

    Qua ô cửa sổ, các sinh viên đi thẳng tới giảng đường kia, nhưng trên đường đi, họ gặp 1 người đàn ông đang nằm rên rỉ trong cơn đau thực sự. Trong 40 sinh viên, có đến 24 người phớt lờ tiếng rên đó. Số sinh viên có bài nói về người Samanritan tốt bụng sẵn lòng dừng lại giúp đỡ cũng không nhiều hơn số sinh viên của nhóm còn lại.

    Đối với những sinh viên này, thời gian mới là vấn đề. Trong số 10 người cho rằng mình đã muộn giờ, chỉ có 1 người dừng lại; còn trong số 10 người nghĩ rằng mình vẫn còn nhiều thời gian, có 6 người dừng lại.

    Trong rất nhiều yếu tố tạo nên lòng vị tha, yếu tố quan trọng nhất dường như chỉ đơn giản là dành thời gian để chú ý. Sự cảm thông ở chúng ta mạnh nhất khi chúng ta hoàn toàn chú ý vào 1 ai đó và tham gia vào vũ điệu cảm xúc với họ. Lẽ dĩ nhiên, khả năng, mức độ sẵn lòng và sự quan tâm của con người khi chú ý không giống nhau. Một cô bé đang trong tâm trạng ủ dột có thể chẳng để ý gì tới lời cằn nhằn của mẹ nhưng chỉ 1' sau, em lại hết sức tập trung vào cuộc nói chuyện điện thoại với người bạn gái. Các học viên đang vội vàng đi thuyết giảng rõ ràng không sẵn lòng hoặc không thể chú ý tới người đàn ông đáng thương kia vì có thể họ đang mải mê lo lắng trước áp lực về thời gian.

    Cư dân thành thị ở các nước trên thế giới thường rất ít khi chú ý, chào hỏi hay đề nghị giúp đỡ người khác. Các nhà xã hội học đưa ra giả thuyết cho rằng, chúng ta có khuynh hướng rơi vào trạng thái biệt lập hoàn toàn trên những con đường tấp nập người qua lại. Tất yếu, khuynh hướng này đòi hỏi sự cân bằng giữa các yếu tố: Chúng ta sao nhãng và ngừng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của những người xung quanh. Như 1 nhà thơ đã nói: "Chúng ta đối đầu với sự ồn ào của những dãy phố đầy những âm thanh chói tai."

    Ngoài ra, sự phân chia tầng bậc xã hội cũng khiến chúng ta nhắm mắt quay đi. Ở Mỹ, 1 người vô gia cư ngồi ăn xin với dáng vẻ tuyệt vọng trên 1 khu phố có thể không nhận được bất kỳ sự chú ý nào của người qua đường, những người chỉ cách họ vài bước chân nhưng 1 phụ nữ dễ gần, ăn mặc đẹp, đang xin chữ ký cho 1 lá đơn kiến nghị sẽ được họ vui vẻ, sẵn sàng lắng nghe và đáp lại. Tất nhiên, tùy thuộc vào quan điểm cảm thông của chúng ta, sự chú ý có thể đảo ngược lại: cảm thông với những người vô gia cư và không chú ý đến vụ việc kiện tụng kia. Nói tóm lại, quyền ưu tiên, tính xã hội hóa và vô số những nhân tố tâm lý xã hội khác đều tác động đến sự chú ý, cảm xúc hoặc sự đồng cảm của chúng ta.

    Nói 1 cách đơn giản, chú ý đến người khác cũng cho phép chúng ta tạo ra sự kết nối cảm xúc. Thiếu sự chú ý, sự đồng cảm sẽ không có đất để tồn tại.

    __________________________________________________

    Khi phải chú ý

    Hãy thử so sánh cuộc thí nghiệm ở trường dòng Princeton với 1 câu chuyện xảy ra ở New York. Hôm đó, sau buổi làm việc, tôi đi tới ga tàu điện ngầm ở quảng trường Times. Như thường lệ, dòng người hối hả tràn xuống khu ga, để kịp bắt chuyến tàu tiếp theo.

    Nhưng đột nhiên, tôi chợt thấy 1 chuyện không hay. Trên thềm nhà ga, 1 người đàn ông mình trần tiều tụy đang nằm sõng xoài, bất động, đôi mắt nhắm nghiền.

    Dường như không ai để ý điều đó. Mọi người vội vã bước qua ông ta để mau chóng về nhà. Ngỡ ngàng trước cảnh tượng đó, tôi dừng lại để xem có chuyện gì xảy ra với ông ta. Và ngay khi tôi dừng lại, 1 điều khác thường đã xảy ra: Những người khác cũng dừng lại.

    Gần như ngay lập tức, mọi người quây lại thành 1 vòng tròn quanh người đàn ông. Một cách tự nhiên, các biểu hiện của lòng nhân ái xuất hiện: Một người đàn ông tới hàng xúc xích mua giúp chút thức ăn; một người phụ nữ chạy đi lấy chai nước; người khác gọi nhân viên tuần tra ga để thông báo yêu cầu giúp đỡ qua loa phát thanh.

    Sau vài phút, người đàn ông nọ đã tỉnh lại, vui vẻ ăn uống và chờ xe cứu thương. Lúc đó, chúng tôi được biết ông ấy chỉ nói được tiếng Tây Ban Nha, không có tiền, và đã lang thang ở các khu phố của Mahattan với tình trạng đói khát. Ông ấy bị ngất vì đói tại bậc thềm ga tàu điện ngầm.

    Điều gì làm nên sự khác biệt ở đây? Chỉ bằng việc dừng lại để xem tình cảnh khó khăn của người đàn ông đó, tôi đã kéo những người qua đường ra khỏi vỏ bọc lạnh lùng và khiến họ chú ý tới ông ta. Khi tìm hiểu hoàn cảnh của ông, chúng tôi càng cảm động và muốn giúp đỡ.

    Rõ ràng, tất cả chúng ta, những công dân lương thiện đang trên đường về nhà sau giờ làm, đều dễ bàng quan trước cảnh người đàn ông nằm trên nhà ga. Thật đáng buồn khi đó chính là khuôn mẫu được hình thành từ sự bàng quan khi bước qua hàng trăm người vô gia cư đang cư ngụ trên những con phố của New York và nhiều trung tâm sầm uất khác.

    Những người dân thành thị học cách kiểm soát sự băn khoăn, ái ngại khi nhìn thấy ai đó trong hoàn cảnh bi đát như vậy bằng cách hướng sự chú ý tới điều khác.

    Khuôn mẫu đó ở tôi đã thay đổi khi tôi đọc được 1 bài gần đây trên tờ The New York Times về việc đóng cửa các bệnh viện tâm thần sẽ biến đường phố trở thành các phòng bệnh tâm thần. Để tìm hiểu bài viết này, tôi đã dành vài ngày đi thực tế cùng với những nhân viên của 1 tổ chức xã hội chuyên trông nom những người vô gia cư, đem tới cho họ thức ăn, chỗ ở và dỗ dành, khuyên nhủ những người bị bệnh tâm thần - 1 con số lớn đáng kinh ngạc - tới phòng khám để điều trị.

    Trong 1 nghiên cứu khác sử dụng tình huống về người Samanritan, người ta phát hiện rằng những người dừng lại giúp đỡ thường cho biết khi nhìn thấy sự đau đớn của người khác, họ cảm thấy bối rối và thấu cảm. Khi người ta nhận thấy ai đó khiến họ thấu cảm, có rất nhiều khả năng họ sẽ giúp đỡ.

    Chỉ cần nghe việc người nào đưa tay giúp đỡ ai cũng có thể gây tác động lạ thường, khiến cảm giác thấu cảm dâng lên. Các nhà tâm lý học dùng thuật ngữ "nâng cao thấu cảm" (elevation) đối với cảm giác ấm áp khi chứng kiến sự tốt bụng của 1 ai đó. Sự nâng cao thấu cảm là trạng thái xuất hiện lặp đi lặp lại lúc người ta kể về cảm giác của họ khi trông thấy 1 hành động tự phát với sự dũng cảm, lòng vị tha hay lòng trắc ẩn. Hầu hết, họ đều cảm thấy xúc động, thậm chí sung sướng.

    Những hành động thường được coi là có khả năng khơi gợi sự nâng cao thấu cảm là giúp đỡ người nghèo, người bệnh hoặc giúp đỡ người khác trong hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, những việc làm tốt này không cần phải đến mức như gánh vác cả 1 gia đình hay quên mình làm việc vì những người dân ngèo Calcutta như mẹ Teresa. Một suy nghĩ đơn giản cũng có thể khơi gợi sự nâng cao phẩm giá. Ví dụ, theo 1 nghiên cứu ở Nhật, mọi người đều dễ dàng có trạng thái kandou - cảm giác xúc động sâu sắc. Cảm giác đó xuất hiện trong những tình huống đơn giản như khi chúng ta thấy cảnh 1 gã du côn dữ dằn nhường chỗ cho 1 ông già trên tàu.

    Nghiên cứu cũng đưa ra giả thuyết, sự thấu cảm có tính lây truyền. Khi 1 người trông thấy 1 hành động nhân từ, trong họ thường nảy sinh sự thôi thúc hành động tương tự. Những lợi ích có tính xã hội này có thể là lý do giải thích tại sao các câu chuyện thần thoại trên thế giới luôn có hình ảnh người giúp đỡ người qua những hành động dũng cảm.

    Theo suy luận của các nhà tâm lý học, việc nghe 1 câu chuyện về lòng nhân ái - khi câu chuyện được kể sống động gây ra những cảm xúc tương tự như khi chứng kiến sự việc. Sự nâng cao thấu cảm như thế có tính lây lan sâu rộng và nó di chuyển chủ yếu ở đường thấp. [Đường thấp là 1 đường dẫn truyền thần kinh chủ đạo trong cấu trúc thần kinh về cảm xúc của con người. Đi kèm với nó còn có các cơ quan khác như hạnh nhân, cá ngựa, đường cao,... - Mọi người chỉ cần hỉu chúng là những phần của hệ thống cảm xúc của con người là được ^^!]

    __________________________________________________

    Sự hòa điệu

    Trong 1 chuyến đi Brazil 5 ngày với con trai, chúng tôi nhận thấy những người chúng tôi gặp hàng ngày càng trở nên thân thiện. Đó là 1 thay đổi thật sự ấn tượng.

    Ban đầu, chúng tôi cảm thấy cách biệt hay dè dặt đối với những người Brazil chúng tôi gặp. Nhưng tới ngày thứ 3, chúng tôi đã thấy thân thiện với họ nhiều hơn.

    Ngày thứ 4, cảm giác đó theo chúng tôi đến bất cứ nơi đâu. Và cuối chuyến đi, chúng tôi đã bùi ngùi ôm hôn chia tay mọi người tại sân bay.

    Có phải những người Brazil đã thay đổi? Tất nhiên, không phải vậy. Lý do là vì sự lo lắng của những người ngoại quốc như chúng tôi khi đến 1 nền văn hóa xa lạ đã tan biến. Sự dè dặt mang tính phòng vệ đã ngăn cách chúng tôi với thái độ cởi mở, thân thiện của những người Brazil. Và có thể, đó cũng chính là nguyên nhân khiến họ giữ khoảng cách.

    Những ngày đầu chuyến đi, giống như 1 chiếc radio bắt sóng chập chờn, chúng tôi đã quá lo lắng về việc đón nhận sự thân thiện của những người bản xứ mà chúng tôi gặp. Khi thả lỏng bản thân và chú ý tới những người xung quanh, chúng ta nhằm đúng đích, từ đó, sự thân mật xuất hiện. Khi bồn chồn hay lo lắng, chúng ta không thể nhận ra dấu hiệu của 1 tiếng nói ấm áp hay 1 nụ cười trong ánh mắt người đối diện - những kênh truyền thông chủ yếu có thông điệp về sự thân thiện.

    Lời giải thích chuyên môn cho động lực này đã cho thấy rõ ngưỡng giới hạn của sự chú ý. Khu vực nhớ hoạt động, hay khu vực nhớ chúng ta dùng để tập trung chú ý tại bất cứ thời điểm nào, nằm ở vỏ não trước - thành trì cuối cùng của đường cao.

    Hệ mạch nơ-ron này giữ vai trò chủ đạo trong việc cấp phát sự chú ý thông qua kiểm soát các bước nằm sau 1 tương tác. Ví dụ, nó tìm kiếm trong bộ nhớ khi chúng ta muốn nói hay làm gì đó. Không chỉ có thế, nó còn theo dõi những tín hiệu đến và giúp chúng ta phản ứng hợp lý.

    Khi những thách thức lớn hơn xuất hiện, các nhu cầu cũng ngày càng đè nặng lên khả năng tập trung. Những tín hiệu của sự lo âu từ hạch hạnh nhân tràn vào các khu vực chính của vỏ não trước, biểu lộ sự bồn chồn và làm giảm khả năng tập trung của chúng ta khỏi bất cứ sự việc nào. Sự lo buồn đòi hỏi quá nhiều sự chú ý.

    Tự nhiên giành vị trí đặc biệt quan trọng cho sự giao tiếp giữa các thành viên trong 1 loài và hoạt động của bộ não được điều chỉnh phù hợp với điều đó (đôi khi, sự điều chỉnh này diễn ra tức thời). Ví dụ, ở 1 số loài cá, trong mùa sinh sản, não của con cái tiết ra các hormone tạm thời làm thay đổi hình dạng của các mạch thính giác nhằm tăng khả năng thích ứng của chúng với tần số tiếng gọi của con đực.

    Có thể thấy điều tương tự ở trẻ 2 tháng tuổi khi tìm kiếm sự gần gũi của mẹ: Theo bản năng, trẻ trở nên nín lặng, hơi thở nhẹ hơn, quay mặt về phía mẹ; em chăm chú nhìn vào mắt, miệng mẹ và hướng tai về những âm thanh phát ra từ mẹ. Tất cả quá trình đó tạo thành nét mặt mà các nhà nghiên cứu gọi là "knit-brow with jaw-drop" (tạm hiểu là sự phối hợp đồng điệu giữa các cơ trên khuôn mặt). Mỗi cử động này đều tăng khả năng hòa hợp giữa các giác quan của trẻ với lời nói hay cử chỉ của người mẹ.

    Càng chú ý kỹ hơn tới 1 người, chúng ta sẽ càng cảm nhận sâu sắc trạng thái tinh thần của người đó. Trong nhiều tình huống, chúng ta sẽ hành động nhanh hơn từ những tín hiệu mơ hồ hơn. Ngược lại, khi chúng ta lo lắng, khả năng cảm nhận chính xác của chúng ta càng thấp.

    Tóm lại, tất cả các hình thức chỉ nghĩ tới mình đều hủy hoại sự thấu cảm, chưa kể đến sự thương cảm. Khi chú tâm tới chính mình, chúng ta sẽ thấy thế giới xung quanh bó hẹp lại trong vấn đề chúng ta đang gặp phải và nỗi lo âu hiện ra mồn một. Nhưng khi chúng ta chú ý đến người khác, thế giới sẽ của ta sẽ rộng mở, những vấn đề của bản thân sẽ trôi khỏi tâm trí và trở nên nhỏ bé hơn. Nhờ đó, khả năng kết nối - hành vi thương cảm của chúng ta sẽ tăng lên.

    __________________________________________________

    Bản năng thương cảm

    Khi 1 con chuột thí nghiệm bị treo lơ lửng, nó kêu và giãy giụa. Bắt gặp cảnh con chuột gặp nguy, 1 trong những con cùng chuồng cũng trở nên bối rối và cố gắng giải cứu bằng việc nhấn 1 cái cần hạ thấp con bị treo xuống sàn.

    6 con khỉ thí nghiệm được huấn luyện kéo dây xích để lấy thức ăn. Sau đó, chúng thấy con khỉ thứ 7 bị sốc điện mỗi khi chúng kéo dây xích. Khi chứng kiến sự đau đớn của con khỉ bị sốc điện, 4 con khỉ đầu đầu bắt đầu kéo dây xích khác. Mặc dù lấy được ít thức ăn hơn, nhưng con khỉ kia đã không còn bị đau đớn nữa. Con thứ 5 không kéo dây xích trong năm này, còn con thứ 6 không kéo dây xích trong 12 ngày. Cả 2 con khỉ này đều chịu đói để tránh gây sốc diện cho con khỉ thứ 7.

    Gần như, ngay từ khi sinh ra, khi đứa trẻ nhìn hay nghe thấy 1 đứa trẻ khác khóc khổ sở, các em cũng òa khóc như thể chính bản thân cũng đang đau đớn. Tuy nhiên, các em lại hiếm khi khóc khi nghe 1 đoạn thu âm tiếng khóc của chính mình. Từ 14 tháng tuổi trở đi, trẻ không khóc khi nghe thấy trẻ khác khóc, mà cố gắng tìm cách làm dịu đi sự đau khổ của đứa trẻ kia. Càng lớn, trẻ càng khóc ít hơn và cố gắng giúp đỡ nhiều hơn.

    Những con chuột, khỉ thí nghiệm và những đứa trẻ có chung 1 sự thôi thúc tự nhiên, khiến chúng chú tâm đến tình trạng của 1 đối tượng khác, gây ra cảm giác bồn chồn và dẫn chúng tới việc giúp đỡ. Tại sao phản ứng đó lại xuất hiện ở nhiều loài khác nhau? Đơn giản là vì tự nhiên luôn lưu giữ, duy trì những đặc điểm có lợi.

    Trong kết cấu não bộ, nhiều đặc điểm có lợi được chia sẻ ở nhiều loài khác nhau. Não người có những khu vực lớn đã được chứng minh là có chung cấu trúc với các loài có vú khác, đặc biệt là linh trường - loài động vật có não bộ phát triển cao. Sự tương đồng ở các loài trong cảm xúc đau buồn khi thấu cảm đi kèm với sự thôi thúc giúp đỡ cho thấy rõ ràng có 1 hệ mạch nơ-ron thần kinh cơ bản giống nhau trong não bộ của các loài. Trái ngược với động vật có vú, bò sát không có bất kỳ biểu hiện thấu cảm nào, thậm chí chúng còn ăn thịt chính con của mình.

    Dù có nhiều trường hợp con người bỏ mặc ai đó đang cần giúp đỡ nhưng biểu hiện lạnh lùng đó dường như chỉ là để giấu sự thôi thúc muốn giúp đỡ người khác. Các quan sát khoa học chỉ ra 1 hệ thống phản ứng đi kèm với não người, trong đó, chắc chắn có các nơ-ron thần kinh phản chiếu hoạt động khi chúng ta thấy ai đó đang khổ sở, khiến chúng ta ngay lập tức có cùng cảm xúc với họ. Và khi càng thấu cảm, chúng ta càng muốn giúp đỡ.

    Nhiều người cho rằng bản năng thương cảm đem lại lợi ích cho quá trình tiến hóa - được định nghĩa như là "sự thành công sinh sản", hay số cá thể trong 1 đàn tiếp tục sống sót để sinh sản. Hơn 1 thế kỷ trước, Charles Darwin đã đưa ra ý kiến cho rằng, sự thấu cảm - bước mở đầu cho thương cảm - là nguồn hỗ trợ mạnh mẽ đối với sự sống còn của vạn vật trước thách thức của tự nhiên. Sự thấu cảm giúp tăng cường tính hòa đồng và loài người chúng ta là những sinh vật mang tính xã hội vượt trội. Gần đây, xuất hiện thêm 1 ý kiến mới cho rằng tính hòa đồng là chiến thuật sống còn cơ bản của các loài linh trưởng, trong đó có con người chúng ta.

    __________________________________________________

    Cuộc tranh luận cổ xưa

    Triết gia của thế kỷ XVII, Thomas Hobbes đã khẳng định cuộc sống của chúng ta trong trạng thái tự nhiên - 1 cuộc sống không có sự cai trị cứng rắn - là "bẩn thỉu, nghiệt ngã và ngắn ngủi", là 1 cuộc chiến mà tất cả chống lại lẫn nhau. Tuy nhiên, dù có cái nhìn nghiêm khắc và yếm thế như vậy, nhưng bản thân Hobbes cũng có những lúc rất mềm yếu.

    Một hôm, khi lang thang trên phố, ông tình cờ gặp 1 ông lão ăn xin ốm yếu. Hobbes cảm thấy xúc động nên đã cho ông lão 1 khoản tiền hào phóng.

    Một người bạn thắc mắc, nếu không có những câu tục ngữ hay nguyên tắc triết học về việc giúp đỡ người nghèo, Hobbes có làm như vậy không. Hobbes trả lời, ông vẫn sẽ làm như vậy. Ông giải thích, ông cảm thấy đau buồn khi thấy cảnh nghèo khổ của ông lão, vì thế việc cho tiền không chỉ làm nhẹ bớt phần nào nỗi khổ cực của ông lão, mà còn làm cho Hobbes cảm thấy dễ chịu hơn.

    Câu chuyện này cho thấy, chúng ta có 1 chút tư lợi khi xoa dịu sự khổ cực của người khác. Theo bước Hobbes, 1 trường phái về lý thuyết kinh tế hiện đại cũng cho rằng người ta làm từ thiện 1 phần bởi sự thoải mái họ có được khi mường tượng ra việc làm dịu bớt nỗi đau khổ của những người họ giúp đỡ, hoặc bởi sự khuây khỏa của chính họ khi làm dịu đi nỗi cảm thông trong lòng.

    Những phiên bản về sau của thuyết này đã cố gắng thay đổi cán cân, làm giảm đi yếu tố vị tha để làm rõ yếu tố tư lợi. Trong số đó, có 1 phiên bản cho rằng, lòng trắc ẩn che đậy thứ gen ích kỷ - 1 loại gen cố gắng tối đa hóa khả năng được di truyền của nó - bằng cách lập ra các bổn phận hoặc ủng hộ những người thân mang thứ gen đó.

    Tuy nhiên, có 1 quan điểm khác giải thích trực quan và phổ quát hơn. Trước thời Hobbes rất lâu, vào thế kỷ thứ III TCN, nhà hiền triết người Trung Quốc - Mạnh Tử đã viết: "Tất cả mọi người đều có cảm giác không thể chịu được khi thấy sự khổ sở của người khác."

    Khoa học thần kinh ngày nay ủng hộ quan điểm của Mạnh Tử và bổ sung những thông tin còn thiếu cho quan điểm này. Khi chúng ta thấy ai đó đau khổ, hệ mạch nơ-ron tương ứng phản xạ vào trí não chúng ta 1 dạng cộng hưởng nhờ thấu cảm đã được định sẵn và trở thành bước mở đầu cho sự thương cảm. Khi 1 đứa trẻ khóc, trí não của cha mẹ xuất hiện phản xạ tương tự và tự động khiến họ làm điều gì đó để dỗ dành con.

    Cơ chế suy nghĩ và hành động nhân ái hình thành ở chúng ta ngay từ khi sinh ra. Theo bản năng, chúng ta muốn giúp đỡ 1 đứa trẻ đang kêu khóc trong sự sợ hãi và tự nhiên muốn ôm 1 đứa bé tươi cười. Những động lực tình cảm như vậy rất mạnh mẽ, khơi dậy trong chúng ta những phản ứng mang tính tức thời và không tính toán. Hiện tượng xuyên suốt từ thấu cảm đến hành động như vậy diễn ra hoàn toàn vô thức và để lại dấu ấn ở hệ mạch nơ-ron thần kinh dành riêng cho chuỗi sự kiện này.

    Trở lại với tình huống khó xử của câu hỏi: "Tại sao không phải lúc nào ta cũng giúp đỡ?" trong khi não người có 1 hệ thống được cấu tạo để giúp ta thấu hiểu nỗi khổ của người khác và chuẩn bị cho chúng ta những hành động giúp đỡ họ. Có hiều đáp án khác nhau từ vô số những thí nghiệm về tâm lý học xã hội. Nhưng câu trả lời đơn giản nhất có thể là vì cuộc sống hiện đại đã cản trở điều đó. Phần lớn chúng ta liên hệ với nhau từ khoảng cách xa. Sự cách trở đó đồng nghĩa với việc chúng ta trải nghiệm sự thấu cảm có ý thức hơn là qua tính tức thời của sự lây nhiễm cảm xúc trực tiếp. Tệ hơn, chúng ta chỉ đơn giản thấy thông cảm, tức là chúng ta cảm thấy tiếc cho người đó nhưng không hề thử trải qua nỗi khổ như họ. Mối quan hệ cách biệt này làm suy yếu sự thôi thúc muốn giúp đỡ bẩm sinh trong mỗi chúng ta.

    Preston và Frans de Waal đã lưu ý: "Ngày nay, trong kỷ nguyên của thư điện tử, truyền thông, sự di dời liên tục và các cộng đồng sống tách biệt, cán cân ngày càng nghiêng theo chiều hướng đi ngược lại nhận thức tự nhiên và chính xác về trạng thái cảm xúc của người khác, mà thiếu điều đó sự thấu cảm không thể xuất hiện." Những khoảng cách ảo và cách biệt xã hội trong thời đại ngày nay đã tạo ra dị tật trong cuộc sống con người, nhưng đó lại là thứ chúng ta lấy làm quy tắc. Sự cách biệt này chặn mất tiếng nói của sự thấu cảm, do đó, làm suy yếu tính vị tha.

    Từ lâu, người ta đã lý luận rằng, bản chất của con người là biết yêu thương và đồng cảm, dù có đôi lúc bần tiện, nhưng vô số những chuyện tồi tệ trong suốt chiều dài lịch sử đã phủ nhận điều này. Trong khi đó, khoa học tìm được rất ít bằng chứng ủng hộ điều đó. Tuy nhiên, hãy thử mường tượng về khả năng xảy ra những hành vi phản xã hội, từ sự thô lỗ hay gian dối cho đến hiếp dâm hay giết người. Thử để con số đó dưới dấu gạch ngang của 1 phân số. Sau đó, đặt lên trên tử số của những hành vi phản xã hội đang thật sự diễn ra. Tỷ lệ hành vi ti tiện thật sự diễn ra so với khả năng xảy ra gần như luôn bằng 1. Và nếu thay đổi, đặt giá trị trên tử số là số hành vi nhân ái được thể hiện trong 1 ngày, tỷ lệ giữa cái tốt và cái xấu sẽ luôn ở mức tích cực.

    Jerome Kagan, giáo sư giảng dạy tại đại học Harvard đã đề xuất bài tập tâm lý trên để chứng minh 1 điều giản đơn trong bản chất của con người: Hành vi tốt luôn nhiều hơn hành vi xấu. Ông nhận xét: "Mặc dù con người thừa hưởng 1 xu hướng sinh học cho phép họ tỏ ra giận dữ, ghen tị, ích kỷ, đố kị, thô lỗ, hiếu chiến và bạo lực, nhưng họ cũng thừa hưởng 1 xu hướng sinh học còn mạnh mẽ hơn - xu hướng của lòng tốt, lòng trắc ẩn, sự chung sức, yêu thương và che chở, đặc biệt đối với những người cần giúp đỡ." Ông nói thêm: "Cảm quan đạo đức nội tại này là 1 đặc tính sinh học của loài người."

    Với việc khám phá ra hệ thống thần kinh của chúng ta thiên về xu hướng để sự thấu cảm phục vụ cho lòng trắc ẩn, thần kinh học đã mở ra cho triết học 1 cơ chế giải thích tính phổ quát của động lực mang tính vị tha. Thay vì cố gắng biện hộ cho những hành vi ích kỷ, các triết gia có thể suy ngẫm về câu hỏi hóc búa khi vô số lần hành vi xấu phải nhường bước cho cái thiện.
    thay đổi nội dung bởi: athes_owl; 26-12-2009 lúc 03:07 AM

    Spoiler


  • Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài gởi
    49
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài
    Rep Power
    0



    Chà , bài này hay thật . Đọc cái này tui nhớ đến quy tắc đám đông , thể hiện rõ ở câu chuyện "chuông đeo cổ mèo" .
    Không biết athes tìm ở đâu ra nhiều bài về tâm lý thế này , ko bik bữa nào u rảnh có thể tập hợp lại soạn thành 1 ebook nho nhỏ thì tuyệt lắm lắm , tui nghĩ nó chắc rất có giá trị . ^__^
    "Ta luôn có một suy nghĩ ngây thơ rằng : ta tự xem mình yếu đuối và hiền lành như một chú thỏ con , trong khi tất cả mọi người là cà rốt ! "

  • Tham gia ngày
    Apr 2008
    Bài gởi
    38
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 2 lần trong 2 bài
    Rep Power
    0



    Kết nhất cái "trách nhiệm".
    Ko chỉ "đám đông" mới thiếu trách nhiệm, cái sự thiếu trách nhiệm này diễn ra rất phổ biến ở VN Ng` VN h càng ngày càng vô trách nhiệm hơn thì fải
    Anyway, "Nhà tâm lý học Moriarty" có fải họ hàng của Mr.Moriarty k vậy
     

  • Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36



    Mình có đọc tâm lý học đám đông của Maurice le Blanc, trong đó ổng nói đám đông là một tập thể ngu dốt, thiếu xét đoán và dễ bị người khác chi phối >.<. Họ có thể là những người vô cùng đạo đức hoặc những kẻ man rợ tùy theo tình hình.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  • Tham gia ngày
    Oct 2008
    Đến từ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    2,696
    Blog Entries
    1
    Cảm ơn
    136
    Được cảm ơn 203 lần trong 134 bài
    Received 15 thank(s)
    Rep Power
    45



    Bài viết rất hay, có 1 lần Mar coi phim về bản năng của con người: đơn lẻ và số đông. Người ta giải thích cho sự vô tâm và đồng cảm của con người như sau:

    Thế giới có 2 lại người đó là kẻ cầm quyền (mạnh) và kẻ phục vụ (yếu). Hoàn cảnh của mỗi người sẽ quyết định bản năng đối với những người xung quanh họ. Ví dụ như 1 thị trấn an bình mọi người đều sống với nhau rất chan hoà khoảng 100 người nhưng nếu có 10 kẻ khát máu tới và chỉ cần ra oai giết vài người thì cả thị trấn đều không dám làm gì mặc dù số lượng đông hơn.

    Để bảo vệ những người thân của mình những gia đình đơn lẻ có thể chịu chết cho nhau nhưng nếu có 1 người đơn lẻ (người sống 1 mình như bà goá hay 1 lão ăn xin) cũng sống trong thị trấn đó, nhưng tên khát máu cho người đơn lẻ đó nhịn đói và nằm chờ chết mà không sợ những người dân trong thị trấn đó đến cứu.

    Bản năng lúc đó con người muốn an phận trong hoà bình họ sẵn sàng chịu nhục để được hưởng cái hoà bình đó mẵc dù phải chịu cảnh áp bức. Đó là thế giới của kẻ cầm quyền.

    Trong thế giới bình đẳng như hiện nay cũng có những người cầm quyền và người phục vụ (ở đây nói tới chế độ chứ ko phải nhiệm vụ công việc như bồ bàn phải phục vụ khách hàng). Hoàn cảnh luôn xuất hiện để nêu nên bản năng con người lúc đó, ví dụ như 1 công nhân rất cần 1 công việc sẽ sẵn sàng nghe chủ la mắng mà ko có 1 lời phải kháng.

    Bản năng tất cả các loài động vật (kể cả con người) đều muốn bình yên vô sự nếu sự bình yên đó không còn khả năng tồn tại thì họ sẵn sàng chết để được cái sự bình yên đó. Ở ví dụ trên nếu tất cả người dân thấy sự bình yên bị de doạ thì họ sẽ phản kháng, tất nhiên là những kẻ cầm quyền có những cách để cầm quyền mà vẫn làm tồn tại cái sự bình yên kia.

    Riêng về cá nhân: nếu bạn vô tình gặp 1 kẻ ăn mày trên phố với bộ dạng khổ sở, bạn sẽ mủi lòng thương và cho tiền kẻ ăn mày đó (nếu bạn là người có tiền) 1 phần bản năng trong con người bạn sẽ làm như thế và việc này sẽ không ảnh hưởng tới cái gọi là bình yên vô sự của bạn. Nhưng nếu bạn gặp 1 người bị 10 người khác đánh bạn sẽ có bản năng mủi lòng thương nữa mà sẽ là sự sợ hãi (tín hiệu não sẽ ngăn chặn nếu như bạn can thiệp vào bạn sẽ bị nguy hiểm). Nếu ở đó có 20 hay 30 người đi nữa (ko quen nhau) thì giống như bạn sự sợ hãi sẽ khống chế họ và như bạn họ sẽ đứng nhìn mà không dám làm gì (mặc dù các bạn đang là số đông). Đây là tâm lý của tất cả các loài động vật.

    Càng ở 1 mình bạn càng có khả năng làm nhiều thứ rất tốt so với khi bạn ở 1 đám đông. Điều này là do tâm lý cạnh tranh nhau giữa người với người, đo đó khi sự cạnh tranh này không còn thì bạn có thể hoàn toàn ngăn vụ đánh nhau kia. Sự mất cạnh tranh được coi là 1 đặc quyền, đặc quyền này sẽ giúp bạn xoá tan sự cạnh tranh ở đó và khi sự cạnh tranh ở đó mất đi thì nỗi sợ hãi sẽ xuất hiện vào những người lúc đầu đang nắm thế. Ví dụ như nếu có 1 cảnh sát ở đó thì chỉ cần anh ta vào cứu tức khắc sự sợ hãi của bạn tan biến hết, sự cạnh tranh không còn và bạn có thể làm mọi thứ như lúc bạn chỉ có 1 mình. Những cảnh sát đó là những người có đặc quyền.

    Nói chính xác hơn là con người càng đông thì sự cạnh tranh càng cao và như thế giải quyết sự việc sẽ càng không thành công.

    Ngoài cái bản năng về tâm lý thì hoàn cảnh cũng đưa con người khó giải quyết vấn đề hơn mặc dù họ có thể giải quyết. Nếu bạn gặp 1 kẻ lang thang nằm chảy máu bên đường nếu bạn không bận gì bạn có thể chú ý và quan tâm đến họ nhưng nếu bạn đang bận gì đó như: phải đi phỏng vấn chẳng hạn thì chuyện đi phỏng vấn sẽ quan trọng hơn việc bạn cứu 1 người ko quen biết. Hoặc bạn đang chạy xe mà đến chỗ cứu không có chỗ nào để được cái xe của bạn thì lúc đó việc mất xe sẽ quan trọng hơn việc cứu người. Tất nhiên bạn vẫn là 1 người tốt nhưng ở đây hoàn cảnh đã thắng cái lòng tốt kia. Nếu có khoảng 100 người đi xe như bạn thì tất nhiên sẽ có 100 sự vô tâm như thế và điều đó làm nên sự vô tâm của cộng đồng nhưng thật ra xuất phát từ cá nhân đơn lẻ. Tất nhiên là sẽ có những cá nhân khác tới cứu vì nếu theo số đông thì kẻ lang thang kia sẽ ko bao giờ được cứu.

    Và còn nhiều nữa...nhưng nhớ hem hết. Những thứ như thế này chắc ko bao giờ Mar tìm sách để xem đâu. Chủ yếu toàn coi phim, mới đây coi được phim về sự giúp đỡ và xin lỗi coi xong 1 hồi thấy người ta chứng minh xin lỗi là giúp đỡ và giúp đỡ là xin lỗi. Hay thật

  • + Trả Lời Ðề Tài

    Thread Information

    Users Browsing this Thread

    There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

       

    Chủ đề giống nhau

    1. Thám Tử Nhiều Kỳ (Kỳ 8: Chết và mất tích)
      By Marcos in forum Tư duy - Phá Án
      Trả lời: 23
      Bài mới gởi: 06-06-2009, 03:21 PM
    2. Thám tử nhiều kỳ (Kỳ 7: Trái bom thứ 2)
      By Marcos in forum Tư duy - Phá Án
      Trả lời: 7
      Bài mới gởi: 12-12-2008, 10:50 PM
    3. Trả lời: 43
      Bài mới gởi: 12-12-2008, 06:50 PM
    4. Thám Tử Nhiều Kỳ (Kỳ 4: Nhóm Bạn)
      By Marcos in forum Tư duy - Phá Án
      Trả lời: 7
      Bài mới gởi: 13-11-2008, 05:25 PM
    5. Thám tử nhiều kỳ.
      By Marcos in forum Tư duy - Phá Án
      Trả lời: 71
      Bài mới gởi: 24-10-2008, 02:47 PM

    Visitors found this page by searching for:

    thực sự lối sống bàng quan của tác giả bickman và cộng sự

    of bickman và cộng sự 1973

    download ebook sức mạnh thuyết phục tác giả: kurt w. mortensen

    Dien Dan

    Members who have read this thread : 3

    Bookmarks

    Quuyền Hạn Của Bạn

    • Bạn không thể tạo chủ đề mới
    • Bạn không thể trả lời bài viết
    • Bạn không thể gửi file đính kèm
    • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết