BẢN CHẤT CỦA LÒNG VỊ THA
(trích từ cuốn "Trí tuệ xã hội" của Daniel Goleman)
Trong 1 vụ va chạm xe, cô gái nằm đó đau đớn, choáng váng, bất lực và lúng túng với chiếc chân phải bị gãy và cả thân người bị kẹt trong đống đổ nát.
Rồi, 1 người đi đường - mà cô không bao giờ biết tên - đi đến và quỳ xuống bên cạnh cô. Anh cầm tay, trấn an cô trong khi chờ đợi cứu thương cố gắng đưa cô ra. Không kể sự đau đớn và lo lắng của cô, anh đã giúp cô lấy lại bình tĩnh.
"Anh ấy là..." - cô ngừng lại, rồi nói tiếp: "thiên thần của tôi".
Chúng ta không bao giờ biết chính xác điều gì đã khiến chàng trai đó tới quỳ bên cô gái để trấn an cô. Nhưng chúng ta biết chính xác, sự thương cảm ấy phụ thuộc vào bước tiên quyết là sự thấu cảm.
Sự thấu cảm đòi hỏi mức độ chia sẻ cảm xúc nhất định - điều kiện trước hết để thấu hiểu thế giới nội tâm của ai đó. Theo lời 1 nhà thần kinh học, các nơ-ron phản chiếu "đem lại cho bạn sự thấu cảm dồi dào, cơ chế căn bản để khiến bạn cũng cảm thấy đau đớn khi nhìn thấy ai đó đau đớn".
__________________________________________________
Một buổi chiều, ở trường dòng thần học Princeton, 40 sinh viên chuẩn bị tiến hành thuyết giảng để lấy điểm. Một nửa trong số họ được thuyết giảng về các chủ đề tôn giáo ngẫu nhiên, còn nửa còn lại phải thuyết giảng câu chuyện ngụ ngôn về người Samanritan tốt bụng - người đã dừng lại bên đường để giúp đỡ 1 người xa lạ bị thương trong khi người bị thương này không được những người ngoan đọa hơn chú ý.
Các sinh viên cùng đợi trong 1 căn phòng. Cứ 15', một người trong số họ phải sang 1 tòa nhà khác để thực hiện bài thuyết giảng. Không 1 sinh viên nào biết mình đang tham gia vào 1 cuộc thí nghiệm về lòng vị tha.
Qua ô cửa sổ, các sinh viên đi thẳng tới giảng đường kia, nhưng trên đường đi, họ gặp 1 người đàn ông đang nằm rên rỉ trong cơn đau thực sự. Trong 40 sinh viên, có đến 24 người phớt lờ tiếng rên đó. Số sinh viên có bài nói về người Samanritan tốt bụng sẵn lòng dừng lại giúp đỡ cũng không nhiều hơn số sinh viên của nhóm còn lại.
Đối với những sinh viên này, thời gian mới là vấn đề. Trong số 10 người cho rằng mình đã muộn giờ, chỉ có 1 người dừng lại; còn trong số 10 người nghĩ rằng mình vẫn còn nhiều thời gian, có 6 người dừng lại.
Trong rất nhiều yếu tố tạo nên lòng vị tha, yếu tố quan trọng nhất dường như chỉ đơn giản là dành thời gian để chú ý. Sự cảm thông ở chúng ta mạnh nhất khi chúng ta hoàn toàn chú ý vào 1 ai đó và tham gia vào vũ điệu cảm xúc với họ. Lẽ dĩ nhiên, khả năng, mức độ sẵn lòng và sự quan tâm của con người khi chú ý không giống nhau. Một cô bé đang trong tâm trạng ủ dột có thể chẳng để ý gì tới lời cằn nhằn của mẹ nhưng chỉ 1' sau, em lại hết sức tập trung vào cuộc nói chuyện điện thoại với người bạn gái. Các học viên đang vội vàng đi thuyết giảng rõ ràng không sẵn lòng hoặc không thể chú ý tới người đàn ông đáng thương kia vì có thể họ đang mải mê lo lắng trước áp lực về thời gian.
Cư dân thành thị ở các nước trên thế giới thường rất ít khi chú ý, chào hỏi hay đề nghị giúp đỡ người khác. Các nhà xã hội học đưa ra giả thuyết cho rằng, chúng ta có khuynh hướng rơi vào trạng thái biệt lập hoàn toàn trên những con đường tấp nập người qua lại. Tất yếu, khuynh hướng này đòi hỏi sự cân bằng giữa các yếu tố: Chúng ta sao nhãng và ngừng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của những người xung quanh. Như 1 nhà thơ đã nói: "Chúng ta đối đầu với sự ồn ào của những dãy phố đầy những âm thanh chói tai."
Ngoài ra, sự phân chia tầng bậc xã hội cũng khiến chúng ta nhắm mắt quay đi. Ở Mỹ, 1 người vô gia cư ngồi ăn xin với dáng vẻ tuyệt vọng trên 1 khu phố có thể không nhận được bất kỳ sự chú ý nào của người qua đường, những người chỉ cách họ vài bước chân nhưng 1 phụ nữ dễ gần, ăn mặc đẹp, đang xin chữ ký cho 1 lá đơn kiến nghị sẽ được họ vui vẻ, sẵn sàng lắng nghe và đáp lại. Tất nhiên, tùy thuộc vào quan điểm cảm thông của chúng ta, sự chú ý có thể đảo ngược lại: cảm thông với những người vô gia cư và không chú ý đến vụ việc kiện tụng kia. Nói tóm lại, quyền ưu tiên, tính xã hội hóa và vô số những nhân tố tâm lý xã hội khác đều tác động đến sự chú ý, cảm xúc hoặc sự đồng cảm của chúng ta.
Nói 1 cách đơn giản, chú ý đến người khác cũng cho phép chúng ta tạo ra sự kết nối cảm xúc. Thiếu sự chú ý, sự đồng cảm sẽ không có đất để tồn tại.
__________________________________________________
Hãy thử so sánh cuộc thí nghiệm ở trường dòng Princeton với 1 câu chuyện xảy ra ở New York. Hôm đó, sau buổi làm việc, tôi đi tới ga tàu điện ngầm ở quảng trường Times. Như thường lệ, dòng người hối hả tràn xuống khu ga, để kịp bắt chuyến tàu tiếp theo.
Nhưng đột nhiên, tôi chợt thấy 1 chuyện không hay. Trên thềm nhà ga, 1 người đàn ông mình trần tiều tụy đang nằm sõng xoài, bất động, đôi mắt nhắm nghiền.
Dường như không ai để ý điều đó. Mọi người vội vã bước qua ông ta để mau chóng về nhà. Ngỡ ngàng trước cảnh tượng đó, tôi dừng lại để xem có chuyện gì xảy ra với ông ta. Và ngay khi tôi dừng lại, 1 điều khác thường đã xảy ra: Những người khác cũng dừng lại.
Gần như ngay lập tức, mọi người quây lại thành 1 vòng tròn quanh người đàn ông. Một cách tự nhiên, các biểu hiện của lòng nhân ái xuất hiện: Một người đàn ông tới hàng xúc xích mua giúp chút thức ăn; một người phụ nữ chạy đi lấy chai nước; người khác gọi nhân viên tuần tra ga để thông báo yêu cầu giúp đỡ qua loa phát thanh.
Sau vài phút, người đàn ông nọ đã tỉnh lại, vui vẻ ăn uống và chờ xe cứu thương. Lúc đó, chúng tôi được biết ông ấy chỉ nói được tiếng Tây Ban Nha, không có tiền, và đã lang thang ở các khu phố của Mahattan với tình trạng đói khát. Ông ấy bị ngất vì đói tại bậc thềm ga tàu điện ngầm.
Điều gì làm nên sự khác biệt ở đây? Chỉ bằng việc dừng lại để xem tình cảnh khó khăn của người đàn ông đó, tôi đã kéo những người qua đường ra khỏi vỏ bọc lạnh lùng và khiến họ chú ý tới ông ta. Khi tìm hiểu hoàn cảnh của ông, chúng tôi càng cảm động và muốn giúp đỡ.
Rõ ràng, tất cả chúng ta, những công dân lương thiện đang trên đường về nhà sau giờ làm, đều dễ bàng quan trước cảnh người đàn ông nằm trên nhà ga. Thật đáng buồn khi đó chính là khuôn mẫu được hình thành từ sự bàng quan khi bước qua hàng trăm người vô gia cư đang cư ngụ trên những con phố của New York và nhiều trung tâm sầm uất khác.
Những người dân thành thị học cách kiểm soát sự băn khoăn, ái ngại khi nhìn thấy ai đó trong hoàn cảnh bi đát như vậy bằng cách hướng sự chú ý tới điều khác.
Khuôn mẫu đó ở tôi đã thay đổi khi tôi đọc được 1 bài gần đây trên tờ The New York Times về việc đóng cửa các bệnh viện tâm thần sẽ biến đường phố trở thành các phòng bệnh tâm thần. Để tìm hiểu bài viết này, tôi đã dành vài ngày đi thực tế cùng với những nhân viên của 1 tổ chức xã hội chuyên trông nom những người vô gia cư, đem tới cho họ thức ăn, chỗ ở và dỗ dành, khuyên nhủ những người bị bệnh tâm thần - 1 con số lớn đáng kinh ngạc - tới phòng khám để điều trị.
Trong 1 nghiên cứu khác sử dụng tình huống về người Samanritan, người ta phát hiện rằng những người dừng lại giúp đỡ thường cho biết khi nhìn thấy sự đau đớn của người khác, họ cảm thấy bối rối và thấu cảm. Khi người ta nhận thấy ai đó khiến họ thấu cảm, có rất nhiều khả năng họ sẽ giúp đỡ.
Chỉ cần nghe việc người nào đưa tay giúp đỡ ai cũng có thể gây tác động lạ thường, khiến cảm giác thấu cảm dâng lên. Các nhà tâm lý học dùng thuật ngữ "nâng cao thấu cảm" (elevation) đối với cảm giác ấm áp khi chứng kiến sự tốt bụng của 1 ai đó. Sự nâng cao thấu cảm là trạng thái xuất hiện lặp đi lặp lại lúc người ta kể về cảm giác của họ khi trông thấy 1 hành động tự phát với sự dũng cảm, lòng vị tha hay lòng trắc ẩn. Hầu hết, họ đều cảm thấy xúc động, thậm chí sung sướng.
Những hành động thường được coi là có khả năng khơi gợi sự nâng cao thấu cảm là giúp đỡ người nghèo, người bệnh hoặc giúp đỡ người khác trong hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, những việc làm tốt này không cần phải đến mức như gánh vác cả 1 gia đình hay quên mình làm việc vì những người dân ngèo Calcutta như mẹ Teresa. Một suy nghĩ đơn giản cũng có thể khơi gợi sự nâng cao phẩm giá. Ví dụ, theo 1 nghiên cứu ở Nhật, mọi người đều dễ dàng có trạng thái kandou - cảm giác xúc động sâu sắc. Cảm giác đó xuất hiện trong những tình huống đơn giản như khi chúng ta thấy cảnh 1 gã du côn dữ dằn nhường chỗ cho 1 ông già trên tàu.
Nghiên cứu cũng đưa ra giả thuyết, sự thấu cảm có tính lây truyền. Khi 1 người trông thấy 1 hành động nhân từ, trong họ thường nảy sinh sự thôi thúc hành động tương tự. Những lợi ích có tính xã hội này có thể là lý do giải thích tại sao các câu chuyện thần thoại trên thế giới luôn có hình ảnh người giúp đỡ người qua những hành động dũng cảm.
Theo suy luận của các nhà tâm lý học, việc nghe 1 câu chuyện về lòng nhân ái - khi câu chuyện được kể sống động gây ra những cảm xúc tương tự như khi chứng kiến sự việc. Sự nâng cao thấu cảm như thế có tính lây lan sâu rộng và nó di chuyển chủ yếu ở đường thấp. [Đường thấp là 1 đường dẫn truyền thần kinh chủ đạo trong cấu trúc thần kinh về cảm xúc của con người. Đi kèm với nó còn có các cơ quan khác như hạnh nhân, cá ngựa, đường cao,... - Mọi người chỉ cần hỉu chúng là những phần của hệ thống cảm xúc của con người là được ^^!]
__________________________________________________
Trong 1 chuyến đi Brazil 5 ngày với con trai, chúng tôi nhận thấy những người chúng tôi gặp hàng ngày càng trở nên thân thiện. Đó là 1 thay đổi thật sự ấn tượng.
Ban đầu, chúng tôi cảm thấy cách biệt hay dè dặt đối với những người Brazil chúng tôi gặp. Nhưng tới ngày thứ 3, chúng tôi đã thấy thân thiện với họ nhiều hơn.
Ngày thứ 4, cảm giác đó theo chúng tôi đến bất cứ nơi đâu. Và cuối chuyến đi, chúng tôi đã bùi ngùi ôm hôn chia tay mọi người tại sân bay.
Có phải những người Brazil đã thay đổi? Tất nhiên, không phải vậy. Lý do là vì sự lo lắng của những người ngoại quốc như chúng tôi khi đến 1 nền văn hóa xa lạ đã tan biến. Sự dè dặt mang tính phòng vệ đã ngăn cách chúng tôi với thái độ cởi mở, thân thiện của những người Brazil. Và có thể, đó cũng chính là nguyên nhân khiến họ giữ khoảng cách.
Những ngày đầu chuyến đi, giống như 1 chiếc radio bắt sóng chập chờn, chúng tôi đã quá lo lắng về việc đón nhận sự thân thiện của những người bản xứ mà chúng tôi gặp. Khi thả lỏng bản thân và chú ý tới những người xung quanh, chúng ta nhằm đúng đích, từ đó, sự thân mật xuất hiện. Khi bồn chồn hay lo lắng, chúng ta không thể nhận ra dấu hiệu của 1 tiếng nói ấm áp hay 1 nụ cười trong ánh mắt người đối diện - những kênh truyền thông chủ yếu có thông điệp về sự thân thiện.
Lời giải thích chuyên môn cho động lực này đã cho thấy rõ ngưỡng giới hạn của sự chú ý. Khu vực nhớ hoạt động, hay khu vực nhớ chúng ta dùng để tập trung chú ý tại bất cứ thời điểm nào, nằm ở vỏ não trước - thành trì cuối cùng của đường cao.
Hệ mạch nơ-ron này giữ vai trò chủ đạo trong việc cấp phát sự chú ý thông qua kiểm soát các bước nằm sau 1 tương tác. Ví dụ, nó tìm kiếm trong bộ nhớ khi chúng ta muốn nói hay làm gì đó. Không chỉ có thế, nó còn theo dõi những tín hiệu đến và giúp chúng ta phản ứng hợp lý.
Khi những thách thức lớn hơn xuất hiện, các nhu cầu cũng ngày càng đè nặng lên khả năng tập trung. Những tín hiệu của sự lo âu từ hạch hạnh nhân tràn vào các khu vực chính của vỏ não trước, biểu lộ sự bồn chồn và làm giảm khả năng tập trung của chúng ta khỏi bất cứ sự việc nào. Sự lo buồn đòi hỏi quá nhiều sự chú ý.
Tự nhiên giành vị trí đặc biệt quan trọng cho sự giao tiếp giữa các thành viên trong 1 loài và hoạt động của bộ não được điều chỉnh phù hợp với điều đó (đôi khi, sự điều chỉnh này diễn ra tức thời). Ví dụ, ở 1 số loài cá, trong mùa sinh sản, não của con cái tiết ra các hormone tạm thời làm thay đổi hình dạng của các mạch thính giác nhằm tăng khả năng thích ứng của chúng với tần số tiếng gọi của con đực.
Có thể thấy điều tương tự ở trẻ 2 tháng tuổi khi tìm kiếm sự gần gũi của mẹ: Theo bản năng, trẻ trở nên nín lặng, hơi thở nhẹ hơn, quay mặt về phía mẹ; em chăm chú nhìn vào mắt, miệng mẹ và hướng tai về những âm thanh phát ra từ mẹ. Tất cả quá trình đó tạo thành nét mặt mà các nhà nghiên cứu gọi là "knit-brow with jaw-drop" (tạm hiểu là sự phối hợp đồng điệu giữa các cơ trên khuôn mặt). Mỗi cử động này đều tăng khả năng hòa hợp giữa các giác quan của trẻ với lời nói hay cử chỉ của người mẹ.
Càng chú ý kỹ hơn tới 1 người, chúng ta sẽ càng cảm nhận sâu sắc trạng thái tinh thần của người đó. Trong nhiều tình huống, chúng ta sẽ hành động nhanh hơn từ những tín hiệu mơ hồ hơn. Ngược lại, khi chúng ta lo lắng, khả năng cảm nhận chính xác của chúng ta càng thấp.
Tóm lại, tất cả các hình thức chỉ nghĩ tới mình đều hủy hoại sự thấu cảm, chưa kể đến sự thương cảm. Khi chú tâm tới chính mình, chúng ta sẽ thấy thế giới xung quanh bó hẹp lại trong vấn đề chúng ta đang gặp phải và nỗi lo âu hiện ra mồn một. Nhưng khi chúng ta chú ý đến người khác, thế giới sẽ của ta sẽ rộng mở, những vấn đề của bản thân sẽ trôi khỏi tâm trí và trở nên nhỏ bé hơn. Nhờ đó, khả năng kết nối - hành vi thương cảm của chúng ta sẽ tăng lên.
__________________________________________________
Khi 1 con chuột thí nghiệm bị treo lơ lửng, nó kêu và giãy giụa. Bắt gặp cảnh con chuột gặp nguy, 1 trong những con cùng chuồng cũng trở nên bối rối và cố gắng giải cứu bằng việc nhấn 1 cái cần hạ thấp con bị treo xuống sàn.
6 con khỉ thí nghiệm được huấn luyện kéo dây xích để lấy thức ăn. Sau đó, chúng thấy con khỉ thứ 7 bị sốc điện mỗi khi chúng kéo dây xích. Khi chứng kiến sự đau đớn của con khỉ bị sốc điện, 4 con khỉ đầu đầu bắt đầu kéo dây xích khác. Mặc dù lấy được ít thức ăn hơn, nhưng con khỉ kia đã không còn bị đau đớn nữa. Con thứ 5 không kéo dây xích trong năm này, còn con thứ 6 không kéo dây xích trong 12 ngày. Cả 2 con khỉ này đều chịu đói để tránh gây sốc diện cho con khỉ thứ 7.
Gần như, ngay từ khi sinh ra, khi đứa trẻ nhìn hay nghe thấy 1 đứa trẻ khác khóc khổ sở, các em cũng òa khóc như thể chính bản thân cũng đang đau đớn. Tuy nhiên, các em lại hiếm khi khóc khi nghe 1 đoạn thu âm tiếng khóc của chính mình. Từ 14 tháng tuổi trở đi, trẻ không khóc khi nghe thấy trẻ khác khóc, mà cố gắng tìm cách làm dịu đi sự đau khổ của đứa trẻ kia. Càng lớn, trẻ càng khóc ít hơn và cố gắng giúp đỡ nhiều hơn.
Những con chuột, khỉ thí nghiệm và những đứa trẻ có chung 1 sự thôi thúc tự nhiên, khiến chúng chú tâm đến tình trạng của 1 đối tượng khác, gây ra cảm giác bồn chồn và dẫn chúng tới việc giúp đỡ. Tại sao phản ứng đó lại xuất hiện ở nhiều loài khác nhau? Đơn giản là vì tự nhiên luôn lưu giữ, duy trì những đặc điểm có lợi.
Trong kết cấu não bộ, nhiều đặc điểm có lợi được chia sẻ ở nhiều loài khác nhau. Não người có những khu vực lớn đã được chứng minh là có chung cấu trúc với các loài có vú khác, đặc biệt là linh trường - loài động vật có não bộ phát triển cao. Sự tương đồng ở các loài trong cảm xúc đau buồn khi thấu cảm đi kèm với sự thôi thúc giúp đỡ cho thấy rõ ràng có 1 hệ mạch nơ-ron thần kinh cơ bản giống nhau trong não bộ của các loài. Trái ngược với động vật có vú, bò sát không có bất kỳ biểu hiện thấu cảm nào, thậm chí chúng còn ăn thịt chính con của mình.
Dù có nhiều trường hợp con người bỏ mặc ai đó đang cần giúp đỡ nhưng biểu hiện lạnh lùng đó dường như chỉ là để giấu sự thôi thúc muốn giúp đỡ người khác. Các quan sát khoa học chỉ ra 1 hệ thống phản ứng đi kèm với não người, trong đó, chắc chắn có các nơ-ron thần kinh phản chiếu hoạt động khi chúng ta thấy ai đó đang khổ sở, khiến chúng ta ngay lập tức có cùng cảm xúc với họ. Và khi càng thấu cảm, chúng ta càng muốn giúp đỡ.
Nhiều người cho rằng bản năng thương cảm đem lại lợi ích cho quá trình tiến hóa - được định nghĩa như là "sự thành công sinh sản", hay số cá thể trong 1 đàn tiếp tục sống sót để sinh sản. Hơn 1 thế kỷ trước, Charles Darwin đã đưa ra ý kiến cho rằng, sự thấu cảm - bước mở đầu cho thương cảm - là nguồn hỗ trợ mạnh mẽ đối với sự sống còn của vạn vật trước thách thức của tự nhiên. Sự thấu cảm giúp tăng cường tính hòa đồng và loài người chúng ta là những sinh vật mang tính xã hội vượt trội. Gần đây, xuất hiện thêm 1 ý kiến mới cho rằng tính hòa đồng là chiến thuật sống còn cơ bản của các loài linh trưởng, trong đó có con người chúng ta.
__________________________________________________
Triết gia của thế kỷ XVII, Thomas Hobbes đã khẳng định cuộc sống của chúng ta trong trạng thái tự nhiên - 1 cuộc sống không có sự cai trị cứng rắn - là "bẩn thỉu, nghiệt ngã và ngắn ngủi", là 1 cuộc chiến mà tất cả chống lại lẫn nhau. Tuy nhiên, dù có cái nhìn nghiêm khắc và yếm thế như vậy, nhưng bản thân Hobbes cũng có những lúc rất mềm yếu.
Một hôm, khi lang thang trên phố, ông tình cờ gặp 1 ông lão ăn xin ốm yếu. Hobbes cảm thấy xúc động nên đã cho ông lão 1 khoản tiền hào phóng.
Một người bạn thắc mắc, nếu không có những câu tục ngữ hay nguyên tắc triết học về việc giúp đỡ người nghèo, Hobbes có làm như vậy không. Hobbes trả lời, ông vẫn sẽ làm như vậy. Ông giải thích, ông cảm thấy đau buồn khi thấy cảnh nghèo khổ của ông lão, vì thế việc cho tiền không chỉ làm nhẹ bớt phần nào nỗi khổ cực của ông lão, mà còn làm cho Hobbes cảm thấy dễ chịu hơn.
Câu chuyện này cho thấy, chúng ta có 1 chút tư lợi khi xoa dịu sự khổ cực của người khác. Theo bước Hobbes, 1 trường phái về lý thuyết kinh tế hiện đại cũng cho rằng người ta làm từ thiện 1 phần bởi sự thoải mái họ có được khi mường tượng ra việc làm dịu bớt nỗi đau khổ của những người họ giúp đỡ, hoặc bởi sự khuây khỏa của chính họ khi làm dịu đi nỗi cảm thông trong lòng.
Những phiên bản về sau của thuyết này đã cố gắng thay đổi cán cân, làm giảm đi yếu tố vị tha để làm rõ yếu tố tư lợi. Trong số đó, có 1 phiên bản cho rằng, lòng trắc ẩn che đậy thứ gen ích kỷ - 1 loại gen cố gắng tối đa hóa khả năng được di truyền của nó - bằng cách lập ra các bổn phận hoặc ủng hộ những người thân mang thứ gen đó.
Tuy nhiên, có 1 quan điểm khác giải thích trực quan và phổ quát hơn. Trước thời Hobbes rất lâu, vào thế kỷ thứ III TCN, nhà hiền triết người Trung Quốc - Mạnh Tử đã viết: "Tất cả mọi người đều có cảm giác không thể chịu được khi thấy sự khổ sở của người khác."
Khoa học thần kinh ngày nay ủng hộ quan điểm của Mạnh Tử và bổ sung những thông tin còn thiếu cho quan điểm này. Khi chúng ta thấy ai đó đau khổ, hệ mạch nơ-ron tương ứng phản xạ vào trí não chúng ta 1 dạng cộng hưởng nhờ thấu cảm đã được định sẵn và trở thành bước mở đầu cho sự thương cảm. Khi 1 đứa trẻ khóc, trí não của cha mẹ xuất hiện phản xạ tương tự và tự động khiến họ làm điều gì đó để dỗ dành con.
Cơ chế suy nghĩ và hành động nhân ái hình thành ở chúng ta ngay từ khi sinh ra. Theo bản năng, chúng ta muốn giúp đỡ 1 đứa trẻ đang kêu khóc trong sự sợ hãi và tự nhiên muốn ôm 1 đứa bé tươi cười. Những động lực tình cảm như vậy rất mạnh mẽ, khơi dậy trong chúng ta những phản ứng mang tính tức thời và không tính toán. Hiện tượng xuyên suốt từ thấu cảm đến hành động như vậy diễn ra hoàn toàn vô thức và để lại dấu ấn ở hệ mạch nơ-ron thần kinh dành riêng cho chuỗi sự kiện này.
Trở lại với tình huống khó xử của câu hỏi: "Tại sao không phải lúc nào ta cũng giúp đỡ?" trong khi não người có 1 hệ thống được cấu tạo để giúp ta thấu hiểu nỗi khổ của người khác và chuẩn bị cho chúng ta những hành động giúp đỡ họ. Có hiều đáp án khác nhau từ vô số những thí nghiệm về tâm lý học xã hội. Nhưng câu trả lời đơn giản nhất có thể là vì cuộc sống hiện đại đã cản trở điều đó. Phần lớn chúng ta liên hệ với nhau từ khoảng cách xa. Sự cách trở đó đồng nghĩa với việc chúng ta trải nghiệm sự thấu cảm có ý thức hơn là qua tính tức thời của sự lây nhiễm cảm xúc trực tiếp. Tệ hơn, chúng ta chỉ đơn giản thấy thông cảm, tức là chúng ta cảm thấy tiếc cho người đó nhưng không hề thử trải qua nỗi khổ như họ. Mối quan hệ cách biệt này làm suy yếu sự thôi thúc muốn giúp đỡ bẩm sinh trong mỗi chúng ta.
Preston và Frans de Waal đã lưu ý: "Ngày nay, trong kỷ nguyên của thư điện tử, truyền thông, sự di dời liên tục và các cộng đồng sống tách biệt, cán cân ngày càng nghiêng theo chiều hướng đi ngược lại nhận thức tự nhiên và chính xác về trạng thái cảm xúc của người khác, mà thiếu điều đó sự thấu cảm không thể xuất hiện." Những khoảng cách ảo và cách biệt xã hội trong thời đại ngày nay đã tạo ra dị tật trong cuộc sống con người, nhưng đó lại là thứ chúng ta lấy làm quy tắc. Sự cách biệt này chặn mất tiếng nói của sự thấu cảm, do đó, làm suy yếu tính vị tha.
Từ lâu, người ta đã lý luận rằng, bản chất của con người là biết yêu thương và đồng cảm, dù có đôi lúc bần tiện, nhưng vô số những chuyện tồi tệ trong suốt chiều dài lịch sử đã phủ nhận điều này. Trong khi đó, khoa học tìm được rất ít bằng chứng ủng hộ điều đó. Tuy nhiên, hãy thử mường tượng về khả năng xảy ra những hành vi phản xã hội, từ sự thô lỗ hay gian dối cho đến hiếp dâm hay giết người. Thử để con số đó dưới dấu gạch ngang của 1 phân số. Sau đó, đặt lên trên tử số của những hành vi phản xã hội đang thật sự diễn ra. Tỷ lệ hành vi ti tiện thật sự diễn ra so với khả năng xảy ra gần như luôn bằng 1. Và nếu thay đổi, đặt giá trị trên tử số là số hành vi nhân ái được thể hiện trong 1 ngày, tỷ lệ giữa cái tốt và cái xấu sẽ luôn ở mức tích cực.
Jerome Kagan, giáo sư giảng dạy tại đại học Harvard đã đề xuất bài tập tâm lý trên để chứng minh 1 điều giản đơn trong bản chất của con người: Hành vi tốt luôn nhiều hơn hành vi xấu. Ông nhận xét: "Mặc dù con người thừa hưởng 1 xu hướng sinh học cho phép họ tỏ ra giận dữ, ghen tị, ích kỷ, đố kị, thô lỗ, hiếu chiến và bạo lực, nhưng họ cũng thừa hưởng 1 xu hướng sinh học còn mạnh mẽ hơn - xu hướng của lòng tốt, lòng trắc ẩn, sự chung sức, yêu thương và che chở, đặc biệt đối với những người cần giúp đỡ." Ông nói thêm: "Cảm quan đạo đức nội tại này là 1 đặc tính sinh học của loài người."
Với việc khám phá ra hệ thống thần kinh của chúng ta thiên về xu hướng để sự thấu cảm phục vụ cho lòng trắc ẩn, thần kinh học đã mở ra cho triết học 1 cơ chế giải thích tính phổ quát của động lực mang tính vị tha. Thay vì cố gắng biện hộ cho những hành vi ích kỷ, các triết gia có thể suy ngẫm về câu hỏi hóc búa khi vô số lần hành vi xấu phải nhường bước cho cái thiện.
Bookmarks