+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2
1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 16

Ðề tài: Thám tử rời sân khấu – Agatha Christie

  1. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26

    Thám tử rời sân khấu – Agatha Christie

    Share/Bookmark



    Chương 01

    "Tôi đã làm việc đó". Tại sao những lời đơn giản ấy lại gây cho ta nỗi xúc động lớn? Đó là câu hỏi tôi tự đặt lúc ngồi ở góc toa tàu, nhìn phong cảnh đơn điệu xứ Essex lướt qua cửa sổ.
    Bao nhiêu thời gian đã trôi qua từ cái ngày tôi cũng đi trên con đường này! Bi thương trong cuộc chiến tranh mà tôi vẫn cho là lớn nhất, mặc dù sau này cuộc đại chiến thứ hai tỏ ra dữ dội hơn nhiều, hồi đó năm 1916, tôi tin mình đã là người từng trải! Thực ra, tôi đâu có hiểu bấy giờ cuộc đời tôi mới chỉ bắt đầu.
    Hồi ấy, tôi đi mà chưa hiểu rằng sắp gặp một người sẽ có ảnh hưởng lớn đến đời tôi. Tôi đang đi tới nhà một người bạn, John Cavendish, mẹ anh ta vừa tái giá và có một ngôi nhà nghỉ ở nông thôn đặt tên là "Styles Court". Tôi hình dung lại lần đi ấy, niềm vui sắp được nối lại liên hệ với bạn cũ, không hề nghĩ là mình sắp bị cuốn vào những rắc rối của một vụ án bí ẩn.
    Vậy mà chính tại Styles mà tôi đã gặp lại Hercule Poirot, con người bé nhỏ kỳ cục mà trước đó tôi đã làm quen ở Bỉ. Tôi còn nhớ mình kinh ngạc chừng nào khi thấy ông tập tễnh đi ngoài phố làng, bộ mặt vẫn điểm bộ ria đặc biệt.
    Hercule Poirot! Từ hồi ấy, ông đã là bạn thân nhất của tôi, và chính trong khi cùng ông đuổi bắt một tên sát nhân, mà tôi đã gặp người con gái sẽ trở thành vợ tôi: người dịu hiền nhất, chung thủy nhất, người bạn đời tuyệt vời nhất mà một trang nam nhi có thể mơ ước. Giờ đây nàng đã yên nghỉ trên đất Argentina, để lại tôi thành người cô đơn, buồn chán.
    Ôi! Nếu được quay lại quá khứ, bắt đầu lại cuộc đời! Nếu nhờ phép thần kỳ nào tôi được trở lại cái năm 1916, đang đi tới Styles lần đầu!... Từ đó đến nay, biết bao thay đổi! Đã vắng đi bao khuôn mặt thân quen! Chính ngôi nhà đã bị bán đi. John Cavedish đã mất, nhưng bà vợ Mary còn sống, ở đâu đó trong vùng Devon. Laurence cùng vợ và các con sang sống ở Nam Phi. Vâng, thay đổi, thay đổi nhiều.
    Chỉ có một điều, kỳ thay, giống lần trước, tôi trở lại Styles để gặp Hercule Poirot.
    Mấy hôm trước, tôi rất ngạc nhiên nhận được thư của ông, để địa chỉ từ Styles, vì đã hơn một năm rồi tôi không gặp ông. Lần gặp cuối đó, tôi đã rất buồn phiền, vì Poirot nay đã nhiều tuổi, đi lại khó khăn vì bệnh viêm khớp. Ông đã sang Ai Cập, hy vọng chữa được bệnh, nhưng theo thư ông viết, tình hình vẫn thế. Tuy vậy, giọng thư ông vẫn còn hăm hở...
    ... Anh có lạ không, khi biết tôi viết thư này từ đâu? Nó gợi cho anh nhiều kỷ niệm, phải không? Vâng, tôi đang ở Styles. Anh hình dung được không, bây giờ ở đó là một nhà trọ cho các gia đình, do một ông cựu đại tá làm chủ, tất nhiên vợ ông ta là tay hòm chìa khóa. Bà ta rất quán xuyến mọi việc, phải cái nói hơi nhiều, làm ông đại tá cũng phát ngán. Tôi mà ở vào địa vị ông ta, tôi sẽ không để như thế!
    Tôi đọc quảng cáo họ đăng trên báo, và thế là tôi bỗng muốn trở lại cái nơi tôi đã ở đầu tiên khi tới nuớc Anh. Ở tuổi tôi, ai cũng thích sống lại quá khứ.
    Ngoài ra, tôi gặp ở đây một vị huân tước là bạn ông chủ của con gái anh. Ông ta mời gia đình Franklin đến đây ở trong mùa hè. Bây giờ đến lượt tôi lại mời anh tới, thế là gặp nhau cả, rất vui. Vậy thì, anh Hastings thân mến, hãy mau mau tới đi. Tôi đã giữ cho anh một phòng có cả nhà tắm, vì anh biết không, bây giờ Styles Court cũng hiện đại hóa lắm rồi, và đã mặc cả tiền thuê với giá hời nhất.
    Vợ chồng Franklin và Judith con gái anh tới đây đã đươc vài ngày. Mọi việc đã thu xếp xong, vậy anh chớ tìm cách thoái thác.
    Thân ái
    Hercule Poirot
    Lời mời thật hấp dẫn, và tôi làm ngay theo lời ông bạn già. Tôi không vướng bận gì. Hai con trai, một đứa đang phục vụ trong Hải quân; đứa kia đã có vợ, lo trông nom cái trang trại của chúng tôi ở Argentina. Một con gái, tên là Grace, lấy chồng là quân nhân thì ở Ấn Độ... con gái út là Judith, chính là đứa tôi thầm cưng nhất, mặc dù chưa hiểu hết tính nết nó. Nó là một đứa con gái bí ẩn, ít nói, quen nghĩ một mình, không hỏi ý kiến ai. Tôi thường buồn phiền vì thái độ của nó, song vợ tôi hiểu nó hơn và bênh che nó, cho rằng không phải Judith không tin cậy, mà chỉ là tính rụt rè của tuổi mới lớn. Tuy nhiên đôi khi bà ấy cũng lo, bà ấy nói tình cảm của Judith quá tập trung, cô đặc, lại ít thổ lộ, nên có thể nguy hiểm. Đôi lúc nó có những cơn mơ màng và cố chấp một cách chua chát. Đổi lại, nó là đứa thông minh nhất trong mấy chị em, nên chúng tôi rất đồng tình để nó học lên tới đại học. Năm ngoái Judith đã tốt nghiệp và nhận làm trợ tá cho một bác sĩ đang chuyên nghiên cứu về những căn bệnh vùng nhiệt đới.
    Đôi lúc tôi lo ngại tự hỏi Judith say mê làm việc và tận tụy với ông thầy đến thế phải chăng là có tình cảm riêng tư gì không. Tuy nhiên, thấy quan hệ nghiêm túc giữa thầy và trò, tôi yên tâm. Tôi cho là Judith rất yêu tôi, song ít khi để lộ, thường lại cố tình coi thường những suy nghĩ của tôi mà nó cho là tình cảm và cổ hủ. Thật lòng, tôi có hơi ngại về nó.
    Đang nghĩ ngơi lan man thì tàu dừng lại ở ga Styles. À, nơi đây dù sao thì cũng không thay đổi. Thời gian trôi qua, nhưng cái ga xép này vẫn đứng trơ trọi giữa đồng không mông quạnh.
    Nhưng khi tắc-xi đưa tôi qua làng, tôi mới nhận ra dấu ấn của thời gian. Gần như không nhận ra được thị trấn cũ nữa. Giờ đây đã có thêm trạm xăng, rạp chiếu bóng, hai khách sạn và những dãy nhà ở cho thuê rẻ tiền.
    Xe đi qua cổng nhà Styles Court. Đến đây, đột nhiên tôi lại thấy mình trở lại cái thời xa xưa. Khu vườn vẫn y như cũ, có điều lối đi chính kém được sửa sang, nhiều cỏ dại. Đến lối ngoặt thì nhìn thấy tòa nhà. Bên ngoài không có gì thay đổi, mặt tiền và cửa sổ đã lâu không được sơn phết lại.
    Hồi trước tôi đến, cách đây đã nhiều năm, có một bóng phụ nữ đang cúi xuống các bồn hoa. Lần này cũng vậy, và dường như trái tim tôi ngừng đập. Nhưng người phụ nữ đã đứng lên và tiến về phía tôi. Tôi thầm cười trong bụng, vì giữa cô Evelyn Howard khỏe mạnh trước kia và người đàn bà lúc này đang đứng trước mặt tôi, là cả một sự trái ngược. Bà này đứng tuổi, dáng cò lả, tóc xoắn dày và trắng toát, đôi mắt lạnh lùng khác hẳn với thái độ niềm nở mà tôi cho là hơi thái quá. Bà ta vồn vã hỏi:
    - Ông là đại úy Hastings có phải không? Trời ơi! Tay tôi đầy đất thế này! Rất mừng là ông đã tới. Chúng tôi nghe nói mãi về ông! Xin giới thiệu: Tôi là bà Luttrell. Vợ chồng tôi chẳng biết tại sao tậu cái nhà này, và bây giờ đang cố thu hiệu quả. Tôi có bao giờ nghĩ lại trở thành chủ trọ! Nhưng xin đại úy nhớ cho rằng kinh doanh là kinh doanh, nên mọi thứ dịch vụ đều phải trả tiền...
    Cả hai chúng tôi đều cười, coi như câu nói đùa dí dỏm, nhưng rồi tôi nghĩ điều bà Luttrell nói có thể trở thành sự thật. Phía sau vẻ hồ hởi của chủ nhà, có thấy dấu hiệu của sự tính toán sòng phẳng. Tôi hỏi thăm tin tức về ông bạn.
    - A! Ông Poirot tội nghiệp! Ông ấy mong ông tới lắm.
    Bà tháo đôi găng lao động, cùng đi với tôi vào nhà, vừa đi vừa nói:
    - Còn cô con gái của ông nữa, sao mà dễ thương! Ở đây ai cũng khen cô ấy. Nhưng này, ông ạ tôi là người cổ, nên cứ thấy bắt một cô gái trẻ như thế suốt ngày ngó nghiêng vào kính hiển vi, là có tội đấy. Phải để cho cô ấy đi chơi, đi nhảy, kết bạn chứ.
    - Con bé lúc này đang ở đâu?
    Bà Luttrell nhăn mặt:
    - Tội nghiệp! Vẫn ru rú trong cái phòng tôi cho bác sĩ Franklin thuê và rồi ông ấy biến thành xưởng thí nghiệm. Ở đó có đủ nào thỏ, nào chuột bạch... Nói thật, tôi không ưa cái thứ khoa học ấy... à, ông nhà tôi đây rồi.
    Đại tá Luttrell vừa xuất hiện. Người cao lớn nhưng gầy, mặt nhợt nhạt như xác chết, song đôi mắt xanh trông rất hiền. Ông ta xem chừng có tính nóng nảy và cái tật vừa nói vừa giật giật ria mép. Bà Luttrell nói:
    - Ông George ơi, đại úy Hastings đã tới.
    Ông đại tá chìa tay:
    - Ông đến bằng chuyến tàu... hờ... năm giờ bốn mươi, hả?
    - Còn đến bằng chuyến nào khác? - Bà vợ nói như gắt - Vả lại, chuyến nào thì can gì? Ông hãy chỉ phòng cho ông ấy. Rồi có lẽ ông ấy muốn gặp ông Poirot. Hay là... ông muốn dùng trà cái đã, ông Hastings?
    Tôi nói không dùng trà và muốn tới chào bạn ngay.
    - Đồng ý, đại tá nói. Vậy ông theo tôi... À, này bà Daisy, đã mang hành lý của đại úy lên chưa?
    - Đó là việc của ông chứ - bà Luttrell cau có. Tôi còn bận làm vườn đâu có ba đầu sáu tay.
    Tôi cùng ông bước lên bậc tam cấp. Ngay ngưỡng cửa, gặp một người đi ra, tóc trắng, dáng người mảnh dẻ, bộ mặt trẻ thơ với cái nhìn ngơ ngác. Người đó đi hơi tập tễnh, tay cầm chiếc ống nhòm.
    - Có một hoặc hai... tổ chim... gần cây sung - anh ta nói, giọng hơi lắp.
    Vào tới sảnh. Luttrell bảo tôi:
    - Đấy là Norton. Cậu ta rất tốt, rất mê chim và hoa.
    Trong phòng chờ, một người cao đang đứng cạnh máy điện thoại.
    - Tôi muốn treo cổ, xé xác tất cả bọn thầu thoán chết tiệt! Ông ta hầm hừ. Chúng chẳng đáng được gì nên trò.
    Sự phẫn nộ quá đáng đó làm chúng tôi phải bật cười. Lập tức tôi có cảm tình với ông ta. Chắc đã quá ngũ tuần, nhưng trông còn đẹp mã. Mặt rám nắng chứng tỏ sống nhiều ở ngoài trời. Mặt khác, nhác nhìn đã thấy ông ta thuộc típ người ngày càng hiếm: loại người Anh chính gốc, bộc trực, biết tỏ uy quyền, cho nên tôi không ngạc nhiên khi đại tá Luttrell giới thiệu đó là ngài William Boyd Carrington. Tôi biết ông đã từng là thống đốc một bang ở Ấn Độ, nổi tiếng thiện xạ, hay đi săn thú rừng. Một trong những con người mà buồn thay, nước Anh ở thời kỳ suy thoái này không sản sinh ra nữa.
    Ông ta cười và kêu lên:
    - A! Rất mừng được thấy "ông bạn Hastings" bằng xương bằng thịt. Ông bạn già người Bỉ luôn nhắc tới ông. Với lại, ở đây còn cô con gái mỹ miều của ông nữa...
    Tôi mỉm cười đáp lại:
    - Tôi chắc con Judith ít khi nhắc đến tôi.
    - Tất nhiên là không. Con gái hiện đại mà. Thời nay các cô gái dường như ngượng ngùng khi phải nhận mình cũng có cha có mẹ.
    - Quả đúng như vậy - tôi thở dài. Thực tế là bố mẹ bị coi là xuống cấp hết.
    Boyd Carrington lại cười:
    - Tôi không biết ông cảm giác thế nào, vì tiếc thay tôi không có con. Judith của ông là một cô gái rất xinh, nhưng cựu kỳ tự phụ. Đáng ngại đấy.
    Ông ta quay trở lại với điện thoại:
    - Ông Luttrell hy vọng là ông không phiền, tôi phải xạc cho tổng đài một trận. Nó làm tôi khó chịu quá, phải đợi hoài.
    - Vâng, ông cứ làm, tốt thôi.
    Tôi theo ông đại tá lên cầu thang, rẽ sang trái, dừng trước một phòng tận cùng hành lang. Poirot đã giữ cho tôi căn phòng trước đây tôi đã ở.
    Tuy nhiên, đã có nhiều thay đổi. Suốt dọc hành lang, các cửa đều mở, và tôi nhận thấy các phòng rộng trước kia đã được ngăn thành nhiều phòng nhỏ hơn. Song phòng của tôi trước đây vốn không rộnglắm, vẫn như cũ. Tuy nhiên ở một góc, có thêm một phòng tắm nhỏ xíu. Bàn ghế toàn kiểu mới, rẻ tiền, làm tôi hơi thất vọng. Tôi vẫn thích bày biện theo lối cổ, hợp hơn với chính kiến trúc của ngôi nhà.
    Hành lý của tôi được mang lên. Ông đại tá cho biết phòng của Poirot ở ngay đối diện phòng tôi, ông sắn định đưa tôi sang thì có tiếng gọi giật giọng dưới nhà: "George!" Ông đại tá giật nảy mình, đưa tay lên miệng.
    - Tôi... tôi... như vậy tạm ổn rồi chứ? Cần gì, ông cứ bấm chuông.
    - George!
    - Tôi xuống, tôi xuống đây, bà nó ạ.
    Ông đi rồi, tôi hồi hộp băng qua hành lang, đến gõ cửa phòng Poirot.

    View more random threads same category:

    He Is So Special.........

  2. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 02

    Theo tôi, không có gì buồn hơn là sự suy thoái của tuổi già.
    Tội nghiệp ông bạn tôi. Tôi đã nhiều lần mô tả ông, nên bây giờ tôi chỉ kể những gì có thay đổi. Bị thấp khớp, Poirot chỉ đi lại được bằng xe lăn. Thân hình bầu bĩnh trước kia nay đã sọp hẳn, mặt mũi đầy nếp nhăn. Ria mép và tóc thì vẫn đen nhánh, trước kia tôi còn ngờ ngợ, nhưng nay thì nhìn thấy rõ là đen nhờ thuốc nhuộm. Có cảm tưởng là ông mang tóc giả. Duy đối mắt không thay đổi: vẫn sắc sảo, linh lợi như xưa. Và lúc này đôi mắt ấy đang thể hiện niềm xúc động rõ rệt:
    - A! Bạn Hastings, anh bạn Hastings...
    Tôi cúi xuống để ông nồng nhiệt ôm hôn. Ông tựa hẳn người lên lưng ghế, hơi nghiêng đầu ngắm tôi:
    - Vẫn thế. Lưng thẳng, vai vuông và tóc hoa râm, trông anh vẫn có thế lắm. Còn món đàn bà con gái? Họ vẫn ríu rít quanh anh chứ?
    - Ồ, Poirot, chả nhẽ anh vẫn nghĩ...
    - Không, tôi cho đó là một trắc nghiệm. Trắc nghiệm số một. Khi nào các cô gái trẻ tỏ ra lễ phép với anh, anh có thể tin rằng thế là hết. Đó là vị họ thương hại anh, họ nghĩ: "Thôi, ta cứ tử tế với các vị ấy, tuổi cao rồi, thật là buồn". Nhưng anh, anh Hastings, anh còn trẻ. Với anh, còn rất nhiều triển vọng...
    Tôi bật cười:
    - Poirot, ông nói quá rồi đấy. Thế còn ông, sức khỏe ra sao?
    Poirot nhăn mặt:
    - Tôi, thì thân tàn rồi. Không đi lại được, gần như liệt. Nhưng nhờ trời, tôi còn tự ăn được, không phải người bón. Còn những chuyện phải có người giúp như giúp trẻ: đi ngủ, thức dậy, mặc quần áo... thật buồn. Cũng may, hình hài thì thế, những trí óc vẫn tốt. Vẫn hoạt động được.
    - Và ông bằng lòng ẩn ở cái xó này? - Tôi hỏi.
    Ông nhún vai:
    - Tạm được. Tất nhiên, đây không phải là khách sạn Ritz. Cái phòng lúc đầu cho tôi thuê quá nhỏ, bàn ghế lại sơ sài. Tôi đổi sang phòng này, không phải trả thêm tiền. Còn về ăn uống, thì đúng là thực đơn Anh vào loại tồi tệ nhất.
    - Thế thì không hay rồi.
    - Nhưng tôi không kêu ca đâu nhé, anh nhớ điều đó.
    Tuy nhiên Poirot tiếp tục phàn nàn:
    - Lại còn cái tạm gọi là hiện đại hóa nữa chứ. Đúng là có phòng tắm với hàng loạt vòi nước. Nhưng từ tất cả những độ mạ kền sáng loáng ấy thì nước chảy ra thế nào? Khăn tắm thì mỏng tang...
    - Đúng là ngày xưa vẫn tốt hơn.
    - Nhưng không nên kêu ca, Poirot tiếp tục nói. Tôi sẵn lòng chịu đựng để theo đuổi việc lớn.
    Một ý nghĩ chợt lóe trong óc tôi:
    - Này ông Poirot, ông không.... không đến nỗi túng thiếu chứ? Sau chiến tranh, mọi thứ đều bị ảnh hưởng, cả tình hình kinh tế...
    Poirot vội xua tay để tôi yên tâm:
    - Không, không. Tôi vẫn thoải mái, còn giàu là đằng khác. Không phải vì tiết kiệm mà tôi đến đây.
    - Nếu vậy thì tốt. Có lẽ tôi hiểu ông cảm nghĩ gì. Người có tuổi có xu hướng muốn sống lại những ngày xưa cũ, tìm lại những cảm xúc cũ. Bản thân tôi không hăm hở trở lại đây lắm, song nó làm tôi sống lại biết bao hồi ức tưởng như đã quên. Tôi chắc ông cũng nghĩ thế.
    - Hoàn toàn không phải vậy. Đó là anh nói về anh. Chứ còn tôi, hồi đó tôi tới Styles này chẳng vui vẻ gì. Tôi bị thương, chỉ là một kẻ lánh nạn như bao người khác, xa gia đình, xa tổ quốc, chỉ sống nhờ sự cưu mang của một nước xa lạ. Lúc đó tôi không ngờ nước Anh lại trở thành nơi trú ngụ lâu dài, và tôi tìm thấy hạnh phúc ở đó.
    - Lâu ngày tôi quên mất chuyện đó. - Tôi thú nhận.
    - Thấy chưa. Anh hay suy bụng ta ra bụng người. Hastings hạnh phúc, vậy mọi người đều hạnh phúc.
    - Đâu, tôi có nghĩ thế đâu. Tôi cười và chống chế.
    - Mà sự thực, cũng đâu có thế. Anh rưng rưng nước mắt nhìn lại phía sau, thở dài: "Ôi, những ngày tươi đẹp! Hồi đó ta còn trẻ..." Nhưng thực ra lúc đó anh có sung sướng gì đâu. Anh cũng vừa bị thương, đang bực mình vì không được ở lại quân đội chiến đấu. Tinh thần anh suy sụp vì phải nằm thời gian dài trong trại an dưỡng. Đã thế anh lại gây thêm rắc rối vì phải lòng hai cô gái cùng một lúc.
    Tôi lại cười và hơi đỏ mặt:
    - Sao ông nhớ dai thế! Thế ông có nhớ lúc ấy ông nói gì với tôi? Rằng cả hai cô ấy không hợp với tôi, và tôi phải can đảm lên!
    Về sau, cả Poirot và tôi lại có dịp gặp nhau tại Pháp. Và cũng tại nước Pháp, tôi đã gặp người phụ nữ duy nhất của đời tôi...
    Poirot vỗ nhẹ cánh tay tôi:
    - Tôi biết, Hastings, tôi biết. Vết thương lòng hãy còn mới, nhưng không nên cả nghĩ. Hãy nhìn về phía trước.
    Tôi tỏ vẻ nản:
    - Nhìn về phía trước? Nhưng trước mặt tôi thì có cái gì?
    - Trước hết, anh có một nhiệm vụ cần hoàn thành.
    - Nhiệm vụ? Nhiệm vụ ở đâu?
    - Ở ngay đây.
    Tôi ngạc nhiên nhìn ông bạn. Poirot nói:
    - Lúc nãy, anh vừa hỏi tại sao tôi có mặt ở Styles. Và có lẽ anh không để ý là tôi tránh trả lời. Nhưng bây giờ tôi nói. Anh Hastings, tôi đến đây để truy bắt một tên giết người.
    Tôi tiếp tục nhìn ông, càng thêm lạ lẫm. Và thú thật, tôi thoáng có ý nghĩ là ông bạn bắt đầu nói lẫn. Cuối cùng tôi ấp úng:
    - Ông nói... nghiêm chỉnh?
    - Nghiêm chỉnh nhất đời. Nếu không tại sao tôi gọi anh đến? Chân tay tôi yếu rồi, nhưng óc tôi vẫn nguyên. Phương pháp của tôi, anh biết đấy, không bao giờ thay đổi. Chỉ cần ngồi yên trên ghế và suy nghĩ. Việc đó tôi vẫn làm được. Thực ra, đó là điều duy nhất tôi có thể làm lúc này. Còn các phần điều tra tích cực khác, tôi đã có anh, Hastings, người bạn vô giá.
    - Ông nói nghiêm chỉnh chứ? - Tôi hỏi lại.
    - Nhất định rồi. Tôi và anh lại cùng nhau phá án.
    Phải mất mấy giây tôi mới tin được là Poirot không đùa.
    Poirot mỉm cười nói tiếp:
    - Anh tin rồi chứ? Chắc thoạt đầu, anh cho là bộ óc tôi đã kém đi rồi?
    Tôi vội chối:
    - Không, không. Nhưng nơi này có vẻ như làm gì có tội ác...
    - Anh nghĩ vậy ư?
    - Tất nhiên, vì tôi chưa gặp hết mọi người.
    - Anh đã gặp những ai?
    - Mới gặp vợ chồng Luttrell, rồi một cậu tên là Norton - trông rất hiền lành - cuối cùng là Boyd Carrington, bề ngoài cũng dễ mến.
    Poirot gật đầu:
    - Thế thì, tôi xin nói điều gì: khi đã biết tất cả mọi người trong nhà này, anh vẫn thấy lời tôi nói vừa rồi là bí hiểm.
    - Còn những ai nữa?
    - Bác sĩ Franklin và vợ, cô Craven là y tá chăm nom bà Franklin - Judith con gái anh; một cô tên là Cole - chừng băm nhăm tuổi - cuối cùng là một anh chàng tên Allerton, có số đào hoa. Xin nói thêm: họ đều là những người dễ thương.
    - Và trong đó có một tên là sát thủ?
    - Một trong số ấy là kẻ giết người - Poirot tuyên bố nghiêm trang.
    - Nhưng làm sao... nghĩa là... làm sao ông biết vậy? - Tôi nói thều thào, vì vẫn chưa hết kinh ngạc.
    - Hãy bình tĩnh, Hastings. Và bắt đầu từ chỗ bắt đầu. Anh đưa tôi cái cặp để trên tủ kia. Tốt, cả chìa khóa nữa.
    Poirot mở chiếc cặp da, lấy ra một số mẩu báo cắt rời và một mớ giấy đánh máy:
    - Anh hãy đọc cái này. Trước mắt đừng quan tâm vội đến các bài cắt từ báo: đó chỉ là tường thuật một số vụ án khác nhau - mô tả hấp dẫ đấy, nhưng thường không chính xác. Anh hãy xem bản tóm tắt của tôi viết thì hơn.
    Tôi tò mò đọc ngay.
    "VỤ A: ETHERINGTON
    Leonard Etherington, nghiện rượu và ma túy, tính tình tàn bạo. Cô vợ trẻ và đẹp, rất khổ vì chồng. Etherington chết, có vẻ bị ngộ độc thức ăn. Khám xét tử thi thì là chết vì bị đầu độc bằng thạch tín. Cô vợ bị bắt, bị buộc tội giết chồng. Trước đó có quan hệ với một công chức trẻ, nhưng anh này đã trở sang Ấn Độ. Không có chứng cớ ngoại tình, nhưng mối liên hệ có vẻ thân thiết. Trên đường trở về Ấn Độ, anh chằng kia làm quen với một cô gái và quyết định đính hôn. Anh ta viết thư báo cho bà Etherington, nhưng không rõ bà này nhận được thư trước hay sau khi chồng chết. Bà ta khẳng định nhận được trước khi. Chứng cớ buộc tội bà phần lớn là gián tiếp, vì không còn biết nghi ngờ ai khác. Do ông chồng đã có tiếng tàn bạo, hay hành hạ vợ, nên đoàn bồi thẩm có vẻ cảm tình với bị cáo. Bà Etherington được miễn tố. Tuy nhiên, dư luận vẫn cho bà là thủ phạm. Bà bị người thân xa lánh, gặp nhiều khó khăn trong đời sống. Hai năm sau, chết vì uống thuốc ngủ quá liều. Kết quả điều tra coi là chết vì tai nạn.
    VỤ B: CÔ SHARPLES
    Là một bà gái già tàn tật, khổ sở vì bệnh, có cháu gái là Freda Clay trông nom. Cô Sharples chết do bị tiêm một mũi moóc-phin quá liều. Freda nhận là mình tiêm nhầm, và nói thấy bà cô đau đớn quá nên tiêm cho giảm đau. Cảnh sát thì cho là không nhầm mà cố tình. Tuy nhiên không đủ chứng cứ nên Freda Clay vô can.
    VỤ C: EDWARD RIGGS
    Công nhân nông nghiệp. Nghi vợ ngoại tình với Ben Graig, người ở trọ trong nhà. Cuối cùng người ta thấy cả đôi "gian phu dâm phụ" bị bắn chết bằng khẩu súng Riggs. Anh này tự đến nộp mình
    VỤ D: DEREK BRADLEY
    Anh này quan hệ với một cô gái, bị vợ phát hiện, dọa giết chết. Quả nhiên Bradley chết do uống bia bị bỏ thuốc độc. Người vợ bị bắt và hoàn toàn nhận tội, bị kết án.
    VỤ E: MATTHEW LITCHFIELD
    Là bố của bốn con gái, nhưng có tính độc đoán gia trưởng, khiến các con khổ sở. Một hôm, về đến cửa nhà, ông ta bị tấn công, giáng một cú vào đầu. Margaget, cô gái lớn, thú nhận mình đã giết cha để các em đỡ khổ. Litchfield để lại gia tài lớn. Margaget được coi như đã hành động một cách vô thức, được gửi vào trại trừng giới, ít lâu sau thì chết."
    Tôi đọc chăm chú, mỗi lúc một ngạc nhiên hơn. Cuốicùng, đặt tập giấy xuống, tôi ngước nhìn Poirot có ý ngầm hỏi.
    - Thế nào, anh bạn?
    Tôi thong thả đáp:
    - Vụ Bradley tôi có nhớ mang máng. Hồi đó tôi có theo dõi, còn nhớ cô vợ là người rất xinh đẹp.
    Poirot gật đầu.
    - Nhưng ông phải nói rõ hơn. Toàn bộ những vụ này có ý nghĩa gì?
    - Anh cứ nói quan điểm của anh trước.
    - Tôi vừa đọc tường thuật năm vụ án khác nhau, trong những tầng lớp xã hội khác nhau. Song không thấy giữa chúng có gì giống nhau. Một vụ là do ghen tuông; vụ kia là vợ bị hành hạ tàn bạo nên giết chồng; vụ thứ ba có động cơ là tiền bạc; vụ thứ tư thì có vẻ như nhằm mục đích tốt, vì thủ phạm tự ra đầu thú, còn vụ thứ năm thì có thể là đương sự say rượu.
    Tôi ngừng lại một lát, rồi ngập ngừng hỏi:
    - Giữa những vụ ấy, có điều gì giống nhau mà tôi chưa nhận ra?
    - Không có gì hết. Anh đã thấy rất rõ. Anh chỉ có thể nhận xét một chi tiết phụ duy nhất, là trong từng ấy việc ai là thủ phạm đều rõ không hề có sự phân vân thực sự.
    - Anh nói rõ xem nào.
    - Ví dụ, bà Etherington được miễn tố, nhưng mọi người đều tin bà ta là thủ phạm. Freda Clay không bị kết án, nhưng không ai nghĩ còn thủ phạm nào khác. Riggs khai không nhớ mình có giết vợ và nhân tình không, nhưng ngoài hắn ra, còn ai vào đấy nữa. Còn Margaret Litchfield, cô này nhận hết. Anh thấy không, trong mỗi vụ chỉ có một kẻ tình nghi duy nhất.
    Tôi cau mày suy nghĩ:
    - Đúng vậy. Song tôi vẫn chưa hiểu từ đó ông rút ra kết luận gì.
    - Hãy khoan. Tôi đi đến một điểm mà anh chưa biết. Giả sử ở mỗi vụ, có một sự việc từ bên ngoài, chung cho tất cả.
    - Ông định nói sao?
    - Tôi trình bày vấn đề như thế này nhé. Có một người nào đó ta gọi là X. Trong tất cả các vụ trên, bề ngoài X không có lý do gì để giết nạn nhân. Và nếu những thông tin tôi có là đúng, thì lúc xảy ra vụ án nọ, anh ta ở cách đó tới hai trăm năm mươi cây số. Tuy nhiên tôi phải nói là hắn có liên quan mật thiết với Etherington. Hắn lại có một thời gian ở cùng làng với Riggs. Hắn cũng quen biết bà Bradley và tôi có một tấm ảnh - chụp ngoài phố - hắn cùng đứng với Freda Clay. Cuối cùng, lúc Litchfield bị giết, hắn lại đang có mặt gần đó. Anh thấy thế có lạ không.
    Tôi trố mắt nhìn Poirot, và nói:
    - Thế thì hơi quá. Ta có thể chấp nhận có sự trùng hợp trong hai vụ - dđến ba là cùng - nhưng những năm vụ, thì khó nuốt quá. Dù vô lý thế nào, chắc phải có mối liên hệ gì giữa năm vụ đó.
    - Thế là anh đã đi tới kết luận giống tôi.
    - Có nghĩa chính tên X bí ẩn đó là thủ phạm.
    - Và bây giờ, tôi xin báo với anh rằng X đang ở trong nhà này.
    - Ở Styles này?
    - Ở Styles. Từ đó ta suy diễn ra điều gì?
    Tôi đã đoán trước được điều Poirot sắp nói. Ông nghiêm nghị tiếp:
    - Phải, chẳng bao lâu nữa. Ở đây lại sẽ có người bị giết.
    He Is So Special.........

  3. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 03
    Một lúc lâu tôi chỉ nhìn Poirot, không nói một lời nào, vì sửng sốt cao độ. Cuối cùng mới cất nên lời:
    - Ồ không! Ông phải ngăn chặn chuyện ấy.
    Ông nhìn tôi một cách thân mến.
    - Anh biết không, tôi rất xúc động vì anh đã đặt niềm tin vào tôi. Tuy nhiên, e rằng trong tình hình này lòng tin ấy không được đền đáp.
    - Ông đừng nói lung tung. Ông thừa sức ngăn chặn tội ác.
    - Hãy nghĩ mà xem, Poirit nói, nghiêm trang. Bắt một tên tội phạm thì được. Nhưng làm sao ngăn được tội ác?
    - Ờ hờ... ông... ông... nếu ông biết trước...
    Tôi ngừng bặt, thấy quả thực khó nói.
    - Thấy chưa? Không đơn giản như ta tưởng. Có ba phương pháp. Thứ nhất là cảnh báo trước người nào có thể là nạn nhân. Việc này không phải lúc nào cũng có kết quả. Vì rất khó làm cho người đó tin mình đang bị đe dọa, nhất là khi mối họa đó lại từ một người rất gần gũi, thân thiết. Họ sẽ phản ứng lại và không tin. Cách thứ hai là cảnh cáo tên sát thủ, bằng cách ám chỉ "Tôi biết anh định làm gì rồi, nếu người này người nọ mà chết, tôi sẽ tố cáo". Cách này có thể có hiệu quả, mà cũng có thể thất bại. Vì thường thì tội phạm rất chủ quan, hắn cho mình đã chuẩn bị chu đáo, đánh lạc hướng cảnh sát... Tóm lại, hắn vẫn thi hành thủ đoạn, và ta chỉ có thể bắt hắn sau khi hắn đã hoàn thành tội ác.
    Ngừng một lát, Poirot nói tiếp:
    - Trong đời, tôi đã hai lần cảnh cáo một tên tội phạm: một lần ở Ai Cập, một lần ở nơi khác. Cả hai lần, hắn đều không từ bỏ ý định... ở đây có thể cũng thế chăng...
    - Còn phương pháp thứ ba?
    - Phải. Nhưng cách này đòi hỏi cực ký khéo léo. Phải xác định thật rõ hắn sẽ phạm tội lúc nào và ở đâu, để sẵn sàng bắt quả tang, không phải sau khi hắn làm bậy mà đúng lúc hắn sắp sửa bắt đầu. Việc ấy rất khó, không ai dám bảo đảm kết quả. Có thể tôi hay tự đánh giá cao, nhưng không cao đến mức ấy.
    - Ở đây, ông định vận dụng phương pháp nào?
    - Có lẻ cả ba. Hiện nay cách thứ nhất là khó hơn cả.
    - Tôi cứ tưởng ngược lại, cách đó dễ nhất.
    - Với điều kiện phải biết ai là nạn nhân. Mà anh không hiểu là tôi chưa biết ai bị nhắm sao?
    - Sao?
    Tôi đã thốt lên câu hỏi ấy một cách không suy nghĩ. Tiếp đó, tôi hiểu việc đó không dễ dàng. Chắc chắn phải có mối liên quan giữa năm vụ án tôi vừa đọc nhưng bản chất mối liên hệ đó là gì thì chúng tôi chưa biết. Động cơ không xuất hiện rõ. Như vậy, làm sao biết ai đang bị đe dọa?
    Poirot gật đầu khi biết tôi đã hiểu cái khó của tình hình.
    Tôi hỏi tiếp:
    - Vậy đến nay, ông chưa tìm thấy mối liên quan giữa các vụ án?
    - Chưa.
    Tôi suy nghĩ. Ngoài động cơ tiền bạc, có thể đây là một vụ báo thù nào đó chăng? Tôi nhớ trước đây đã đọc một loạt vụ giết người có vẻ như không có động cơ. Sau đó người ta đã phát hiện tất cả những người bị giết đã tham gia một đoàn bồi thẩm, đoàn bồi thẩm này đã đồng thanh kết tội một người, nên người này lần lượt trừ khử họ để trả thù. Có lẽ trường hợp này giống như vậy chăng? Song tôi chỉ nghĩ thế thôi, không nói ra, mà nói:
    - Bây giờ xin hỏi, tên X bí ẩn của ông là ai?
    Poirot lắc đầu quầy quậy:
    - A, điều này thì tôi không nói.
    - Tại sao?
    Một ánh tinhn quái lóe lên trong đôi mắt thám tử:
    - Tại vì, đánh chết anh vẫn là chàng Hastings ấy, với bộ mặt lộ liễu của anh.Tôi nói ra để rồi anh cứ nhìn hắn chòng chọc, lộ ra hết.
    - Ông phải hiểu là khi cần, tôi cũng biết giả bộ chứ.
    - Lúc nào anh giả bộ, lại càng tệ hơn. Không, tôi không nói đâu, phải giữ bí mật. Khi nào cần ta sẽ ra tay.
    - Ông thật là...
    Tôi không kịp nói hết, vì có tiếng gõ cửa.
    - Cứ vào! Poirot nói.
    Judith, con gái tôi, bước vào. Judith người cao, mặt ngẩng lên kiêu hãnh. Tôi thường có cảm giác nó tỏa ra hào quang của một nhân vật bi kịch.
    - Chào ba.
    Nó mỉm cười, nhưng không chạy đến ôm hôn tôi, nó không quen kiểu cách ấy. Nụ cười của nó cũng nhợt nhạt, hơi gượng gạo. Dù nó thiếu sự hồn nhiên tự phát, tôi vẫn thấy là nó mừng được gặp tôi.
    - Ừ, ba... ba đây - tôi lúng túng.
    Tôi cảm thấy mình thiếu tự nhiên, như mỗi lần tiếp xúc với giới trẻ.
    - Con rất thích ba đến đây, Judith nói.
    - Tôi đang nói về chuyện ăn uống ở Styles, Poirot nói dối một cách không e ngại.
    - Ăn uống ở đây tồi lắm sao? - Con gái tôi hỏi.
    - Lẽ ra cháu không nên hỏi thế. Chả lẽ cả ngày cháu chỉ nghĩ đến ống nghiệm và kính hiển vi? Tay cháu vẫn còn dính mêtilen xanh lè kìa. Chồng cháu sẽ không thích thú gì nếu cháu không quan tâm đến dạ dày anh ấy. Đàn ông mà...
    - Nhiều cái chắc là cháu không lấy chồng.
    - Có, có phải lấy chồng chứ. Nếu không, cháu cho rằng Chúa sinh ra cháu để làm gì?
    - Để làm nhiều việc khác.
    - Trước hết là để lấy chồng.
    - Thôi được. Vậy bác kiếm cho cháu một ông chồng ngoan ngoãn, cháu sẽ chăm sóc dạ dày ông ấy cẩn thận.
    Poirot nhìn tôi, nói:
    - Cô bé giễu tôi đấy. Nhưng rồi một ngày kia, cháu sẽ thấy những gì các cụ xưa nói là đúng.
    Lại có tiếng gõ cửa. Lần này là bác sĩ Franklin. Người cao và khô thẳng, mặt gân guốc, tóc vàng - hung, mắt xanh khoảng băn lăm tuổi. Là người lơ đễnh nhất mà tôi từng thấy: ông ta đi vấp lung tung vào những thứ quanh mình và vừa vào đã vướng phải chiếc màn gần ghế của Poirot, phải lúng búng xin lỗi. Tôi cố nhịn cười, nhưng Judith thì vẫn nghiêm chỉnh, có vẻ nó đã quen với chuyện đó. Nó bình thản nói:
    - Ông còn nhớ ba tôi không?
    Bác sĩ Franklin giật mình, hấp háy đôi mắt nhìn tôi rồi chìa tay:
    - Nhớ, nhớ. Tôi đã nghe nói ông sẽ tới.
    Ông ta quay sang Judith:
    - Này cô, ta có bắt buộc phải thay quần áo không? Nếu không, ngay sau bữa ăn, ta có thể tiếp tục công việc...
    - Không, Judith đáp. Tôi muốn nói chuyện với ba tôi.
    - Ồ! Thế thì được.
    Ông ta thoáng mỉm cười xin lỗi. Một nụ cười dụt dè của trẻ thơ.
    - Rất tiếc. Tôi bù đầu vài thí nghiệm, sinh ra ích kỷ. Xin lỗi.
    Đồng hồ điểm giờ. Franklin ngước nhìn:
    - Chết thật! Muộn thế rồi ư? Lại sắp gặp rắc rối: Tôi đã hứa đọc sách cho Barbara trước bữa ăn.
    Ông lại mỉm cười lần nữa rồi vội vã đi ra, và lại vấp vào khuôn cửa.
    - Bà Franklin thế nào? Tôi hỏi.
    - Vẫn thế. - Judith đáp.
    - Thật buồn cho bà ấy.
    - Với một bác sĩ, điều ấy càng khổ - con gái tôi nói. Thầy thuốc ưa những người khỏe mạnh.
    Tôi thở dài:
    - Lớp trẻ bây giờ tàn ác quá.
    Con gái tôi lạnh lùng đáp lại:
    - Con chỉ nói lên một sự thật.
    Poirot can:
    - Tuy nhiên, ông thầy thuốc này đang vội về đọc sách cho vợ nghe.
    - Thật buồn cười, Judith nói. Việc ấy để cô ý tá làm cũng được. Phần cháu, rất ghét phải nhờ người đọc hộ.
    - Ô hay, tôi nói, mỗi người mỗi tính.
    - Vợ ông Flankin là một người đàn bà ngớ ngẩn, Judith nói.
    - À, cháu ơi, điều ấy thì bác không đồng ý - Poirot nói.
    - Bà ấy toàn đọc những tiểu thuyết rẻ tiền, không quan tâm gì công việc của chồng, không theo dõi thời sự. Chỉ biết kêu ca phàn nàn suốt ngày về sức khỏe.
    - Dù sao bác bác cho rằng bà ấy vẫn dùng đầu óc suy nghĩ mà cháu không hề biết, Poirot nói.
    - Bà ấy đúng là phụ nữ, hay tỉ tê, nũng nịu. Bác Hercule ơi, bác quan niệm là phụ nữa phải thế chứ gì.
    - Không phải thế - tôi nói. Bác ấy thích phụ nữ cao lớn, vạm vỡ. Quốc tịch Nga càng tốt.
    - Hastings, anh lộ bí mật của tôi đấy nhé! Judith ạ, ba cháu lại thích phụ nữ có tóc màu gụ. Chính vì thế mà ông ấy bị thất tình vài lần đấy.
    Judith nhìn chúng tôi, cười độ lượng:
    - Bác và ba cháu, thật buồn cười!
    Cháu đi rồi, tôi đứng lên, nói:
    - Thôi, tôi phải đi dỡ hành lý và tắm một cái trước khi ăn.
    Poirot thò tay bấm chuông. Một phút sau, anh hầu hiện ra. Tôi ngạc nhiên thấy anh ta là người mới hoàn toàn.
    - Thế George đâu?
    George vốn là người hầu đã theo phục vụ Poirot từ nhiều năm.
    - Bố cậu ta ốm, nên tôi cho cậu ta về. Song hy vọng cậu ta sẽ trở lại. Trong khi chờ đợi, đã có cậu Curtiss đây.
    Ông mỉm cười, nhìn người hầu mới. Curtiss cao và khỏe, song bộ mặt hơi quê mùa.
    Lúc ra đi, tôi để ý thấy Poirot cất cẩn thận các tài liệu lúc nãy vào cặp. Tôi bồi hồi qua hành lang để về phòng mình.
    He Is So Special.........

  4. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 4
    Tối đó, tôi xuống phòng ăn với cảm giác cuộc sống bỗng trở nên hư ảo. Trong lúc mặc quần áo, đôi lần tôi nghĩ chẳng lẽ Poirot đã bịa ra câu chuyện nọ. Nói cho cùng, bây giờ Poirot đã là một ông già, sức khỏe kém sút. Ông nói trí óc vẫn hoàn hảo, nhưng có thật như vậy không? Suốt đời ông chỉ làm việc truy lùng hung thủ, vậy nay tưởng tượng chỗ nào cũng có tội phạm. Phải ngồi yên một chỗ không hoạt động gì, buồn lắm. Vì thế mà ông nghĩ ra trò truy bắt này chăng? Ông chắp nối vài vụ án vặt rồi tưởng mình đã tìm ra ở đó một nhân vật mờ ám, một tên giết người điên loạn. Còn nghi ngờ gì nữa, mụ Etherington đã giết chồng, tên Riggs đã thủ tiêu vợ, đứa con gái đã cho bà cô uống liều moóc-phin chết người, mụ vợ ghen tuông đã dọa giết chồng rồi làm thật, và một cô gái khốn khổ khác đã giết cha rồi ra tự thú. Thực tế, những tội ác đó đã xảy ra đúng như nó phải vậy, không hơn.
    Tôi có thể đem ý kiến đó - mà tôi cho là hợp lẽ nhất - để đối lại với Poirot, và không tin lời ông nói rằng một vụ giết người nữa sắp xảy ra. Một lần nữa Styles lại là nơi xảy ra bi kịch. Thời gian sẽ chứng minh hoặc bác bỏ lời khẳng định đó. Nhưng nếu điều đó là thật thì chúng tôi có trách nhiệm phải ngăn ngừa. Tôi không biết kẻ giết người là ai, nhưng Poirot nói là biết.
    Càng nghĩ, tôi càng phiền lòng. Thực thà mà nói, bạn tôi lại chơi trò ấy với tôi ư! Muốn tôi cộng tác nhưng không tin cậy nói hết. Tại sao? Lý do ông đưa ra không thuyết phục. Tôi không hài lòng chút nào về lời nói rằng tôi có "bộ mặt lộ liễu". Tôi cũng biết giữ bí mật như ai chứ. Poirot vẫn có định kiến là bản chất tôi "lộ liễu" tôi nghĩ gì đều lộ ra nét mặt. Tất nhiên ông có giảm nhẹ lời nói xúc phạm ấy, cho rằng sở dĩ vậy là do tình tôi thẳng thắn, không biết trí trá. Song nếu tất cả những chuyện trên chỉ do ông tưởng tượng bày đặt ra, thì thái độ đó là dễ hiểu. Tôi chưa biết tính sao thì tiếng cồng báo giờ ăn vang lên. Tôi đi xuống, trí óc và con mắt thật cảnh giác, quyết tâm khám phá tên X bí ẩn kia là ai. Trước mắt hãy tạm coi những gì Poirot nói là đúng. Vậy trong ngôi nhà này, có một kẻ đã năm lần giết người và đang chuẩn bị giết lần nữa. Kẻ đó là ai?
    Trong phòng khách, trước giờ ăn, tôi được giới thiệu với cô Cole và thiếu tá Allerton. Cô Cole chừng băm ba băm tư còn rất đẹp, nhưng với thiếu tá Allerton thì tôi mất cảm tình ngay. Đó là một người đàn ông chừng bốn mươi, vai rộng, nước da rám nắng tuấn tú nhưng ăn nói vẻ bất cần, thở ra những lời đôi khi có ý nghĩa hai mặt. Dưới đôi mắt, có quầng thâm, thường là dấu hiệu của kẻ phóng đãng. Tôi xếp ngay anh ta vào loại người ăn chơi, rượu chè, cờ bạc, tán gái.
    Hình như đại tá Luttrell cũng không ưa gì anh ta lắm, còn Boyd Carrington giữ thái độ lạnh nhạt. Sự thực Allerton chỉ thành công với phái yếu. Bà Luttrell vui thích ra mặt khi anh ta nói những lời nịnh bợ trắng trợn. Tôi khá buồn nhận ra là cả Judith cũng có vẻ thích gần anh ta và tìm cách bắt chuyện, mà tính nết nó xưa nay đâu có thế. Thật lạ tại sao những tên đàn ông mạt hạng lại được phụ nữ đứng đắn ưa thích. Linh tính báo cho tôi biết ngay Allerton là một thằng tồi, hỏi mười người đàn ông thì chắc chín người đều đồng ý. Nhưng hỏi mười phụ nữ, thì chín - có khi cả mười - lại không nghĩ như vậy.
    Trong lúc mọi người ngồi vào bàn ăn, tôi đưa mắt nhìn một lượt, đánh giá mọi khả năng. Nếu Poirot nói đúng, nếu trí óc ông còn sáng suốt, thì một trong số những người này là kẻ giết người nguy hiểm. Tuy Poirot không nói rõ, tội đồ X phải là đàn ông. Ai trong số họ có vẻ có khả năng là tội phạm?
    Chắc chắn không phải là lão đại tá Luttrell già, vốn tính mềm yếu không dám quyết định điều gì.
    Cũng không phải Norton, cái anh chàng tôi gặp lúc nãy mới đến, luôn cầm ống nhòm trong tay. Anh ta trông dễ thương, mặc dù có vẻ là một con người vô bổ, thiếu sức sống. Đành rằng khối tên tội phạm chỉ là những kẻ bình thường không tầm cỡ và chính vì thế lại làm càn để tự khẳng định mình. Norton thuộc loại người ấy chăng, nhưng theo tôi, hắn lại mê chim và hoa, mà đã là người yêu thiên nhiên thì không thể là người tàn ác.
    Boyd Carrington chăng? Không thể. Ông ta là người có tên tuổi trên thế giới, một người quản lý tài ba được mọi người yêu quý và kính nể, người đó không thể là tội phạm.
    Tôi cũng loại trừ Franklin, người mà tôi biết con gái tôi, Judith luôn kính trọng, ngưỡng mộ.
    Tôi xét tới trường hợp thiếu tá Allerton. Một kẻ rất mất cảm tính, loại người nếu cần có thể cứa cổ cả bà nội mình. Hắn đang kể một chuyện gì đó làm mọi người cười vang. Nếu hắn là X?
    Song Poirot không hề nói rõ X là đàn ông, vì vậy tôi xét sang cô Cole. Người phụ nữ này có vẻ bình thường, nhưng luôn ngọ nguậy, rõ ràng tính tình nóng nảy. Quanh bàn ăn nay chỉ có mặt bà Luttrell, Judith và cô Cole. bà Franklin ăn trên phòng mình, và cô y tá chăm sóc bà nên sẽ ăn sau.
    Ăn xong, tôi đang đứng trước cửa sổ ngẫm nghĩ, bỗng giật mình vì Judith chợt đến khoác tay tôi, kéo ra ngoài thềm.
    - Có chuyện gì vậy, ba? Nó hỏi.
    Tôi chột dạ:
    - Chuyện gì? Ý con muốn nói sao?
    - Ba cứ ngây ngô suốt buổi tối. Trong bữa ăn, sao ba cứ nhìn mọi người chòng chọc.
    Tôi hơi lúng túng, không ngờ việc đó bị con gái để ý.
    - À. Vì ba nghĩ đến quá khứ.
    - Lúc trẻ, ba đã có một lần ở đây, phải không? Và đã có một bà bị giết, phải không?
    - Đúng thế. Bị đầu độc bằng strích-nin.
    - Bà ấy là người thế nào?
    - Một bà rất tốt bụng, hay làm việc từ thiện...
    - Ồ! Cái kiểu làm phúc ấy...
    Judith nói với giọng coi thường; nó lại hỏi một câu nữa làm tôi ngạc nhiên:
    - Hồi đó, mọi người ở đây có hạnh phúc không?
    - Không, tôi đáp.
    - Tại sao?
    - Vì họ cảm thấy như bị cầm tù. Này nhé, bà Ingelthrop nắm giữ toàn bộ tiền bạc, và... chỉ chi ra từng tí một. Các con chồng của bà không có đời sống riêng.
    Judith nhún vai, tay bíu chặt cánh tay tôi, nói:
    - Không tốt. Rất không tốt. Không được phép lạm quyền như thế. Người già, người bệnh tật không có quyền ngăn trở cuộc sống của người trẻ, người khỏe, bắt họ phụ thuộc vào mình.
    Tôi ngắt ngay:
    - Đâu chỉ có người già mới ích kỷ.
    - Con biết. Ba nghĩ lớp trẻ cũng ích kỷ. Có thể đúng, nhưng đó là thứ ích kỷ sạch sẽ. Chúng con chỉ muốn làm những gì mình thích, chứ không muốn để người khác làm thay. Chúng con không muốn bắt người khác làm nô lệ.
    - Không, các con chỉ muốn chà đạp họ nếu họ tình cờ ở trên đường đi.
    Judith giật tay tôi:
    - Bà đừng chua chát thế. Con chẳng chà đạp ai. Vả lại, con công nhận ba không hề ép chúng con phải làm gì. Chị con, các anh con và con rất biết ơn vì điều đó.
    Tôi đáp thẳng thắng:
    - Nhiều khi ba cũng muốn làm như thế. Chính mẹ con mới là người muốn để các con tự chịu trách nhiệm hành vi của mình. Cả trách nhiệm về những sai lầm.
    Tôi lại cảm thấy bàn tay Judith siết chặt cánh tay tôi.
    - Con biết. Ba muốn ấp ủ các con như gà mẹ chăm sóc gà con từng tí. Con không thể chịu như thế. Nhưng chắc ba đồng ý với con là những kẻ vô dụng phải được hy sinh cho những người nào hữu ích.
    - Chuyện ấy đôi khi xảy ra, không cần phải sử dụng những biện pháp hà khắc. Mỗi người cần biết tự lượng mình, tự rút lui...
    - Vâng, nhưng có phải bao giờ cũng như thế đâu?
    Giọng nói quá hung hăng làm tôi quay nhìn thẳng mặt con. Song trời tối, tôi không nhìn rõ. Judith nói tiếp, nho nhỏ nhưng sôi nổi:
    - Có quá nhiều sự tính toán: tiền bạc... tinh thần trách nhiệm, ngại va chạm với người mình yêu... Và một số người thì không tự hiểu mình nữa. Họ bám dai như đỉa đói!
    - Judith, con! - Tôi kêu.
    Giọng bạo liệt của con làm tôi choáng váng. Có lẽ cũng hiểu là đã nói hơi quá, nên bỗng cất tiếng cười.
    - Chắc ba cho là con quá dữ dội. Nhưng đây là vấn đề mà con quan tâm. Con biết một trường hợp... ồ! Đó là một kẻ vũ phu, và một người có cam đảm chống lại hắn để giải thoát người thân, thì thiên hạ lại bảo là điên. Điên ư? Thật ra đó là điều hợp lý nhất phải làm. Và dũng cảm nhất.
    Tôi bỗng thấy cồn cào trong lòng. Chuyện này, dường như tôi đã nghe nói, mới đây thôi.
    - Judith, con nói về ai vậy? - Tôi hỏi.
    - Ồ! Chắc ba chả biết đâu. Họ là bạn của gia đình Franklin. Một lão tên là Licthfield. Giầu có, nhưng lại để các con gái gần như chết đói, không cho họ đi đâu, gặp gỡ bất kỳ ai... Thật là lão điên.
    - Và đứa con gái đã giết bố, phải không?
    - À, chắc ba đã đọc tin đó trên báo. Ba gọi đó là tội ác cũng được, song ba nhớ cho là cô ta làm việc đó không có chút động cơ cá nhân nào. Con cho rằng cô gái đó rất dũng cảm. Con chắc không có cái dũng khí ấy.
    - Dũng khí tự ra đầu thú hay dũng khí giết người?
    - Cả hai.
    Tôi nghiêm nghị nói:
    - ba không thích nghe con khẳng định là có những trường hợp giết người là chính đáng. Bác sĩ Franklin nghĩ thế nào về vấn đề đó.
    - Rằng đánh kiếp cho tên vũ phu ấy. Ba biết không, có những kẻ thật đáng ghét, giết đi là phải?
    - Ba không muốn con chủ trương cái thuyết lạ kỳ ấy. Ai dạy con vậy?
    - Không ai cả.
    - Vậy thì nghe ba đây, đó là những lý thuyết ngu ngốc và nguy hiểm.
    - Thôi được, chúng ta dừng ở đây.
    Judith yên lặng một lát, rồi nói nhẹ nhàng hơn:
    - Thật ra, con gặp ba để chuyển lời mới của bà Franklin. Bà ấy muốn gặp ba, nếu ba vui lòng lên phòng bà.
    - Ba không mong gì hơn. Thật buồn là bà mệt đến mức không xuống cùng ăn với mọi người.
    Con gái tôi lạnh lùng đáp:
    - Bà ấy chẳng sao cả, nhưng cứ thích làm ra nghiêm trọng.
    Tôi rời khỏi cửa sổ, nghĩ thầm trong bụng: lớp trẻ ngày nay không còn biết thương xót ai cả.
    He Is So Special.........

  5. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 5

    Tôi mới gặp bà Franklin có một lần. Bà trạc ba mươi và thuộc loại tôi gọi là "quý phái". Đôi mắt to đen sẫm, tóc đen rẽ ngôi giữa khuôn mặt bầu dục đầy vẻ hiền hậu. Dáng người rất mảnh, da trắng như trứng gà bóc.

    Bà nằm trên giường nghỉ, đầu tựa lên gối, mặc bộ đồ ngủ trắng và xanh. Franklin và Boyd Carrington đang ngồi uống cà phê. Bà Franklin nhoẻn miệng cười chào tôi và chìa tay:

    - Đại úy Hastings, cảm ơn ông đã đến thăm. Ông đến đây cũng là tin vui cho Judith. Cô ấy làm việc vất vả quá.

    - Tôi thấy cháu rất khỏe,có sao đâu ạ.

    Bà Franklin thở dài:

    - Phải, về mặt ấy, con gái ông thật may, tôi ghen với cô ấy. Chắc cô không thể hiểu ốm yếu khổ như thế nào.

    Bà quay về phía cô y tá:

    - Cô Craven, tôi nói thế có phải không? Ồ! Xin giới thiệu với cô đại úy Hastings. Còn đây là cô Craven, cô chăm sóc tôi rất tốt. Không có cô ấy, không biết tôi sẽ xoay sở ra sao.

    Cô y tá là một người đàn bà trẻ, đẹp, tóc màu gụ. Tôi thấy bàn tay cô ta thon và trắng muốt; khác hẳn tay của nhiều y tá bệnh viện. Cô ta có vẻ ít nói, chỉ hơi nghiêng đầu chào tôi. bà Franklin nói:

    - Quả thật, ông John nhà tôi bắt cô Judith làm việc hơi nhiều. Thầy gì mà khắc nghiệt quá. Có phải không, ông Judith?

    Ông chồng đang đứng gần cửa sổ, nhìn ra bãi cỏ, huýt sáo miệng, tay đút túi. Nghe vợ hỏi, ông giật mình:

    - Barbara, em nói gì?

    - Rằng anh bắt cô Hastings làm việc quá sức. Giờ ông đại úy đã tới, tôi và ông ấy sẽ đoàn kết chống lại cái kiểu bóc lột ấy.

    Bác sĩ Franklin có lẽ là người không biết đùa. Ông hơi bối rối, quay về phía Judith thăm dò:

    - Nếu có như vậy, cô cứ nói thẳng.

    - Ồ không. Bà nhà chỉ đùa vui. À mà nhân nói chuyện công việc, tôi muốn hỏi bác sĩ về cái vết xuất hiện trên bảng mẫu thứ hai. Ông biết rồi, cái vết...

    - À phải! Nếu không phiền, ta xuống phòng thí nghiệm xem lại... Hai người vừa nói vừa ra khỏi phòng.

    Barbara Franklin thở một hơi dài, ngả người lên gối. Cô y tá bỗng lên tiếng bằng giọng có vẻ khó chịu:

    - Trong hai người nếu có ai bắt ai làm quá sức, người ấy phải là cô Hastings.

    Bà Franklin lại thở dài đánh sượt:

    - Tôi biết lẽ ra phải quan tâm hơn đến công việc của chồng, nhưng không làm được, quá sức tôi. Thực sự trong người tôi có cái gì trục trặc...

    Tiếng cười gằn của Boyd Carrington cắt ngang:

    - Đừng vớ vẩn. Cô khỏe mạnh, có sao đâu không nên lo hão.

    - Ôi, anh Bill tôi lo chứ. Tính tôi hay nản... luôn luôn nghĩ ngợi... mà cứ nghĩ đến những con chuột, con nhái ấy, lại thấy kinh!

    Bà rùng mình, rồi lại tiếp:

    - Tôi biết là vớ vẩn, nhưng vẫn ốm vì thế! Tôi chỉ muốn nghĩ đến những thứ đẹp đẽ, chim, hay hoa chẳng hạn. Anh hiểu không?

    Boyd Carrington tiến lại, cầm lấy bàn tay bà đưa ra như cầu cứu.

    Khuôn mặt ông ta có nhiều nét cứng cỏi, bỗng dịu hẳn.

    - Barbara, cô vẫn không thay đổi như khi còn mười bảy tuổi.

    Ông quay đầu sang tôi:

    - Barbara và tôi biết nhau từ hồi trẻ.

    - Vâng, là bạn lâu năm. Bà Franklin nói.

    - Tôi công nhận hơn cô mười lăm tuổi. Nhưng ngay từ hồi cô còn bé, tôi đã chơi với cô như chơi búp bê, tôi đã cõng cô đi khắp nơi. Sau này khi tôi trở về, cô đã là một thiếu nữ xinh đẹp chuẩn bị bước vào đời. Tôi đã dạy cô chơi gôn để giúp vào việc đó. Cô nhớ không?

    - Ôi, Bill, làm sao em quên!

    Bà quay bộ mặt thánh thiện sang tôi, giải thích:

    - Bố mẹ tôi ở Anh, anh Bill thình thoảng lại đến ở nhà ông bác ở Knatton.

    - Cái tòa nhà sao mà buồn thảm, giờ nó vẫn thế. Cổ quá rồi, không biết có sửa sang nổi để ở được không.

    - Ôi, nếu làm được việc ấy thì thích quá!

    - Phải. Phiền một cái là tôi không biết sắp xếp thế nào. Cần có phụ nữ mới xong.

    - Em đã bảo rồi, nếu anh đồng ý, em sẽ đến giúp. Em nói thật đấy.

    - Nếu em khỏe, thì có thể được.

    Ông ngước nhìn cô y tá:

    - Cô nghĩ thế nào, cô Craven?

    - Tốt thôi, thưa ngài. Tôi tin là ra ngoài, đổi không khí thì chỉ tốt cho bà Franklin. Tất nhiên, với điều kiện bà không làm quá sức.

    - Vậy là nhất trí, Boyd Carrington nói. Còn bây giờ, cô phải cố ngủ đi, để mai có đủ sức.

    Chúng tôi từ biệt bà Franklin và cùng đi ra. Tới cầu thang, Boyd Carrington nói:

    - Ông không biết lúc mười bảy tuổi Barbara xinh đẹp chừng nào. Lúc tôi từ Miến Điện về sau khi vợ tôi chết và thú thật là tôi mê Barbara. Nhưng hai, ba năm sau, người cô ấy lấy là Franklin. Tiếc thay, tôi cho rằng cuộc hôn nhân ấy không thật hạnh phúc, và đó chính là do sức khỏe yếu kém của Barbara. Chồng cô chưa bao giờ hiểu hết và đánh giá đúng về cô. Mà bản chất cô ta cực kỳ nhạy cảm và sức khỏe suy giảm phần chính là do tinh thần. Nếu cô ấy vui vẻ, nếu để cô thoát khỏi cảnh ấy, cô sẽ hoàn toàn đổi khác. Nhưng cái tay chồng lang vườn nọ không biết gì khác ngoài mấy cái ống nghiệm và vật thú.

    Boyd cười gằn vẻ ấm ức, và tôi nghĩ điều ông ta nói có phần đúng. Tuy nhiên, tôi lấy làm lạ ông ta quyến luyếnbà Franklin đến thế, dù bà có duyên và dễ thương thật nhưng dù sao sức đã yếu. Còn ông ta thì vẫn đầy sức sống và khỏe mạnh. Nhưng đúng rồi, mấy năm trước hẳn Barbara phải là cô gái cực kỳ hấp dẫn, nhất là với loại đàn ông lạng mạn như Carrington; những cảm xúc thời trẻ thường làm ta nhớ mãi, và những mối tình đầu để lại ấn tượng khó phai mờ.

    Dưới nhà, bà Luttrell vớ ngay lấy chúng tôi, mời chơi bài. Tôi xin lỗi, lấy cớ phải lên với ông bạn Poirot.

    Poirot đang nằm trên giường. Curtiss dọn dẹp trong phòng, rồi rút lui sớm sau khi đóng cửa cẩn thận. Tôi nói:

    - Cầu trời đánh ông chết với cái thói bao giờ cũng giữ môt cái gì bí mật cho riêng mình. Cả tối nay tôi đã cố tìm xem cái nhân vật bí ẩn của ông là ai.

    - Chú tâm vào việc ấy, chắc anh lơ đãng không chú ý gì khác. Có ai nhận thấy không, có ai hỏi gì không?

    Tôi đỏ mặt khi nhớ lại những câu hỏi của Judith, và Poirot chắc nhận thấy sự lúng túng của tôi, vì trên môi ông thoáng nở một nụ cười tinh quái. Song ông không đả động đến điều đó nữa, chỉ hỏi:

    - Thế anh đi đế kết luận nào chưa?

    - Nếu tôi nói ra, ông có chịu nói là đúng hay sai?

    - Tôi sẽ không nói gì.

    - Tôi đã nghĩ tới Norton...

    Poirot vẫn gồi yên, không lộ thái độ gì. Tôi tiếp:

    - Không phải là có chứng cứ gì cụ thể. Tôi chỉ thấy hắn có vẻ... nhiều khả năng hơn những người khác. Tôi hình dung tên sát thủ đang truy lùng phải thuộc loại... nhún nhường, không khiến ai để ý.

    - Có thể. Nhưng có nhiều cách để không làm mọi người để ý.

    - Ý ông định nói gì?

    - Giả sử một người lạ có ý đồ xấu đến đây vài tuần trước khi hành động. Tốt nhất cho hắn là đừng làm gì nổi bật, tránh sự chú ý, giải trí bằng môn thể thao vô hại, như câu cá chẳng hạn...

    - Hoặc tha thẩn xem chim chóc. Chính tôi định nói thế.

    - Mặt khác, tốt hơn nữa là hung thủ nên là một nhân vật đặc biệt: là anh hàng thịt chẳng hạn. Anh chàng này có cái lợi là nếu quần áo bị dây máu cũng không ai để ý.

    - Nhưng nếu trước đó, mọi người đều biết anh hàng thịt đã cãi nhau với anh... hàng bánh chẳng hạn.

    - Không hề chi, nếu anh hàng thịt chọn nghề này chỉ cốt để có dịp hai anh hàng bánh.

    Tôi nhìn poirot chăm chú, tự hỏi ông nói như trên là có ám chỉ gì không. Nếu có thì hẳn là nhằm đại tá Luttrell. Ông này cố tình mở quán trọ gia đình để rình cơ hội ám hại một người đến trọ chăng?

    Poirot lắc đầu:

    - Không thể nhìn mặt tôi mà anh đoán được lời giải đâu.

    - Ông thật khó chịu. - Tôi nói. Mà này, tôi không chỉ nghi Norton. Còn cái anh chàng Allerton nữa.

    Poirot vẫn bình thản:

    - Anh không ưa hắn ta ư?

    - Không chút nào!

    - A, anh cho hắn là tên vô tích sự, có phải không?

    - Đúng thế. Ông đồng ý với tôi chứ?

    - Rất đồng ý. Tuy nhiên... hắn ta rất hấp dẫn đối với phụ nữ.

    Tôi hừ lên một tiếng khinh khỉnh.

    - Thế phụ nữ mới ngốc! Chả biết họ tìm thấy ở hắn cái gì?

    - Thật khó nói. Đôi khi như vậy đấy: kẻ xấu lại có sức hấp dẫn.

    - Tại sao?

    Poirot nhún vai:

    - Có thể họ tìm thấy ở đó cái gì mà ta không biết.

    - Ví dụ?

    - Ví dụ, sự mạo hiểm. Trên đời này ai cũng ưa một chút mạo hiểm. Một số tìm thấy mạo hiểm qua người khác làm trung gian, như khi xem đấu bò tót, hay đơn giản hơn, khi xem phim. Bản chất con người không ưa sự quá bình lặng. Vì vậy, đàn ông tìm mạo hiểm bằng nhiều cách khác nhau, còn phụ nữ tìm trong các cuộc phiêu lưu tình ái...

    Tôi trở lại vấn đề đang ấp ủ:

    - Ông biết không, với tôi tìm ra lai lịch tên X tương đối dễ thôi.Chỉ cần sục sạo để biết kẻ nào có liên quan với các nhân vật trong năm vụ án mà ông đưa tôi xem.

    Poirot như không thèm để ý đến vẻ đắc thắng của tôi:

    - Hastings, tôi không mời anh đến đây để bắt anh phải vất vả làm lại cái việc tôi đã làm rồi. Và xin nói là mọi việc không đơn giản như anh nghĩ. Bốn trong số năm vụ án kia xảy ra ở cùng một quận nơi ta đang sống lúc này. Những người tập hợp tại Styles không hoàn toàn là một nhóm người đến đây một cách tình cờ, và nhà này không phải là một quán trọ bình thường như ta hiểu. Vợ chồng Luttrell gốc gác ở vùng này. Họ gặp khó khăn về tài chính, tậu cái nhà này và lao vào một vụ làm ăn mạo hiểm. Khách trọ hiện nay của họ là bạn bè, hoặc do bạn bè giới thiệu. Chính ngài Boyd Carrington đã thúc giục vợ chồng Franklin tới đây. Vợ chồng Franklin lại mời Norton và cả cô Cole, nếu tôi không nhầm. Và cứ thế tiếp tục. Có nghĩ là rất có khả năng một người nào đó đã quen biết một người thì cũng quen biết tất cả những người khác. Tôi lại xét thêm một điểm khác. Lấy ví dụ trường hợp anh công dân nông nghiệp Riggs. Nơi án mạng xảy ra xảy ra không xa ngôi nhà ông bác của Boyd Carrington là bao. Họ hàng của bà Franklin cũng sống ở quanh đó. Quán trọ của làng cũng có nhiều khách du lịch đến ở, và một số bạn của bà Franklin thường trọ ở đó. Chính bác sĩ Franklin cũng đến ở đấy một thời gian. Rất có thể Norton và cô Cole cũng từng ghé qua. Không, tôi yêu cầu anh đừng cố khám phá một bí mật mà tôi cần giữ, chưa nói với anh.

    - Thật vô lý. Ông sợ tôi để lộ chứ gì? Cái điều anh nói tôi có "bộ mặt lộ liễu" là trò khôi hài vớ vẩn.

    - Anh cho đó là lý do duy nhất khiến tôi phải giấu anh ư? Hóa ra anh không hiểu rằng biết sự thật nhiều khi cũng rất nguy hiểm? Tôi giấu anh cũng chỉ vì tôi lo sợ cho sự an toàn của anh.

    Tôi đứng ngây người. Đến lúc này, tôi không hề nghĩ đến khía cạnh ấy của vấn đề. Bây giờ tôi hiểu thái độ của Poirot là có lý. Nếu tên sát thủ này rất khôn khéo và mưu mẹo, từng nhúng tay vào năm vụ án, phát hiện ra hắn đang bị lần dấu vết, tất hắn sẽ phản ứng kịch liệt.

    Song tôi nói ngay:

    - Nhưng nói vậy, chính ông cũng đang bị nguy hiểm.

    Poirot khoát tay ra hiệu coi thường:

    - Tôi quen rồi, và tôi có thể tự phòng vệ. Vả lại, tôi chẳng có bên mình ông bạn Hastings tận tụy luôn che chở tôi đó sao?
    He Is So Special.........

  6. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 6

    Poirot có thói quen ngủ sớm. Tôi liền để ông nghỉ và xuống dưới nhà, song cũng dừng lại một lát nói chuyện với Curtiss.

    Anh hầu này nom vẻ lỳ, không nhanh nhẹn, song tận tụy và đáng tin cậy. Anh ta vào làm với Poirot từ khi ông ở Ai Cập về. Anh nói với tôi rằng sức khỏe ông chủ nói chung tốt, có điều yếu tim và thỉnh thoảng lên cơn đáng ngại. Giống như một động cơ yếu dần. Tôi biết về đại thể, Poirot đã có một sự nghiệp đáng nể. Dù sao, tôi buồn thấy ông bạn già nay phải cố gắng lắm để cầm cự. Đã yếu rồi lại bị tật, nay ông vẫn không ngừng theo đuổi cái nghiệp mà ông từng tỏ ra xuất sắc một cách kỳ diệu.

    Tôi đi xuống mà lòng se lại. Thật khó hình dung đời tôi sẽ ra sao nếu Poirot ra đi.

    Trong phòng khách, mọi người vừa chơi hết một ván, tôi được gọi vào chơi tiếp. Có lẽ cũng nên thư giãn một chút, tôi nhận lời. Boyd Carrington rút lui, tôi thế chỗ ông ta, cùng đánh với Norton và vợ chồng đại tá Luttrell. Bà Luttrell hỏi:

    - Nào ông Norton, bây giờ tôi với ông về một phe nhé?

    Norton cười, nhưng bảo là nên rút thăm thì hơn. Bà Luttrell đành phải nghe, nhưng có vẻ không vừa ý. Thế là Norton và tôi cùng một bên, đối lại với ông bà Luttrell. Bà đại tá không giấu được vẻ bực bõ, cau mặt, cắn môi, mất đi vẻ tươi tắn. Chẳng bao lâu, tôi hiểu lý do sự thay đổi đó.

    Về sau, nhiều lần tôi ở bên phía đại tá Luttrell và tôi thấy ông chơi không đến nỗi tồi. Ông đánh thận trọng, nhưng thỉnh thoảng lại đãng trí, đi sai nước. Và khi ông về phe với vợ, lại càng hay sai, khiến bà cáu kỉnh, và do đó ông càng phạm sai lầm. Bà đại tá chơi rất thạo, người cùng phe vất vả lắm mới theo kịp. Bà khôn khéo lợi dụng khai thác mọi nước đi, đôi khi phớt lờ cả luật chơi nếu đối phương không để ý, nhưng nếu có lợi cho bà thì bà lại bắt nẹt người khác. Bà cũng liếc nhìn trộm bài của đối phương. Nói cách khác, bà rất cay cú giành phần thắng.

    Và tôi nhớ rằng Poirot nói rằng bà ta có giọng lưỡi độc ác. Lúc chơi bài, bà không còn giữ mồm giữ miệng như thường lệ. Chồng đi sai nước nào là bà nói không ra gì. Tôi phát ngượng, và thấy nhẹ hẳn người khi ván bài kết thúc. Norton và tôi xin rút lui, lấy cớ đã quá khuya. Lúc đi ra, anh bạn tôi mới nói điều mình suy nghĩ:

    - Tôi điên tiết thấy ông chồng bị miệt thị quá đáng. Mà ông ta cứ ngoan ngoãn chịu. Chẳng còn gì là tư thế cựu đại tá.

    - Suỵt! Tôi khẽ ngăn.

    Norton nói hơi to, tôi sợ ông Luttrell nghe thấy.

    - Thật ngán ngẩm! Norton nói tiếp.

    - Rồi có ngày ông ấy sẽ phản ứng.

    Norton lắc đầu.

    - Không đâu. Thành thói quen mất rồi. "Phải, Daisy, ừ, Daisy, tôi xin lỗi", cứ vừa giật râu với luôn mồm nói thế.

    Tôi gật đầu, nghĩ Norton nói phải. Ra tới sảnh, chúng tôi dừng lại. Cách cửa bên mở, gió lạnh ùa vào phòng.

    - Ta có nên đóng cửa không nhỉ?

    Norton ngần ngừ:

    - Tôi... tôi không biết. Sợ rằng... mọi người chưa về hết.

    Một thoáng nghi ngờ vụt trong óc:

    - Còn ai ở bên ngoài?

    - Con gái ông. Và... Allerton.

    Anh ta nói câu ấy một cách bình thường, song do vừa trao đổi với Poirot xong, nên tôi cảm thấy không yên lòng.

    Judith... và Allerton. Không được, con gái tôi thông minh, tỉnh táo, sao lại có thể thân thiết với một con người như thế. Nó phải sớm tỉnh ra chứ.

    Về tới phòng, trong lúc thay quần áo, ý nghĩ ấy cứ ám ảnh tôi mãi.

    Lên giường rồi, tôi vẫn trằn trọc không ngủ. Đêm khuya, cả nghĩ mọi thứ đều trở thành to chuyện, tôi càng lo. Ôi, nếu người vợ yêu quý của tôi còn sống! Tôi luôn tin tưởng vào sự đánh giá của nàng! Nàng bao giờ cũng khôn ngoan, hiểu biết các con. Mất nàng, tôi trở nên bất lực, hoang manh. Giờ đây tôi một mình phải chịu trách nhiệm về sự an toàn và hạnh phúc của chúng. Liệu tôi có làm được không? Nhỡ Judith phạm sai lầm và đau khổ...

    Lòng ngổn ngang trăm mối, tôi nhỏm dậy, bật đèn. Thao thức thế này mãi không được, phải cố ngủ. Tôi vào buồng tắm, nhìn trên giá, thấy một ống thuốc átpirin. Không, cần thứ thuốc mạnh hơn. Chắc bên Poirot có thuốc ngủ. Tôi mở cửa, băng qua hành lang, rồi đứng ngập ngừng trước cửa phòng ông. Chẳng lẽ đánh thức ông bạn già đang say giấc chỉ để xin một viên thuốc! Tôi đang do dự thì nghe có tiếng chân trong hành lang. Đèn không sáng lắm, nên chỉ khi người này đến gần, tôi mới nhìn rõ mặt. Tôi đứng ngây người và cau mặt, vì người đó cười vẻ mãn nguyện, trông rất ghét.

    - Chào ông Hastings! Chưa ngủ ư? Người đó ngạc nhiên kêu.

    - Không ngủ được - tôi đáp trống không.

    - À ra thế. Vào chỗ tôi, tôi cho ông cái này.

    Tôi theo anh ta vào phòng, ngay cạnh buồng tôi. Tôi nói:

    - Ông ngủ muộn nhỉ?

    - Tôi không bao giờ ngủ sớm. Nhất là khi có cái để giải trí. Những tối đẹp như thế này, không nên bỏ phí.

    Nói rồi, anh ta cười. Cái cười tôi thấy đáng ghét như lúc nãy.

    Tôi theo anh ta vào phòng tắm. Hắn mở tủ, lấy ra một ống thuốc.

    - Đây, ông cần uống cái này, sẽ ngủ sau như khúc gỗ. Một thứ thuốc an thần tuyệt vời.

    Giọng nói say mê của hắn khiến tôi chột dạ. Người này dùng cả các loại ma túy.

    - Có nguy hiểm không? - Tôi hỏi.

    - Dùng nhiều mới ngại. Thứ thuốc ngủ này, hơi quá liều có thể nguy hại.

    Hắn lại cười, môi nhếch lên một cách đáng ghét.

    - Tơi tưởng thuốc loại này cần phải có đơn mới mua được.

    - Về nguyên tắc, đúng vậy, nhưng tôi có cách.

    Tôi biết mình hay phản ứng một cách thiếu suy nghĩ, song không thể kìm được sự bột phát.

    - Tôi đoán ông có quen biết Etherington.

    Hóa ra tôi đã bắt đúng thóp. Đôi mắt hắn gườm gườm, cảnh giác. Tuy nhiên, hắn đáp vẻ nhẹ nhàng, vô tư:

    - Có! Tôi có quen. Tội nghiệp hắn!

    Thấy tôi không nói gì, hắn tiếp:

    - Đúng là hắn ta nghiện nặng. Lẽ ra phải biết ngừng đúng lúc, đằng này không. Vụ án thật thảm hại. Cô vợ có số may, tranh thủ được sự thông cảm của tòa.

    Hắn đưa tôi hai viên thuốc, ra vẻ thản nhiên hỏi:

    - Ông cũng biết Etherington à?

    Tôi nói sự thật:

    - Không.

    Không biết nói gì hơn nữa, một lát sau hắn mới tiếp:

    - Thằng cha cũng buồn cười! Không dễ chịu lắm nhưng thỉnh thoảng đối xử cũng tốt.

    Tôi cảm ơn về mấy viên thuốc, đi về phòng. Lúc trở về giường nằm, tôi băn khoăn không biết mình có hớ hênh chăng. Vì bây giờ tôi biết chắc cái tên X ghê gớm nọ chính là Allerton. Và tôi đã chót để lộ cho hắn biết là tôi đang nghi ngờ điều gì.
    He Is So Special.........

  7. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 7

    Khi kể về những ngày ở Styles, khó trách khỏi tôi nói một cách lan man, rời rạc. Hồi tưởng lại thời ở đó, tôi nhớ nhất một số câu chuyện, lời nói ý nhiều có ý nghĩa.

    Trước hết, tôi nhận thấy rõ là Poirot rất yếu về thể chất. Song, hình như tôi nói rồi, trí óc vẫn hoạt động một cách nhanh nhạy và sáng suốt. Nhưng thân thể thì tàn rồi, gầy ốm và hiểu ngay mình phải đóng vai trò tích cực hơn bình thường. Tôi phải là tai, là mắt của ông bạn.

    Mỗi khi trời đẹp, Curtiss lại đưa chủ xuống dưới nhà, đặt sẵn ghế ở đó. Rồi đẩy ông ra vườn, thời tiết không thuận lợi, thì đưa ông xuống phòng khách. Dù ở đâu, sẽ có người đến bắt chuyện cùng ông, nhưng tất nhiên ông không thể chủ động chọn người đối thoại mình muốn.

    Sau hôm tôi đến, Franklin đưa tôi đến một cái xưởng cũ ngoài vườn, mà ông ta đã sửa soạn làm nơi nghiên cứu khoa học. Xin nói ngay là tôi không thể hiểu biết về chuyên môn, do đo khi kể về chuyện nghiên cứu của bác sĩ Franklin, có thể tôi sẽ dùng những thuật ngữ không chuẩn, làm các nhà chuyên môn chê cười. Theo con mắt trần tục của mình, tôi hiểu là Franklin thí nghiệm chiết xuất các chất an-ca-lô-ít trong quả đậu Calabar, đặc biệt là chất physostigmine, còn gọi là êxerin. Một lần nói chuyện với bác sĩ và Poirot, Judith cố giải thích cho tôi hiểu, nhưng lại toàn dùng những từ kỹ thuật. Nó kể ra các chất an-ca-lô-ít nào là physostigmine, nào là cabarin, génesérine, và cuối cùng là một chất tên gọi rất khó đọc, nghe mà chẳng hiểu gì. Tôi hỏi nghiên cứu này mang lợi gì cho nhân loại. Hình như các nhà khoa học rất ghét câu hỏi loại này, nên Judith nhìn tôi một cách khinh thị và tiếp tục lao và giải thích một cách dài dòng, rắm rối. Tôi chỉ ghi nhận lại rằng một số bộ lạc xa xôi châu Phi có sự miễn dịch kỳ lạ với một căn bệnh cũng kỳ lạ không kém - có thể chết người - gọi là "gioocđanít" theo tên của bác sĩ Jordan, người đầu tiên phát hiện ra nó. Đó là một căn bệnh nhiệt đới hiếm thấy, mà gần đây hai, ba người da trắng đã mắc, và tỏ ra rất nguy hiểm.

    Tôi buột miệng nhận xét giá nghiên cứu thứ thuộc nào khắc phục hậu quả của bệnh quai bị thì thiết thực hơn, làm con gái tôi càng bực. Nó lên mặt đáp, mục đích của khoa học không phải để phục vụ những việc vặt mà là để mở rộng tầm hiểu biết.

    Judith chỉ tôi xem vài mảnh thí nghiệm qua kính hiển vi xem những bức ảnh chụp những người bản xứ Tây Phi, xem con chuột bị tiêm thuốc đang đờ đẫn trong lồng. Sau những chuyện ấy, tôi vội phải ra ngoài để hít thở chút không khí trong lành.

    Như đã nói, tôi đặc biệt chú ý đến câu chuyện trao đổi giữa Franklin và Poirot... Ông bác sĩ nói:

    - Ông hiểu không, chuyện này thực ra thuộc lĩnh vực của ông hơn của tôi. Cây đậu Calabar nghe nói có khả năng phát hiện ai có tội, ai vô tội. Ít nhất thì các bộ lạc châu Phi tin như vậy. Khi cần họ bỏ hạt đậu vào mồm nhai để chứng tỏ họ vô tội, nếu có tội sẽ bị nó vật chết.

    - Và thế là họ trúng độc chết!

    - Không phải tất cả. Ấy đó là điều làm chúng tôi phải chú ý.

    - Tôi nghe cứ như là trò phù thủy.

    - Thực ra, có hai loại đậu Calabar nhưng giống nhau như đúc, rất khó phân biệt. Cả hai loại đều chứa chất physostigmine và génesérine. Nhưng trong thí nghiệm, có thể tách riêng - tôi tin như vậy - một chất ancalôít khác có tác dụng vô hiệu hóa các chất kia. Hơn nữa, một số bộ lạc thường xuyên ăn loại đậu thứ hai trong các dịp lễ hội bí ẩn, và họ không bao giờ mắc bệnh gióocđanít. Đó là một điểm cực kỳ quan trọng. Khó khăn là chất ancalôít rất không ổn định. Tuy nhiên, tôi đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy còn phải dày công nghiên cứu nữa. Nhất định tôi phải làm bằng được...

    Đột nhiên ông ngừng nói, mỉm cười:

    - Xin lỗi vì toàn nói chuyện chuyên môn. Có lẽ tại tôi say mê quá...

    Poirot mơ màng nói:

    - Đúng rồi, nếu tôi phân biệt được người vô tội và có tội dễ như các bộ lạc châu Phi thì nghề của tôi sẽ trở thành trò trẻ. A! Nếu có một chất thật sự có đặc tính như cây đậu calabar như người ta đồn!

    - Dù thế nào cũng chưa hết khó khăn. Vì nói cho cùng, thế nào là có tội? Thế nào là vô tội?

    Tôi chen vào:

    - Thiết tưởng việc đó có gì phải bàn cãi?

    Bác sĩ quay sang phía tôi:

    - Ác là gì? Thiện là gì? Mỗi thời, mỗi nơi quan niệm một khác. Cái có thể xác định, có lẽ chỉ là cảm giác có tội hay không có tội. Mà thực tế, cảm giác ấy chẳng có giá trị.

    - Tôi không hiểu ý ông.

    - Ông bạn ơi, ta hãy thử tưởng tượng một người tự cho mình cái quyền thiên liêng được giết... một tên cho vay nặng lãi chẳng hạn, hay bất cứ một kẻ xấu xa nào khác, bị mọi người căm ghét. Người đó sẽ làm một việc mà theo ông là tội ác, nhưng anh ta lại cho là một hành động hoàn toàn chính đáng, không tội lỗi gì hết.

    - Tuy nhiên, tôi cho rằng khi đã giết người, thì ai cũng phải có cảm giác phạm tội.

    - Hừm! Bác sĩ Franklin đáp, xin nói thật với ông rằng trên đời này, có hàng đống người mà tôi đây, tôi muốn giết. Và không phải vì thế mà sau đó tôi bị lương tâm cắn rứt. Theo tôi, có tới chín mươi phần trăm nhân loại cần phải biến đi, để cho những người còn lại sống tốt hơn.

    Ông ta đứng dậy, vừa huýt sao vừa đi ra. Tôi sững sờ nhìn theo. Tiếng cười khẽ của Poirot khiến tôi trở về thực tại.

    - Thế này thì kinh khủng quá. Hy vọng ông bác sĩ này không đem lý thuyết của ông ta ra thực hành.

    - Nhưng nếu ông ta cứ làm?

    Phần 2

    Sau một lát do dự, tôi quyết định đi gặp Judith để dò hỏi về chuyện Allerton. Tôi sốt ruột xem nó phản ứng ra sao. Tôi biết con gái tôi là một đứa lành mạnh, biết tự chủ, không đến nỗi bị một người như Allerton mê hoặc.

    Tôi đề cập vấn đề này chỉ nhằm được yên tâm, khẳng định thêm sự đánh giá của tôi. Tiếc thay không đạt kết quả mong muốn, vì tôi ăn nói hơi vụng. Không gì làm bọn trẻ tự ái hơn lời khuyên của người lớn. Mặc dù tôi đã cố nói bằng giọng vui vẻ, vô tư, nhưng Judith phản ứng ngay lập tức:

    - Có phải ba định răn đe con tránh xa chú sói độc ác?

    - Không, Judith con, không phải thế.

    - Ba không ưa thiếu tá Alleton?

    - Đúng là không ưa. Và ba muốn tin rằng con cũng nghĩ như ba.

    - Tại sao?

    - tại vì... hắn không hợp với con.

    - Vậy theo ba, người thế nào thì hợp?

    Judith có tài làm tôi cụt hứng. Nó nói tiếp:

    - Tất nhiên ba không ưa. Con lại ưa. Con thấy anh ấy hay hay.

    - Ồ! Hay hay à.

    - Và rất hấp dẫn nữa. Bất cứ phụ nữ nào cũng nghĩ như con. Còn với con mắt nhìn của đàn ông, thì có thể khác.

    - Không hẳn vậy.

    Rồi tôi lỡ miệng nói thêm:

    - Tối hôm nọ, con đi với hắn quá khuya...

    Tôi không kịp nói hết, bão tố nổ ra liền.

    - Ba, ba quá ngờ nghệch. Ba không chịu hiểu rằng ở tuổi con, con thừa sức để quyết định? Ba không có quyền can thiệp vào việc con làm, con chọn ai làm bạn. Con cái thường khổ cứ bị bố mẹ nhúng mũi vào việc của mình. Con rất quý ba, nhưng con đã trưởng thành, đời con là thuộc về con.

    Không thể đáp lại gì, tôi quay gót với cảm giác đã dại dột đổ đầu vào lửa. Một lát sau, còn đang suy nghĩ vẩn vơ thì tôi nghhe cô Craven gọi với giọng tinh quái:

    - Đại úy Hastings, ông đang nghĩ gì thế?

    Tôi mừng vì có dịp đỡ phải suy tư, quay ngoắt lại. Cô Craven quả là người đàn bà đẹp. Có lẽ cô cố làm ra vẻ tinh nghịch, bông đùa, chứ rõ ràng cô là người thông minh, dễ gần.

    Cô vừa đưa người ốm đến ngồi ở một chỗ nắng ấm, gần cái phòng thí nghiệm tạm của bác sĩ Franklin. Tôi hỏi:

    - Bà ấy quan tâm đến công việc nghiên cứu của chồng?

    Cô y tá lắc đầu vẻ coi thường:

    - Ồ, những nghiên cứu ấy, bà làm sao hiểu được. Bà ấy vốn đã không thông minh lắm, mà việc của bác sĩ thì chỉ có người chuyên môn y khoa mới hiểu. Ông ấy thì cực kỳ thông minh, có thể nói xuất sắc. Tội nghiệp!

    - Cô thuơng hại ông ấy?

    - Phải. Biết bao người phải lấy vợ không phù hợp!

    - Cô cho là trường hợp bác sĩ Franklin cũng vậy?

    - Ông không thấy sao? Họ chẳng có điểm nào chung.

    - Nhưng xem ra ông quý bà lắm. Chăm từng ly từng tí.

    Cô ý tá bật cười một cách mà tôi cho là hơi hỗn:

    - Bà ấy cố tình để làm ra như vậy.

    - Cô cho là bà ấy... lợi dụng sự yếu đau của mình?

    Cô Craven lại cười:

    - Rất khó mà trách được bà điều gì về mặt đó. Bà ấy muốn gì được nấy. Một số phụ nữ là như thế, rất tinh ranh khéo léo. Ai không làm vừa lòng, là ngửa cổ, lim dim đôi mắt làm ra vẻ thảm hại. Bà Franklin thuộc loại ấy. Đêm không chịu ngủ và sáng ra bơ phờ, ủ dột.

    - Nhưng bà ấy đau ốm thật chứ?

    Cô Craven liếc mắt nhìn tôi một cách lạ lùng, nói buông thõng:

    - Vâng, ốm thật!

    Rồi cô lái sang chuyện khác, hỏi có phải hồi đại chiến thứ nhất, tôi đã từng ở Styles.

    - Đúng, tôi đáp.

    Cô hạ giọng khẽ nói:

    - Và hồi đó có một vụ án mạng, phải không? Nghe đâu là một bà già. Một cô gia nhân ở đây nói với tôi thế. Lúc ấy ông có mặt không?

    - Có. Tôi có mặt.

    Cô hơi rùng mình:

    - Thế là rõ.

    - Rõ... rõ cái gì?

    Cô lườm tôi:

    - Ông không cảm thấy không khí nơi này à? Tôi thì thấy. Có cái gì khang khác.

    Tôi đứng lặng suy nghĩ. Cô Craven nói đúng chăng?

    - Có lần tôi đã ở một nơi xảy ra án mạng - cô nói tiếp - và không thể nào quên. Đó là một bênh nhân của tôi. Tôi đã bị thẩm vấn, phải ra làm nhân chứng, rất mệt mỏi, hoang mang. Mới trẻ tuổi mà đã trải qua lần rắc rối ấy, thật là khổ.

    - Tôi hiểu. Tôi cũng biết...

    Tôi im bặt vì nhìn thấy Boyd Carrington đang rẽ qua góc nhà, đi ra. Như mọi khi, tính cách mạnh mẽ, sự sung mãn của anh ta như xua tan mọi ám khí, mọi lo sợ mơ hồ.

    - Chào cô Craven! Chào ông Hastings! Thế bà Franklin đâu?

    - Chào ngài William, cô Craven đáp. Bà Franklin đang ở cuối vườn, dưới gốc cây sồi, gần phòng thí nghiệm.

    - và chắc chồng bà ấy đang làm việc trong đó?

    - Phải, với cô Hastings.

    - Khổ cho cô gái! Buổi sáng đẹp trời thế này mà phải giam mình trong phòng để nghiên nghiên cứu cứu. Ông Hastings, ông phải có ý kiến chứ.

    Cô y tá vội nói ngay:

    - Ồ! Nhưng cô Hastings có khổ đâu, rất vui là đằng khác. Cô ấy thích thế, vả lại tôi chắc bác sĩ rầt cần có cô giúp.

    - Lại cái ông ấy nữa! Boyd Carrington hướng về phía tôi, nói. Tôi mà có cô trợ lý trẻ đẹp như con gái ông, thì tôi chỉ ngắm cô ấy chứ không ngắm chuột bạch.

    Judith chắc chắn rất ghét lối đùa giỡn đó, nhưng cô Craven lại cười thích thú.

    - Ồ ngài William! Cô nói. Ngài không nên nói vậy. Ngài thì chúng tôi biết ngài sẽ xử sự thế nào trong trường hợp này. Chứ còn ông Franklin là người rất nghiêm túc... chỉ say mê nghiên cứu.

    - Dù sao bà vợ cũng tìm được chỗ tốt để ngồi canh chừng. Bà ấy chắc phải ghen. - Boyd Carrington vẫn giọng cười cợt.

    - Ngài có vẻ biết nhiều chuyện - cô y tá nói, rồi có vẻ tiếc rẻ: nhưng có lẽ đến lúc tôi phải về pha sữa cho bà Franklin.

    Cô bước đi thong thả, Boyd Carrington dõi nhìn theo.

    - Đẹp gái lắm. Tóc tuyệt vời, răng trắng bóng. Thế mà suốt ngày phải trông người ốm. Người cỡ ấy xứng đáng có số phận tốt hơn.

    - ồ, rồi nay mai cô sẽ lấy chồng.

    - Hy vọng như vậy.

    Boyd thở dài, và tôi nảy ra ý nghĩ ông tưởng nhớ tới người vợ đã mất. Bỗng ông ta nói sang chuyện khác:

    - Tôi đi Knatton để kiểm tra họ sửa sang ra sao. Ông muốn đi cùng không?

    - Rất vui lòng. Nhưng để tôi lên xem ông Poirot cần gì tôi không. Poirot đang ngồi dưới hàng hiên. Ông khuyến khích tôi đi cùng Boyd:

    - Anh cứ đi đi! Nghe nói đó là một dinh thự rất đẹp.

    - Tôi cũng muốn đi xem. Nhưng ngại bỏ ông lại một mình...

    - Anh cứ đi đi! Ngài William tốt bụng đấy, phải không?

    - Rất tốt! - Tôi hào hứng trả lời.

    Poirot cười mỉm:

    - Tôi biết là anh thích anh ta mà.

    Phần 3

    Chuyến đi thật là thú. Trời đẹp đã đành nhưng gần gụi Boyd Carrington cũng rất vui. Ông ta có sức hút riêng, có kinh nghiệm nhiều mặt nên chuyện trò với ông ta không chán. Ông kể nhiều mẩu chuyện về cái thời ông cai trị ở Ấn Độ, cho tôi biết những tục lệ kỳ quặc của một số bộ lạc miền Đông châu Phi. Tôi mải vui gần như quên hết nỗi lo về Judith và những điều mà Poirot đang ấp ủ.

    Cái cách ông ta nói về bạn tôi cũng dễ nghe. Ông rất kính nể Poirot, tôi trọng nghề nghiệp và nhân cách Poirot. Dù tay Poirot đã yếu nhiều, Boyd Carrington không tỏ vẻ thương hại, mà nghĩ rằng một cuộc đời như Poirot là có giá trị từ chính nó, và Poirot có thể hài lòng, lấy làm hãnh diện. Boyd nói thêm:

    - Vả lại, tôi chắc trí óc ông vẫn minh mẫn hơn bao giờ hết.

    - Vâng, vẫn minh mẫn - tôi xác nhận.

    - Nghĩ rằng người yếu về thể chất cũng yếu luôn về trí tuệ là sai lầm. Và nói dại, tôi không bao giờ dám phạm tội gì trước mũi Hercule Poirot. Ngay cả bây giờ.

    Tôi cười đáp:

    - Đúng, ông sẽ bị Poirot lật tẩy ngay.

    - Vả lại, tôi đâu có bản lĩnh của tội phạm. Tôi sẽ không thể lên nổi một kế hoạch hành động, vì thiếu sự kiên nhẫn, tỉ mỉ cần thiết. Nếu tôi giết ai thì là không có chủ định, chỉ do bột phát nhất thời.

    - Thành ra lại càng khó điều tra làm sáng tỏ.

    - Không hẳn thế. Có khi tôi để lại hàng tá dấu vết xung quanh. Lạy Chúa, tôi không có thiên hướng về tội phạm. Loại người mà tôi cần thấy phải thủ tiêu, ấy là bọn đe doa tống tiền. Bọn ấy phải bị trừ khử không thương tiếc, ông nghĩ thế nào?

    Tôi đáp đồng ý với ông ta về cơ bản.

    Chúng tôi bắt đầu xem xét các công trình đang làm, thì một anh kiến trúc trẻ đến gặp.

    Dinh thự Knatton xây từ thời Tudor chỉ có một bên cánh là xây thêm về sau, và vào năm 1940, sửa thêm hai phòng tắm cổ lỗ.

    Boyd Carrington cho biết bác ông là người ẩn dật yếm thế, suốt đời chỉ sử dụng có một góc nhà. Cũng có là cho hai người cháu đến nghỉ hè ở Knatton. Ông lão không lấy vợ và ăn tiêu dè sẻn, nên gờ đây, trả xong thuế thừa kế, ngài huân tước đứng đầu cả một tài sản kết sù.

    - Ông bác tôi thật là người cô đơn, Boyd Carrington thở dài kết kuận.

    Tôi lặng yên không nói, vì chính tôi cũng thuộc loại người cô đơn. Từ khi người vợ thân yêu mất, tôi luôn cảm thấy mình chỉ là một nửa con người. Một lát sau, tôi dụt dè nói lên cảm nghĩ của mình, Boyd Carrington đáp từ tốn:

    - Tôi thông cảm với ông. Nhưng ông còn đã có cái mà tôi không hề có.

    ông ta ngừng một lát, rồi kể vắn tắt nổi đau khổ của mình. Vợ ông là người tuyệt trần, duyên dáng, song nặng căn di truyền. Hầu như mọi người trong gia đình đều chết vì rượu, và vợ ông cũng không thoát khỏi định mệnh. Chưa đầy một năm sau ngày cưới, nàng mắc chứng nghiện rượu rồi chết. ông không chê trách nàng, vì hiểu nàng khó cưỡng nổi gánh nặng di truyền. Sau khi vợ mất, ông chịu cảnh sống cô đơn, và đã một lần bất hạnh, nên không nghĩ đến việc tục huyền.

    - Có một mình, tôi thấy yên tâm hơn - ông nói. Ông thấy không, nhìn bề ngoài thì vậy, chứ do nỗi bất hạnh ấy làm tôi già đi nhiều.

    Ngừng một lát, ông nói tiếp:

    - Sự thực thì, có một lần, tôi cũng có ý định... nhưng cô gái đó quá trẻ, tôi không nỡ buộc chân cô vào một người đã chán chường như tôi. Tôi quá nhiều tuổi so với nàng... nàng còn như trẻ thơ... xinh đẹp... và trong trắng...

    - Thì cứ để cô ấy quyết định xem sao? Tôi nói.

    - Không nên, mặc dù tôi nghĩ nàng cũng thích tôi. Nhưng, như tôi nói, nàng quá trẻ! Tôi vẫn hình dung như cái hôm tôi gặp lần cuối, đầu nghiêng nghiêng, mắt nhìn tôi... vẻ bỡ ngỡ, bàn tay thon mảnh.

    Một lần nữa, ông lại ngừng bặt. Lời nói ông gợi lên trong tôi hình ảnh thân thuộc mơ hồ, không hiểu tại sao. Rồi giọng ông lại cất lên:

    - Bây giờ, tôi mới thấy mình ngu dại, để lỡ mất cơ hội. Để lúc này tôi chỉ có một mình với tòa nhà mênh mông này, không bóng dáng một người phụ nữ.

    - Cô ấy về sau ra sao? - Tôi hỏi.

    - Ồ... đã lấy chồng, tất nhiên. Còn tôi vẫn kéo dài cuộc đời đơn độc. Quen rồi... nhưng mời ông đi thăm vườn. Không được chăm sóc chu đáo, nhưng vẫn còn đẹp.

    Chúng tôi đi vòng quanh nhà. Knatton quả thực là một dinh cơ rất đẹp, hèn gì mà chủ nó lấy làm hãnh diện. Mặt khác, Boyd Carrington rất quen biết xóm giềng và những người khác trong vùng, mặc dù chắc phải có nhiều người mới đến. Ông đã quen đại tá Luttrell từ nhiều năm trước, và tỏ ý hy vọng việc làm ăn của đại tá ở Styles sẽ có lãi. Ông kể:

    - Khổ cho ông Toby Luttrell lâm vào cảnh túng quẫn. Một người tốt, một quân nhân tốt. Bắn rất giỏi, đã từng đi săn ở châu Phi. Ôi, cái thời tươi đẹp! lúc đó ông ta đã lấy vợ nhưng - may thay! Không mang vợ đi theo, hồi ấy bà còn đẹp lắm. Tuy nhiên, bà ấy thuộc loại lắm mồm. Kỳ thay, một ông chồng mà phải chịu đựng vợ đến thế. Trước đây, quân lính đứng trước mặt ông ta phải rung như cầy sấy, nghiêm lắm. Thế mà bây giờ chính ông ta lại run cầm cập trước vợ. Song phải nói rằng bà ta có đầu óc. Người làm ra tiền ở Styles này, là bà. Ông chồng thì không thạo làm ăn.

    - Đôi lúc cũng hơi phiền - tôi nhận xét - là cái tính băm bổ của bà, lúc nào cũng như muốn vồ lấy người ta.

    Boys Carrington tỏ vẻ thích thú:

    - Ông đã bao giờ chơi bài với bà ta chưa?

    - Ồ, rồi!

    - Nói chung, tôi tránh chơi bài với đàn bà. Ông nên làm theo tôi.

    Tôi kể tối hôm mới đến, tôi và Norton có chơi bài với vợ chồng Luttrell, và cản thấy khó chịu. Boyd nói:

    - Norton, thì tốt. Phải cái tính trầm trầm. Suốt ngày ngắm chim, nhưng anh ta bảo chưa hề giết con chim nào. Phần tôi, chả hiểu thú vị gì cái việc cứ thơ thẩn trong rừng, giơ ống nhòm xem chim.

    Lúc đó tôi chưa biết cái trò tiêu khiển vô hại đó của Norton sẽ đóng một vai trò quan trọng trong các sự việc về sau.
    He Is So Special.........

  8. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 8

    Ngày lại ngày qua đi trong sự chờ đợi đến nóng ruột, nhưng vẫn không có sự gì xảy ra. Tuy nhiên, có một số việc lặt vặt, vài nhận xét, vài mẩu trao đổi hơi là lạ, những chi tiết mà nếu tôi sắp xếp cho khớp lại thì có lẽ tôi đã nhìn sáng rõ hơn.

    Vẫn là Poirot, như thường lệ đã chỉ cho tôi một điều mà tôi hoàn toàn bỏ qua. Tôi phàn nàn đến trăm lần về cái việc ông nhất định giữ bí mật, như thế là chơi không đẹp, từ trước tới nay tôi và ông vẫn thường thông báo tin tức cho nhau, vân vân.

    Poirot sốt ruột đưa tay gạt:

    - Đồng ý rồi, anh bạn, thế là không đẹp, không tin nhau, và có lẽ tôi chơi không đúng luật. Nhưng đây không phải là trò chơi, không phải là thể thao. Anh cố công tìm xem ai là X. Nhưng không phải vì chuyện ấy mà tôi yêu cầu anh đến Styles. Anh không cần mất công vào cái việc vặt ấy, vì tôi đã biết rồi. Cái tôi chưa biết và rất cần biết bây giờ là tên của nạn nhân sắp tới. Mục đích của chúng ta là cố gắng ngăn không để một con người phải chết.

    Tôi hơi hoảng, thong thả đáp:

    - Biết rối ông đã nói thế rồi, nhưng tôi chưa hiểu rõ...

    - Thế thì đến lúc cần phải hiểu. Theo anh, ai sẽ là đối tượng bị nhắm?

    - Tôi hoàn toàn không biết.

    - Anh phải có một ý gì chứ? Nếu không anh ở đây làm gì?

    Tôi nhớ lại những suy nghĩ mà tôi đã nghiền ngẫm về vấn đề này.

    - Giữa nạn nhân và X, tất phải có mối liên quan nào đó. Cho nên nếu ông cho tôi biết X là ai...

    Poirot lắc đầu kiên quyết:

    - Tôi đã chẳng giảu thích cho anh biết phương pháp chủ yếu của tên tội phạm này là gì? Sẽ không có cái gì làm hắn dính líu tới cái chết của nạn nhân, điều ấy là chắc chắn.

    - Ông muốn nói là, mối liên quan giữa nạn nhân và tội phạm được che giấu kỹ?

    - Che giấu rất kỹ, tôi với anh không thể nào tìm ra.

    - Nhưng nếu ta nghiên cứu lý lịch quá khứ của tên X...

    - Không, dù sao thì không kịp, vì tội ác sẽ xảy ra nay mai.

    - Và nạn nhân là một người đang ở trong nhà này?

    - Không còn nghi ngờ gì.

    - Ông thực không biết hắn định giết ai, giết bằng cách nào?

    - A! Nếu tôi biết thì còn nói làm gì... Tôi đã không nhờ anh.

    - Ông nêu giả thuyết như vậy chỉ vì hiện X có mặt ở Styles?

    Trong tôi lúc đó chắc rất ngớ ngẫn, nên Poirot kêu:

    - Khổ lắm, tôi đã nói bao nhiêu lần. Nghe tôi đây, nếu bỗng dưng một lô phóng viên chiến tranh đổ xô đến một nơi nào trên trái đất, như thế nghĩ là gì? Là: chiến tranh! Nếu các thầy thuốc từ nhiều nơi tụ họp ở một thành phố. ta kết luận gì? Rằng sắp có một hội nghị y tế. Khi nhìn thấy diều hâu bay lượn trên không, có thể chắc chắn là có xác chết đâu đó. Anh thấy một người dừng lại bên bờ sông, cởi áo và nhảy tùm xuống nước, có thể suy ra là người đó sắp cứu người chết đuối. Nếu anh ngửi thấy mùi nấu nướng lại trông thấy nhiều người cùng đi một hướng, có thể khẳng định là họ sắp tụ tập để ăn nhậu.

    Tôi suy nghĩ một lát về những ví von ấy, rồi nói:

    - Dù sao một phóng viên chiến tranh không nhất thiết là dấu hiệu của chiến tranh.

    - Tất nhiên rồi, cũng như một con én không làm nên mùa xuân. Nhưng chỉ cần một sát thủ là đủ làm nên tội ác. Hoặc nhiều tội ác!

    Khó mà cãi được. Nhưng tôi chợt nghĩ - và điều này Poirot có vẻ chưa nghĩ ra - một sát thủ có lúc cũng muốn nghỉ ngơi. Có thề X đến Styles chỉ để nghỉ vài ngày hoặc vài tuần, không có ý đồ xấu xa nào. Tuy nhiên, Poirot đang hăng hái, nên tôi không nói ta ý nghĩ ấy, và chỉ thở dài.

    - Chúng ta phải đợi thôi.

    - Chờ và xem, Poirot cười khẩy. Đó là hạ sách. Xin nhớ, tôi không khẳng định là ta sẽ thành công, vì như tôi đã nói, một khi kẻ tội phạm quyết ra tay thì không dễ gì chặn được. Dù sao ta phải cố. Hastings anh hãy tưởng tượng mình đứng trước một ván bài mà anh biết hết cả quân của từng người, rồi thử đoán kết quả sẽ ra sao.

    Tôi lắc đầu.

    - Tôi chịu. Nếu tôi biết X là ai...

    - Thôi nào, sao anh cừng đầu thế. Anh đã nghiên cứu năm vụ án tôi đưa anh đọc. Không biết ai là X, nhưng anh biết cái mẹo hắn dùng để thực hiện những vụ án đó. Mẹo này, hắn sẽ còn dùng nữa.

    - Ồ! Tôi hiểu...

    - Thì đúng là anh hiểu. Nhưng anh mắc cái tội lười suy nghĩ, không bắt trí óc làm việc... Điều cốt yếu trong phương pháp của X là gì? Có phải là khi hoàn thành, vụ án rất hoàn hảo? Có nghĩ là ở đó có động cơ, cơ hội, phương tiện và điều này còn quan trọng hơn, có một "thủ phạm" để sẵn sàng quy tội và kết án.

    Tôi công nhận mình quả là ngốc, và nói:

    - Vậy tôi phải tìm người nào... đáp ứng tất cả các điều kiện đó. Nạn nhân tiềm ẩn.

    Poirot ngả người trên lưng ghế, thở phào:

    - Thế đó! Bây giờ anh đã hiểu nhiệm vụ của mình là gì. Anh năng động, còn đi lại được, bám sát mọi người, nói chuyện với họ, kín đáo theo dõi họ...

    Tôi định cất tiếng phản đối, song lại thôi.

    - Anh có thể nghe các câu chuyện của họ, đầu gối anh còn dẻo, có thể quỳ xuống để nhòm qua lỗ khóa...

    - Tôi không nhòm qua lỗ khóa! - Tôi gắt.

    Poirot lim diêm đôi mắt.

    - Được. Anh không nhìn qua lỗ khóa, anh giữ đúng phong cách quân tử phong nhã nước Anh, và một người sẽ bị giết. Nhưng anh không quan tâm điều đó. Với người Anh, danh dự được đặt lên hàng đầu. Và danh dự của anh đáng giá hơn tính mạng một con người. Được rồi. Tôi hiểu.

    - Nhưng Poirot...

    - Anh ra đi, và gọi Curtiss cho tôi - giọng Poirot lạnh nhạt. Anh thật cố chấp, đã thế lại cực kỳ ngốc. Tôi muốn có người khác đáng tin cậy hơn, nhưng đành phải nhờ đến anh, tạm chịu đựng ý kiến vớ vẩn của anh về quân tử hão. Anh không có tế bào xám nên không sử dụng được, ít nhất thì anh cũng có tai, mắt và nếu cần, cả mũi nữa. Vậy hãy sử dụng chúng trong phạm vi những quan niệm của anh về danh dự cho phép.

    ° ° °

    Đến hôm sau, tôi mạnh dạn trình bày với Poirot một ý nghĩ nhiều lần thoáng qua đầu óc. Tôi vừa trình bày vừa thăm dò, vì không biết ông sẽ phản ứng ra sao:

    - Tôi đã suy nghĩ. Tất nhiên tôi không phải con người xuất sắc, ông còn cho tôi là ngu ngốc nữa. Kể có phần đúng: tôi chỉ là một nửa con người của tôi trước kia. Từ khi vợ tôi mất...

    Tôi ngừng lại. Poirot hầm hừ tỏ vẻ thông cảm. Tôi tiếp:

    - Song tôi nghĩ, ở đây có một người rất cần cho ông. Có trí tuệ, óc tưởng tượng, có khả năng. Tính quyết đoán, nhiều kinh nghiệm. Đó là Boyd Carrington. Ông ta có thể giúp ích. Ông hãy trao đổi với ông ta, kể tất cả câu chuyện.

    Poirot nhìn tôi một lúc rồi tuyên bố:

    - Nhất định không.

    - Tại sao? Ít nhất ông ta cũng thông minh hơn tôi.

    - Hãy bỏ ý kiến đó đi, anh Hastings. Chúng ta không chia sẻ bí mật với ai hết, anh nên hiểu rõ điều đó. Tôi cấm anh không nói chuyện này với ai.

    - Được rồi, vì ông muốn thế. Nhưng Boyd Carrington thực sự...

    - Ô là la! Không hiểu tại sao anh mê Boyd carrington đến thế. Ông ta là cái gì? Một anh chàng tự mãn vì luôn được xưng tụng là "ngài" khi còn làm thống đốc. Tôi đồng ý hắn tế nhị và có duyên nhưng không có gì đặc sắc. Hắn hay lặp đi lặp lại, kể đến hai lần liên tiếp một câu chuyện, trí nhớ hắn lại kém đến mức tuôn ra mẩu chuyện mà chính anh đã kể cho hắn nghe mấy hôm trước. Một người xuất chúng hơn người thường ư? Đâu có. Một anh lải nhải đến chán tai, một quả bóng toàn hơi, một tên người nộm độn cát!

    Đúng là Boyd Carrington có trí nhớ kém. Tôi chợt nhớ một lần ông ta bị hố, và Poirot có định kiến từ đó. Poirot kể cho ông ta nghe một câu chuyện từ thời ông còn làm ở Sở Cảnh sát Bỉ, thế mà chỉ hai hôm sau, lúc mọi người tụ tập trong vườn, Boyd Carrington kể lại đúng mẩu chuyện ấy cho Poirot khoe rằng nghe được từ một cảnh sát Pháp.

    Tôi không nói gì hơn nữa, và rút lui.

    Tôi đi xuống vườn. Không có ai. Tôi qua bãi cỏ và một bụi cây, trèo lên một mô đất trên đó có một nhà kính vốn để trồng rau nhưng nay đã tàn tạ. Tôi ngồi xuống ghế, châm thuốc và suy nghĩ.

    Ở Styles này, ai có lý do để giết ai? Quả thực tôi không thấy có người nào. Phiền một điều, là tôi không có đủ thông tin về tất cả những người ở đây. Những động cơ nào xui khiến người ta giết người? Tiền bạc, ghen tuông, thù hận.

    Boyd carrington có vẻ là người giàu có nhất ở đây. Nếu ông ta chết ai sẽ thừa kế tài sản? Một người nào hiện có mặt ở Styles? Không có khả năng ấy, dù sao cần phải làm rõ. Có thể ông ta để lại gia tài cho công việc khoa học và chỉ định Franklin là người thừa kế chính thức? Ghép với cái lý thuyết ngông cuồng của ông bác sĩ này cần thủ tiêu tám mươi phần trăm nhân loại, có thể đặt Boyd Carrington vào tình thế cực kỳ nguy hiểm.

    Cũng có thể Norton, hay cô Cole là những họ hàng xa, sẽ thừa kế. Giả thuyết hơi gượng ép, song có thể xem xét.

    Và đại tá Luttrell từng là bạn cố tri của Boyd Carrington biết đâu ông chả có tên trong danh sách kế thừa của ngài huân tước?

    Tôi tính tiếp đến những giả thuyết lãng mạn. Bà Franklin đau yếu, nhưng đâu là nguyên do làm sức khỏe bà suy sụp? Bà bị chồng đầu độc từ từ chăng? Là bác sĩ, Franklin thừa sức làm việc đó. Nhưng động cơ là gì? Bỗng một nỗi lo âu kinh khủng thoáng qua óc tôi khi nghĩ Judith có thể dính vào chuyện này. Tôi có đầy đủ cơ sở để tin mối quan hệ giữa con gái tôi và Franklin hoàn toàn chỉ có tính nghề nghiệp. Nhưng liệu dư luận có tin như vậy? Một sĩ quan cảnh sát ngốc ngếch nào đó sẽ đặt vấn đề nghi ngờ. Xưa nay bao nhiêu cô trợ lý trẻ đẹp chẳng là nguyên nhân gián tiếp của những cuộc ám hại đó sao? Nghĩ thế, tôi phát hoảng.

    Rồi tôi xét đến trườg hợp Allerton. Người nào có lý do để thủ tiêu anh ta? Nếu nhất định sẽ phải có một vụ giết người - như Poirot tin chắc - có lẽ tôi muốn Allerton là nạn nhân hơn là người khác. Có thể tìm thấy nhiều lý do để người ta muốn hắn chết. Cô Cole tuy không còn trẻ, vẫn là người đàn bà đẹp. Nếu tìm ra được cô ta đã từng là tình nhân của Allerton một thời gian nào đó, ta có thể nghĩ cô sẽ hành động vì ghen tuông. Nhưng chẳng có lý do gì để tin chuyện đó là thực. Vả lại, ta đang nghi Allerton chính là tên X bí ẩn kia mà...

    Tôi lắc đầu sốt ruột. Rối như tơ vò. Có tiếng chân bước trên sỏi ở bên dưới, làm tôi chú ý. Đó là Franklin đang rảo bước về nhà, đầu cúi xuống, hai tay đút túi, nom vẻ mệt mỏi, buồn bã. Bây giờ tôi mới chợt nhận ra là ông ta có vẻ thực sự đau khổ.

    Mải nhìn ông ta, bỗng cô Cole xuất hiện ngay gần mà tôi không biết.

    - ồ, cô đến lúc nào mà tôi không nghe tiếng chân - tôi vội nói để giải thích sự giật mình.

    Có liếc nhìn cái nhà kính, nhận xét:

    - Một di vật từ thời Victoria để lại.

    - Đầy những mạng nhện. Nếu cô cần ngồi, để tôi phủi bụi.

    Tôi thầm nghĩ: đây là dịp để ta tìm hiểu hơn những con người ở đây. Vừa phủi bụi chiếc ghế gỗ tôi vừa liếc mắt quan sát cô bạn. Giữa băm nhăm và bốn mươi, mặt gầy nhìn nghiêng khá thanh tú, mắt rất đẹp. Cô có vẻ khép nép, luôn giữ thế. hẳn người đàn bà này đã đau khổ nhiều, do đó cảnh giác với cuộc đời. Tôi quyết tâm tìm hiểu nhiều hơn về con người này.

    Lấy mùi xoa phủi bụi một nhát cuối lên ghế tôi nói:

    - Xong! Không thể làm sạch hơn.

    - Cám ơn ông.

    Cô mỉm cười và ngồi xuống. Tôi ngồi bên cạnh. Cái ghế ọp ẹp nhưng may không làm sao. Cô Cole hỏi:

    - Lúc tôi tới, ông đang nghĩ gì vậy? Có vẻ như đang suy tưởng ghê lắm.

    - Tôi nhìn theo bác sĩ Franklin, tôi thong thả đáp.

    - À ra vậy?

    Tôi thấy không có lý do gì để không nói lên điều đang suy nghĩ:

    - Và đột nhiên tôi cảm thấy ông ấy có vẻ không hạnh phúc.

    - Thì đúng vậy còn gì? - Cô bạn bình thản đáp - bây giờ ông mới thấy ư?

    Tôi hơi ngạc nhiên, lúng túng.

    - Ơ... quả thật, không. Tôi cứ tưởng ông chỉ chú tâm đến công việc.

    - Và sự thật cũng đúng là thế.

    - Và theo cô, vì thế mà ông ấy khổ sở ư? Tôi tưởng trái lại, một người như ông ấy phải hạnh phúc lắm.

    - Tôi không phản đối. Song với điều kiện là công việc không bị ngăn trở, được làm việc hết mình.

    Tôi tò mò nhìn cô.

    - Mùa thu vừa rồi, cô nói tiếp, bác sĩ Franklin được mời sang Châu Phi tiếp tục nghiên cứu. Ông ấy là nhà khoa học có tầm cỡ, từng có những công trình xuất sắc trong lĩnh vực y học nhiệt đới.

    - Vậy sao ông không đi?

    - Bà vợ phản đối. Bà cho mình không hợp với khí hậu bên đó, và không muốn ở lại Anh một mình. Với lại kinh tế sẽ eo hẹp , vì lương lậu bên đó không cao.

    - Và ông ấy cho là mình không thể đi, do sức khỏe của vợ?

    - Ông Hastings, ông hiểu về sức khỏe của bà ấy thế nào?

    - Ồ, không rõ lắm. Chỉ biết là bà ốm, có phải không?

    - Bà ấy thích được như thế.

    Giọng nói sẵng của cô Cole làm tôi hiểu là cô không ưa bà Franklin, mà cảm thông với ông bác sĩ. Tôi ngập ngừng nói:

    - Phụ nữ đau yếu thường dễ sinh ích lỷ.

    - Phải rồi. người ốm - là tôi nói người ốm thực - thường tỏ ra hơi ích kỷ. Ta chẳng thể trách họ.

    - Vậy cô cho là tình hình bà Franklin không có gì nghiêm trọng.

    - Ôi, tôi kông dám khẳng định. Chỉ hơi nghi một chút thôi. Nhưng trường hợp nào bà cũng làm theo ý mình.

    - Xem ra cô hiểu vợ chồng Franklin lắm? - Tôi thăm dò.

    - Không đâu. Trước khi đến đây, tôi chỉ mới gặp họ một, hai lần. Những gì tôi nói là do con gái ông kể.

    Lòng tôi hơi chua chát khi nghĩ Judith dễ dàng tâm sự với người lạ hơn với bố. Cô Cole nói tiếp:

    - Cô Judith rất tận tụy với thầy, và rất không tán thành sự ích kỷ của bà Franklin.

    - Cô cũng cho là bà ấy ích kỷ.

    - Phải. Nhưng tôi thông cảm với bà, và cũng thông cảm với thái độ nhường nhịn của ông Franklin. Cô Judith cho rằng ông cứ nên nghiên cứu bất chấp mọi sự. Cô ấy là một nhà khoa học say mê.

    - Tôi biết - Tôi nói giọng buồn bã. Và điều ấy đôi khi làm tôi lo. Có cái gì không... tự nhiên. Có thể tôi nói không rõ, song theo tôi, nó phải... con người hơn, phải sống vui, giải trí... yêu một hay hai đứa con trai. Dù sao, tuổi trẻ là thời gian vui chơi chứ không phải suốt ngày cúi xuống mấy cái ống nghiệm. Không, không hợp tự nhiên. Thời trẻ chúng tôi nô đùa, tán tỉnh nhau, cô biết đấy...

    Một lát im lặng, rồi cô Cole thốt ra lời lạnh như băng:

    - Không, tôi không biết.

    Tôi chưng hửng. Vô ý thức, tôi đã chuyện trò với cô Cole như với người đồng tuế, nay mới chợt nhận ra rằng cô kém tôi dễ tới mười lăm tuổi. Tôi đã thiếu tế nhị mà không biết. Tôi định nói chữa, tôi đã ngắt lời.

    - Không hề chi. Tôi nói thật lòng: tôi không biết. Tôi không hề có cái mà ông gọi là "tuổi trẻ", và không hề được "vui chơi".

    Tôi không biết nói gì trước những lời chua chát đó, chỉ lí nhí một câu xin lỗi. Cô cười nhợt nhạt:

    - ồ, không sao. Đừng thắc mắc gì, ta nói chuyện khác.

    Tôi vội vã chuyển đề tài:

    - Cô biết rõ những người khác ở đây?

    - Tôi biết ông bà Luttrell từ lúc còn bé, nay thấy họ phải làm ăn thế này tôi thấy buồn. Buồn nhất là cho ông ấy, vì ông ấy rất tốt. Còn bà, thì bề ngoài thế thôi, chứ cũng dễ thương. Chỉ vì suốt đởi phải sống dè sẻn, eo hẹp nên bà mới sinh ra keo bẩn. Nếu ông luôn luôn phải tính từng đồng, thì rồi cũng thế thôi. Tôi chỉ không ưa bà ở chỗ cứ làm ra vẻ vồ vập.

    - Còn ông Norton thế nào?

    - Cũng chả có gì đáng nói. Ông ta tốt, hơi nhút nhát, và... có lẽ không sáng trí lắm. Vả lại ông ấy cũng không khỏe. Sống với mẹ, một bà mẹ đần độn và cáu kỉnh, đe nẹt con từng tí. Bà ấy chết đã được mấy năm. Ông ta mê chim, hoa và những thứ tương tự. Ông ta thật tốt, và nhìn được nhiều thứ.

    - Nhìn qua ống nhòm?

    Cô Cole cười:

    - Tôi không nói thế. Chỉ muốn bảo là ông ta nhận xét nhiều thứ như một con người bình tĩnh, mực thước. Ông ấy khoan dung, biết quan tâm đến mọi người. Nhưng tính hơi... thiếu quyết đoán. Tôi nói vậy, không biết ông có hiểu không.

    - Hiểu, tôi hiểu cô muốn nói gì.

    Giọng cô lại trở nên chua chát:

    - Các nhà trọ kiểu này, chủ đã là người trên đường tàn lụi, thì khách trọ cũng toàn những kẻ thất bại trong cuộc đời, mệt mỏi, chán nản.

    Lòng tôi tràn ngập một nỗi buồn. Đúng vậy thay! Chúng tôi ở đây là một mớ người đã tàn, tóc muối tiêu, đầu óc mông lung. Bản thân tôi cô đơn, chán chường, và người phụ nữ trẻ ở cạnh tôi lúc này cũng đầy chua chát và thất vọng. Bác sĩ Franklin bị ngăn trở trong công việc, vợ ốm. Chàng Norton hiền lành tập tễnh đi ngắm chim qua ống nhòm. Poirot đã một thời oanh liệt, nay là một ông già tàn tật.

    Ngày xưa, khi tôi tới Styles lần đầu mọi sự đâu có thế! Tôi thở dài luyến tiếc.

    - ông làm sao vậy? - Cô Cole hỏi.

    - Không. Cô biết đấy, hồi trẻ tôi đã ở đây và tôi nghĩ đến sự tương phản giữa ngày xưa và ngày nay.

    - Chắn hồi ấy, mọi người đều hạnh phúc.

    Thật kỳ lạ, kỷ niệm xưa có vẻ như lẫn lộn, đan xen với nhau như hình ảnh kính vạn hoa. Và tôi nhận ra sự luyến tiếc của mình về quá khứ thực ra chỉ là vì tình yêu quá khứ, chứ không phải vì bản thân các sự việc. Vì, ngay hồi đó, làm gì có hạnh phúc thực sự ở Styles. Tôi nhớ lại từng người và thấy mọi người đều có những lo âu, ấm ức riêng. Và bây giờ cũng vậy. Tôi nói:

    - Có lẽ tôi đã bị tình cảm lãng mạn ru ngủ. Thực ra, ở đây chưa ai hạnh phúc cả. Trước đây cũng như bây giờ.

    - Con gái ông....

    - Judith cũng không hạnh phúc.

    Tôi nói những lời ấy mà không sợ sai. Không Judith không hạnh phúc.

    - Hôm rồi Boyd Carrington nói với tôi rằng ông ấy cảm thấy cô đơn. Song xem ra ở đây ông có vẻ thích thú.

    - Ngài William khác những người khác. Ông không thuộc loại người như chúng ta. ông đến từ bên ngoài, từ một thế giới thành đạt. Ông ấy đã có danh trên đời, và tự biết điều đó. Ông ấy không... tàn tật.

    Tôi quay lại cô, ngạc nhiên:

    - Sao lại cùng từ đó?

    - Vì đúng sự thật là thế. Như tôi đây, tôi là một kẻ tàn tật.

    - Có nghĩ là cô cũng không hạnh phúc?

    - Ông chưa biết tôi là ai, có phải không? - Cô Cole bỗng hỏi tôi

    - Ồ... tôi biết tên cô.

    - Cole không phhải họ của tôi... Đó là... họ của mẹ tôi. Sau này tôi đổi lấy họ mẹ. Họ thực sự của tôi là licthfield.

    Tôi không liên tưởng được ngay lập tức, chỉ cũng thấy cái tên cái quen quen thế thôi. Sau tôi nhớ ra, lẩm bẩm:

    - Matthew Litchfield.

    Cô gật đầu:

    - Vậy là ông cũng biết. Bây giờ ông hiểu lúc nãy tôi muốn nói gì. Cha tôi là một người có bệnh và là một người tàn bạo. Ông không cho chúng tôi hưởng cuộc sống bình thường: cấm chúng tôi đi chơi, cấm không được có bạn, kể cả bạn gái. Không cho chúng tôi tiền tiêu, mặc dù ông rất giầu...

    Cô ngừng lời, đôi mắt đẹp tối sầm xuống:

    - Và thế là, chị tôi... chị tôi...

    Cô lại ngừng.

    - Cô khỏi nói, nói làm gì thêm buồn. Tôi biết chuyện rồi, do đó gợi lại những kỷ niệm đau đớn là cô ích.

    - ông không thể biết hết đâu. Chị Maggie... Ôi, không thể tưởng tượng, không thể tin. Tất nhiên, chị đã tự ra nộp mình với cảnh sát, đã thú nhận hết. Nhưng đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thể tin. Không hiểu tại sao, có vẻ như đó không phải là sự thật, mọi việc không thể xảy ra như chị đã khai báo.

    - Cô muốn nói là các sự việc mâu thuẫn với lời nói của chị?

    - Không, không. Đúng chị Maggie đã... Nhưng việc đó không hợp với tính chị. Không phải đúng là chị.

    Môi tôi mấp mấy định nói mấy lời, nhưng lại thôi. Chưa phải lúc để tôi nói với cô Elizabeth Cole: "Cô nói đúng: Không phải là Maggie..."
    He Is So Special.........

  9. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 9

    Lúc đó vào khoảng sáu giờ, tôi nghe thấy ông Luttrell đi trên đường mòn, vai khoác khẩu súng săn nòng nhỏ. Tay ông xách hai con bồ câu rừng vừa săn được. Tôi gọi thì ông giật nảy mình, ngạc nhiên sao chúng tôi lại ở đây?

    - Ô! Các vị làm gì thế? Cái nhà kính cũ này ọp ẹp lắm, đổ lúc nào không biết. Vả lại, cô Cole ạ, cô sẽ bị lấm lem hết.

    - Không hề gì - cô đáp. Đại úy Hastings đã hy sinh một chiếc khăn tay phủi bụi cho tôi rồi.

    - thật à? Thế thì tốt. Ông đại tá nói.

    Chúng tôi đứng lên, lại gần ông. Ông có vẻ đăm chiêu, lơ đãng.

    - Tôi đi bắn hạ hai con bồ câu rừng chết tiệt này. Các vị không biết chúng gây tác hại thế nào đâu.

    - Tôi nghe nói ông bắn giỏi. - Tôi nói

    - Ai bảo ông thế? Chắc là Boyd Carrington. Xưa kia thì thế đấy. Bây giờ kém rồi. Tuổi tác mà.

    - Mắt bị kém chăng? - Tôi hỏi, cho có chuyện.

    - Không đâu. Mắt vẫn tinh. Tất nhiên khi đọc báo phải đeo kính, nhưng nhìn xa thì vẫn rõ.

    Im lặng một lát. Cô Cole nhìn khung cảnh xung quanh:

    - Chiều nay trời đẹp quá.

    Mặt trời từ từ lặn về tây, làm rực đỏ một khoảng trời. Đây là một trong những buổi chiều êm ả ở nước Anh, nếu ta phải đi xa sang xứ nhiệt đới nào đó sẽ rất nhớ. Tôi nói ra ý nghĩ đó, ông đại tá lập tức đồng tình:

    - Đúng, ông nói đúng. Ngày trước khi còn ở Ấn Độ, tôi thường hay nhớ về những buổi chiều như thế này. Và lúc đó chỉ mong sớm hưu trí, để được về nước sống ổn định...

    Tôi gật đầu tán đồng; ông lại nói tiếp, giọng ngao ngán:

    - Phải, sống yên ổn... ở nhà mình... Nhưng khi chuyện ấy đến, mọi thứ lại không giống như mình tưởng...

    Tôi nghĩ bụng trường hợp ông đại tá có như thế thật. Hẳn ông không thể ngờ một ngày kia mình trở thành một lão chủ trọ, cạnh một bà vợ quàu quạu luôn lấn át, mắng nhiết ông.

    Chúng tôi thong thả đi về nhà. Norton và Boyd Carrington đang ngồi dưới hàng hiên. Đại tá và tôi sà vào chỗ họ, còn cô Cole vào trong nhà.

    Chúng tôi cùng nhau chuyện trò một lúc. Luttrell có vẻ tươi hơn, còn đùa cợt một hai lần. Chưa bao giờ tôi thấy ông vui như vậy.

    - Hôm nay trời nóng quá - Norton nói. Tôi khát cháy họng.

    - Thế thì để tôi khao mỗi người một ly, Littrell nói.

    Ông đứng lên, đi vào phòng ăn. Chúng tôi ngồi ngay trước cửa sổ, nghe thấy tiếng ông mở tủ lấy chai rượu. Một lát sau, lại nghe tiếng bật nắp.

    Bỗng vang lên tiếng bà Luttrell the thé:

    - George ông làm gì đó?

    Đại tá lúng búng đáp lại gì không rõ, chỉ nghe mấy tiếng: các ông bạn... cụng ly một chút...

    Rồi lại tiếng bà vợ, cau có, gắt gỏng:

    - Không được, ông George! Mời ăn uống khắp bàn dân thiên hạ, có mà sạt nghiệp! Ai uống đều phải trả tiền. Ông chẳng hiểu gì cả, tôi phải theo sát ông từng bước như trẻ con. Thật quá quắt. Ông không có chút suy xét gì. Đưa cái chai cho tôi!... Đưa đây, bảo mà!

    Ông đại tá lí nhí một câu phản đối gì đó không nghe rõ, nhưng tiếng bà vợ lại át đi:

    - Mặc kệ. Tôi đã bảo: để lại chai vào tủ!

    Rồi có tiếng chìa khóa khóa đánh tách.

    - Thế là xong.

    Lần này, chúng tôi nghe rõ hơn tiếng đại tá:

    - Bà quá đáng vừa vừa chứ, tôi không chịu mãi đâu.

    - Không chịu? Ông là ai mà ra lệnh cho tôi? Ai quản cái nhà này? Chính là tôi, ông chớ có quên.

    Một lát sau, Luttrell mới xuất hiện ở ngoài thềm. Trông ông già hẳn đi, thật thảm hại. Ông gượng gạo:

    - Đáng tiếc các bạn ạ, hình như trong kia không còn rượu.

    Cũng lạ, hẳn ông phải nhận ra là chúng tôi đã nghe thấy phần nào tiếng vang cuộc cãi vã vừa rồi. Nếu không, ông cứ nhìn thái độ chúng tôi thì đủ biết, vì chúng tôi hết sức ngượng thay cho ông. Norton lại còn vụng về đến mức tuyên bố không muốn uống gì trước bữa ăn. Tôi lúng túng không biết nói gì, còn Boyd Carrington - lẽ ra phải là người biết cứu vãng tình thế - cũng bất động.

    Liếc mắt nhìn, tôi thấy bà Luttrell xăm xăm đi ra vườn, tay đeo găng cao su và cầm một cái giẫy cỏ. Rõ ràng là một phụ nữ tháo vát, có uy quyền. Song thú thật lúc đó tôi chê trách bà nhiều hơn. Vì tôi cho rằng một người không có quyền miệt thị một người khác.

    Norton nói lăng nhăng vài câu không đầu không đuôi, rồi nhặt một con bồ câu rừng của Luttrell nhấc lên và kể hồi còn đi học, anh đã bị bạn bè chế nhạo, vì buồn nôn không dám nhìn một con thỏ bị lột da. Rồi lại dài dòng kể lể một chuyến đi sắn ở Xcốtlen, có một thợ săn bị bắn nhầm và thiệt mạng. Cuối cùng, Boyd Carrington hắng giọng nói:

    - Một lần, xảy ra một chuyện kỳ cục với một sĩ quan hầu cận của tôi. Anh ta đi phép về, tôi hỏi có vui không: "Thưa ngài, đây là kỳ nghỉ phép tuyệt với nhất." - "Tốt"- tôi đáp, hơi ngạc nhiên vì sự phấn khởi của anh ta. Hắn tiếp: "Kỳ nghỉ phép tuyệt vời, tôi đã giết anh tôi" - "Hả? Ngươi đã giết anh?" - "Thưa ông, tôi đã muốn giết từ lâu, và lần này đã thực hiện. Lúc đó tôi đang đứng trên mái nhà, thấy anh ta đi ở phía dưới . Tay tôi lại đang cầm súng. Dịp may hiếm có! Thế là tôi bắn đòm, như bắn một con thỏ."

    Boyd Carrington kể chuyện có duyên, làm chúng tôi cười mãi. Khi ông ta bỏ đi, nói là cần đi dạo trước bữa ăn, Norton phát biểu ý kiến một cách hào hứng:

    - Ông này hay thật!

    Tôi gật gù. Và Luttrell cũng tán đồng ý kiến ấy. Norton tiếp:

    - Và ông ta làm gì cũng thành công. Đầu óc vững vàng, đó là một con người hành động.

    - Một số người là như thế - Luttrell nói. Làm đâu được đấy. Dường như không bao giờ mắc sai lầm... Đúng, có những người luôn gặp may.

    Norton lắn đầu lia lịa:

    - Không, không, không phải vấn đề may rủi. "Hỡi Brutus số mệnh chúng ta không phải ở các vì sao, mà ở tại chính mình". (Note: Trích trong kịch "Jules César")

    - Có thể anh nói đúng. - Đại tá thở dài.

    - Dù sao, ông ta có may mắn được thừa hưởng dinh cơ của ông bác - tôi nói. Một dinh cơ tuyệt vời. Nhưng ông ta phải lấy vợ nữa thôi. Có một mình trong cái dinh cơ mênh mông ấy, kể cũng chán.

    Norton cười:

    - Lại lấy vợ và tu tỉnh ư? Nhưng nếu ông ta lại bị vợ dắt mũi:

    Trước mặt Luttrell lẽ ra không nên nói như thế, và Norton biết mình đã lỡ miệng. Anh định chữa lại, nói lấp liếm vài câu ngớ ngẫn rồi ngượng nghịu im bặt, làm không khí thêm nặng.

    Tôi cố cứu vãn tình thế, xoay ra nói chuyện thời tiết và Norton nói muốn chơi bài sau bữa ăn.

    Tuy nhiên, ông đại tá không động lòng, bình thản nói:

    - Boyd Carrington không chịu như thế đâu. Đàn bà nào lấn át được ông ấy!

    Thật khó nói. Đúng lúc ấy, một con chim rừng vụt qua đầu chúng tôi rồi đậu xuống một cành cây, cách đó ích bước.

    Đại tá vớ khẩu súng:

    - Lại cái giống chim chết tiệt!

    Nhưng ông chưa kịp ngắm, con chim đã cụt bay lên và đậu xuống xa hơn, ngoài tầm súng. Luttrell vẫn chú ý đến một vật gì đụng đậy phía xa, bên kia vạt cỏ. Ông kêu:

    - Trời ơi! Như có một con thỏ đang phá phách cái cây tôi mới trồng.

    Ông giương súng, ngắm nhanh và bóp cò. Có tiếng phụ nữ the thé cất lên, tiếp theo là tiếng kêu rên.

    Cây súng tuột khỏi tay Luttrell, mặt ông thất sắc:

    - Chết rồi, bà Daisy nhà tôi...

    Tôi và Norton lập tức băng qua bãi cỏ, và lát sau đã ở bên bà Luttrell. Lúc súng nổ, bà đang quỳ xuống buộc một cây con vào cọc. Cỏ chỗ đó khá cao, trời lại chạng vạng tối, nên ông đại tá chỉ nhìn thấy có vật xao động mà không nhìn rõ là vợ.

    Bà Luttrell bị bắn trúng vào tai. Tôi cúi xuống để xem vết thương, rồi ngước mắt nhìn Norton. Anh ta đứng tực gốc cây, mặt xám nhợt như sắp bị ngất.

    - Nhìn thấy máu là tôi không chịu được, anh ta thều thào.

    - Đi tìm ông Franklin mau! Hay cô y tá - tôi ra lệnh.

    Anh ta chạy đi.

    Cô Craven đến trước tiên, tìm cách cầm lại máu. Rồi đến lượt Franklin. Hai người khiên bà Luttrell về nhà, đưa lên phòng. Ông bác sĩ sát trùng và băng bó vết thương, rồi đi gọi ông bác sĩ quen thường chăm sóc bà Luttrell. Tôi gặp ông ngoài sảnh lúc ông đặt máy xuống.

    - Có nghiêm trọng không? - Tôi hỏi.

    - Không. Sớm bình phục thôi. Đạn không vào chỗ phạm. Chuyện xảy ra thế nào?

    Tôi kể lại tóm tắt.

    - Hừm! Ra là thế. Lúc này ông Luttrell ở đâu? Chắc đang bị sốc. Ông ấy cũng cần được chăm sóc như vợ. Tim ông không khỏe đâu.

    Chúng tôi thấy ông đại tá ở phòng ngoài, mặt xanh như tàu là, toàn thân đờ đẫn.

    - Bà ấy... sao rồi? - Ông thều thào.

    Bác sĩ Frnklin trấn an:

    - Không sao đâu, đừng lo.

    - Tôi tưởng... tưởng... con thỏ. Không hiểu sao lại nhìn gà hóa cuốc vậy. Có lẽ mắt bị lóa mặt trời...

    - Tai nạn như thế không hiếm, bác sĩ nói. Tôi đã từng chứng kiến hai, ba trường hợp tương tự. Để tôi cho ông viên thuốc an thần, ông không được khỏe.

    - Tôi không sao. Có vào thăm... bà ấy được không?

    - Chưa nên vội. Bác sĩ Oliver sắp đến, chắc ông cũng khuyên như thế.

    Tôi để hai người ở đó đi ra vườn. Allerton đi ngược chiều về phía tôi. Anh chàng đang ghé sát vào con gái tôi, và cả hai đều cười. Vừa xảy ra chuyện bà Luttrell, cảnh ấy làm tôi nổi nón hơn bình thường. Tôi gắt gỏng, gọi Judith. Nó ngạc nhiên ngẩnh đầu, lại gần tôi. Tôi kể lại vắn tắt câu chuyện.

    - Kỳ lạ thật! Judith kêu.

    Nó chỉ phản ứng có vậy, và tôi có cảm giác nó không mảy may xúc động. Phản ứng của Allerton lại càng đáng giận. Hắn dửng dưng như không, dường như đây chỉ là chuyện đùa:

    - Mụ phù thủy ấy đáng đời, tôi cho ông lão làm thế là cố tình.

    - Không phải! Tôi kêu to. Chỉ là tai nạn.

    - Tôi biết loại tai nạn ấy rồi. Rất tiện lợi trong một số trường hợp. Nói thật, nếu lão Luttrell cố tình làm, tôi xin gả mũ chào.

    - Không thể thế! Tôi nói gần như quát.

    - ông chớ tin chắc vậy. Tôi biết có hai người đàn ông giết vợ. Một anh giở súng ra lau. Anh ta bắn thẳng thừng, để "đùa". Khi bào chữa, anh ta nói là vô tình không biết là súng đã lên đạn. Cả hai anh đều thoát, thần tình không?

    - Đại tá Luttrell không phải loại người ấy. - tôi nói

    - Tuy nhiên ông phải công nhận, nếu bà ấy chết, thì lão Luttrell cũng nhẹ mình. Họ chả vừa cãi nhau thì phải?

    Tôi quay gót để giấu nỗi băn khoăn bắt đầu xăm chiếm lòng tôi. Allerton đã nói ra phần nào sự thật chăng? Lần đầu tiên trong đầu óc tôi nảy ra nghi hoặc.

    Thế rồi tôi gặp Boyd Carrington đi dạo trở về. Tôi kể lại chuyện vừa xảy ra, ông ta nói luôn:

    - Ông nghĩ rằng ông ta cố tình bắn vợ, phải không?

    - Này, sao ông nói thế?

    - Xin lỗi. Lẽ ra không nên nói vậy. Nhưng vừa nghe, tôi đã nảy ra ý nghĩ... Ông nhớ không, bà ấy vừa sàn sạt với chồng.

    Chúng tôi im lặng, hồi tưởng lại cái cảnh mà chúng tôi đã nghe được giữa hai vợ chồng. Cuối cùng tôi về nhà, đến gõ cửa phòng Poirot.

    Poirot đã biết chuyện - do Curtiss nói - nhưng đang sốt ruột chờ tôi về để tìm hiểu chi tiết. Từ khi tới đây, đã thành thói quen là tôi tường thuật lại cho Poirot những gì tôi nắm được qua chuyện trò với người này người kia. Như vậy tôi làm cho ông bạn già của tôi đỡ cảm thấy bị tách biệt, vẫn tham gia vào cuộc sống thường nhật của người. Vốn có trí nhớ khá tốt, tôi cố gắng nói lại nguyên si những ý kiến, những nhận xét mà tôi nghe được. Poirot nghe rất chăm chú và tôi chờ xem ông có chia sẻ với tôi mối nghi ngờ vừa chớm nở không. Song ông chưa kịp có ý kiến thì có tiếng gõ cửa khe khẽ.

    Đó là cô Craven. Cô xin lỗi và giải thích.

    - Tôi tưởng bác sĩ có ở đây. Bà Luttrell đã tỉnh, đang muốn gặp chồng. Đại úy Hastings, ông có biết tìm ông ấy ở đâu? Tôi, thì không bỏ con bệnh của tôi được.

    Tôi nhận đi tìm ông đại úy. Poirot gật đầu đồng tình và cô Craven thì cám ơn rối rít.

    Ông Luttrell ở trong phòng ăn nhỏ, ít khi dùng đến. Ông đứng trước cửa sổ, đăm đăm nhìn ra vườn. Tôi vào, ông quay phắt lại nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:

    - Bà nhà đã tỉnh, đang muốn gặp ông.

    Vẻ nhớn nhác trong đôi mắt như dịu bớt. Ông lắp bắp:

    - Bà ấy... hỏi tôi? Tôi... tôi đến ngay.

    Ông đi về phía cửa, dáng bộ lảo đảo khiến tôi phải chạy lại đỡ. Ông dựa vào cánh tay tôi, cùng lên thang gác. Ông thở hồng hộc, và tôi thấy lời bác sĩ Franklin nói về sức khỏe của ông là đúng. Tôi gõ cửa phòng bà Lutrell. Tiếng nói trong trẻo của cô Craven cất lên:

    - Cứ vào.

    Bà Luttrell nằm trên giường, mặt xanh xao mắt ngắm nghiền. Nghe chúng tôi vào, bà mở mắt gọi thều thào.

    - George... ông George...

    - Bà Daisy, tôi đây...

    Một cánh tay của bà Luttrell phải băng bó, bất động. Bằng tay kia, bà ra hiệu cho chồng. Ông tiến đến, cầm tay vợ, nhắc lại:

    - Daisy...

    Nhìn nỗi lo âu và niềm thưong mến ánh lên trong đôi mắt ướt dầm đìa của ông, tôi thấy xấu hổ vì sự nghi ngờ vừa rồi. Tôi lặng lẽ rút lui, lòng thanh thản.

    Tôi đang đi dọc hành lang thì tiếng cồng làm tôi giật mình. Tôi đã quên hết giờ giấc. Tai nạn vừa rồi đã làm xáo lộn cả nhà, song nhà bếp vẫn không quên nhiệm vụ và bữa ăn vẫn dọn đúng giờ.

    Phần lớn chúng tôi cứ để nguyên quần áo vào phòng ăn và đại tá Luttrell vắng mặt. Ngược lại, bà Franklim đỏm dáng trong bộ váy áo màu hồng nhạt, hôm nay lại trực tiếp xuống phòng ăn. Bà có vẻ hoàn toàn khỏe mạnh và hồ hởi. Song chồng bà lại có vẻ đăm chiêu, ưu tư.

    Sau bữa ăn, tôi lại không vừa lòng khi thấy Allerton và Judith cặp kè cùng ra ngoài vườn. Tôi ngồi nán một lúc nghhe Franklin và Norton chuyện trò về các căn bệnh nhiệt đới. Norton là một người chịu nghe một cách kiên nhẫn, mặc dù anh ta chẳng hiểu mấy.

    Đầu kia phòng, bà Franklin nói chuyện với Boyd Carrington. Ông này đưa cho bà xem các bản vẽ mẫu màn cửa, hỏi ý kiến bà về việc chọn màu sắc.

    Elizabeth Cole cầm quyển sách trong tay, chăm chú đọc. Tôi cảm thấy thái độ cô không tự nhiên lắm trước mặt tôi, điều dó dễ hiểu sau những lời tâm sự với tôi hồi chiều. Bản thân tôi cũng hơi áy náy và hy vọng cô không hối hận vì đã thổ lộ. Tôi rất muốn nói là tôi tôn trọng bí mật của cô và không nói với ai, nhưng không có cơ hội.

    Lát sau, tôi lên phòng Poirot. Ở đó tôi đã thấy Luttrell ngồi trong vầng sáng của chiếc đèn nhỏ duy nhất. Poirot chăm chú nghe ông nói, song tôi cảm thấy như đại tá đang nói với chính mình:

    - Tôi nhớ rõ... Vâng, ở một vũ hội. Nàng mặc váy trắng bồng bềnh. Ông biết đấy, cô ấy rất đẹp. Và tôi siêu lòng ngay. Đêm đó về nhà, tôi tự nhủ: "Ta phải lấy nàng làm vợ". Và tôi lấy thực. Cô ấy rất đáng yêu, tính tình nghịch ngợm có phần tinh quái.

    Ông bụm miệng cười:

    - Và rất bướng với tôi.

    Tôi hình dung Daisy Luttrell lúc mới lấy chồng mặt mũi tinh nhanh, miệng nói liến láu. Hồi ấy là đáng yêu, nhưng với thời gian sẵn sàng trở thành một bà già cau có. Tuy nhiên, tối nay đại tá xúc động gợi lại hình ảnh người vợ yêu thời trước, và là mối tình đầu khó quên. Lần nữa tôi lại xấu hổ vì đã nghi oan cho ông.

    Luttrell ra rồi, tôi kể hết với Poirot. ông yên lặng ngồi nghe, rồi nói:

    - ra các ông đã nghĩ là ông Luttrell cố tình bắn vợ.

    - Đúng. bây giờ tôi rất hối, song lúc đó...

    Poirot khoát tay gạt thắc mắc của tôi:

    - Ý nghĩ đó tự đến với anh, hay do ai gợi ra?

    - Allerton nói một câu gì đó, hàm ý như vậy.

    - Còn ai nữa?

    - Boyd Carrington cũng đề cập đến giả thuyết ấy.

    - A! Boyd Carrington.

    - Ông ta là người hiểu đời, có kinh nghiệm.

    - Phải, phải. Nhưng ông ta không có mặt lúc tai nạn, phải không nào?

    - Không. Ông ta đi dạo trước bữa ăn.

    - Hiểu rồi. Anh không cần phải áy náy gì. Trường hợp đó, bất cứ ai cũng có thể nghĩ vậy. Tự nhiên thôi.

    Trong thái độ của Poirot có một cái gì như dè dặt mà tôi không hiểu; đôi mắt ông nhìn tôi một cách lạ lẫm.

    - đành vậy - tôi nói. Song vừa rồi thấy Luttrell thực sự thương yêu vợ...

    - Thường là thế đấy. Sau những hiểu lầm, cãi vã, đối đầu trong cuộc sống hàng ngày, vẫn có thể - và thường là thế - có tình yêu thực sự.

    Tôi đồng ý với Poirot điểm này. Tôi nhớ lại ánh mắt dịu hiền, thương mến của bà Luttrell lúc chồng cúi xuống thăm hỏi. Không còn chút hậm hực, nóng nảy, bực bõ nào nữa.Và trên đường trở về phòng mình, tôi sực nghĩ: hôn nhân là một chuyện lạ kỳ. Tôi cũng hơi xao xuyến về cái nhìn lạ lẫm của Poirot; dường như ông đang chờ cho tôi nhận ra... nhưng nhận ra cái gì cơ chứ?

    Chỉ một lát sau, lúc đã lên giường, tôi đã hiểu. Nếu bà Luttrell bị bắn chết, thì vụ việc sẽ hoàn toàn giống các vụ khác. Bề ngoài, đúng là ông đại tá giết vợ và kết luận là do tai nạn. Tuy nhiên, không ai dám khẳng định tuyệt đối đây là tai nạn hay cố tình. Không đủ chứng cớ để kết luận là giết người, nhưng lại đủ bằng chứng để có thể nghi ngờ.

    Vậy thì, như thế có nghĩ... gì?

    Có nghĩ là, chịu trách nhiệm thực sẽ không phải là ông đại tá, mà là... X. Tuy nhiên điều đó là không thể. Tôi đã chứng kiến, biết rõ là Luttrell đã nổ súng. Không có bất cứ tiếng nổ nào khác.

    Trừ khi... Nhưng điều đó cũng không thể có. Có thể giả định người nào đó đã chờ đúng lúc, đúng cái giây ông đại tá nổ súng - để bắn thỏ - và người đó bắn vào bà Luttrell. Trường hợp ấy, sẽ chỉ nghe một tiếng nổ. Dù có không thật trùng, mọi người sẽ tưởng là tiếng vọng. Mà bây giờ nghĩ lại, tôi cảm thấy như lúc đó như có tiếng vọng thật.

    Không, không, vô lý. Ngày nay người ta đã có đủ phương pháp để xác định đạn là từ nòng súng nào bắn ra. Tuy nhiên, chỉ làm xét nghiệm này khi cảnh sát cần biết vũ khí nào đã bắn. Mà trong trường hợp này thì không cần điều tra, vì ai cũng biết cả rồi - cả đại tá lẫn những người khác - nếu có hoài nghi thì chỉ là ở chỗ ông đại tá vô tình bắn nhằm hay cố tình giết vợ. Câu hỏi này, khó ai có thể trả lời.

    Tóm lại, vụ việc này sẽ giống như những vụ việc khác. Giống vụ Riggs, anh chàng này không nhớ mình có giết không nhưng nghĩ là mình đã giết. Giống vụ Licthfield, cô này tự thú là đã giết bố mà chưa chắc là đã phải.

    Vâng, vụ này giống các vụ trước. Nay tôi đã hiểu hơn thái độ của Poirot.
    He Is So Special.........

  10. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 10

    Sáng hôm sau, tôi tiếp tục trao đổi với Poirot. Ông gật gù nghe tôi trình bày, cuối cùng tươi nét mặt:

    - Tốt lắm. Tôi muốn để anh tự tìm ra sự giống nhau, chứ không muốn nói ra trước.

    - Vậy là tôi không lầm: chúng ta đứng trước một vụ án nữa của X.

    - Nhất định rồi.

    - Nhưng tại sao? Động cơ là gì?

    Poirot nghiêm nghị gật đầu. Tôi hỏi:

    - Ông biết rồi ư? Hay đã có ý kiến thế nào?

    - Có, tôi có một ý - ông chậm rãi đáp.

    - Ông đã tìm thấy mối liên quan giữa các vụ?

    - Có thể.

    - Vậy thì...

    Tôi không nén được sốt ruột.

    - Không, anh Hastings.

    - Ông phải cho tôi biết.

    - Ngược lại, anh không nên biết hết thì hơn.

    - Tại sao? Lý do gì?

    - Lý do đơn giản là anh hãy tin tôi.

    - Ông thật quá quắt! - Tôi kêu. Ông thấp khớp ngồi liệt ở đây, thế là còn định chơi trội một mình.

    - Không phải thế đâu. Trái lại, chính anh đang là trung tâm hành động: là tai, là mắt của tôi. Tôi không muốn để anh biết một số thông tin, vì chúng có thể nguy hiểm.

    - Chắc ông ngại rằng hung thủ biết là tôi dò theo vết hắn. Nhưng tôi không đủ sức tự bảo vệ được sao?

    - Anh nên nhớ, kẻ đã giết một lần không e ngại gì mà không giết lần nữa.

    - Nhưng ở đây, đã có ai giết ai đâu.

    - Thế là may, rất may. Như tôi đã nói, mọi việc khó lường trước.

    Ông thở dài, nét mặt đăm chiêu.

    Tôi đi ra, lòng nặng trĩu nỗi buồn: rõ là từ nay Poirot không có khả năng nỗ lực liên tục. Trí óc còn minh mẫn, nhưng thể chất tàn tạ rồi. Ông dặn tôi chớ hoài công tìm hiểu lai lịch của X, nhưng tự đáy lòng, tôi tin mình đã biết hắn là ai. Ở Styles này, chỉ có một người có vẻ gian, chỉ còn giải quyết một vấn đề nữa là tôi có thể khẳng định. Sẽ chỉ là một cách thử phản diện nhưng có giá trị chắc chắn.

    Sau bữa ăn sáng, tôi gọi Judith lại:

    - Hôm qua, lúc ba gặp, con và Allerton ở đâu về?

    Khi chú mục vào một khía cạnh của vấn đề, ta thường quên các khía cạnh khác, và tôi sửng sốt trước phản ứng mạnh mẽ của con gái:

    - Ồ, ba, việc đó liên quan gì đến ba.

    Tôi trố mắt nhìn con:

    - Thì... ba chỉ... hỏi thế.

    - Nhưng để làm gì? Tại sao lúc nào ba cũng hỏi? Con làm gì, con đi đâu, với ai... khó chịu quá.

    Điều nực cười nhất là lần này câu hỏi của tôi thực ra không nhằm Judith. Điều tôi muốn biết chính là hành tung của Allerton.

    Tôi xoa dịu:

    - Judith con, tại sao ba lại không được hỏi.

    - Còn con, con không hiểu tại sao ba cần biết.

    - Thực ra ba không cố tình muốn biết. Ba chỉ lạ là làm sao hai người có vẻ dửng dưng trước việc xảy ra.

    - Ba muốn nói tai nạn của bà Luttrell? Đây nếu ba muốn biết, con xuống làng để mua tem.

    - Sao? Vậy Allerton không đi cùng với con?

    Judith thở hắt ra vì bực:

    - Không. Về đến gần nhà, con mới gặp anh ta. Thế là ba mãn nguyện rồi nhé. Mà con muốn nói thêm rằng dù có suốt ngày đi chơi với anh ta cũng không việc gì đến ba. Con đã hăm mốt tuổi, con tự kiếm sống, và con làm gì là việc của con.

    - Đúng - Tôi đành nói vậy để chặn đứng cơn thịnh nộ.

    - Ba nhận ra như thế là tốt.

    Nó có vẻ dịu bớt căng thẳng, nở một nụ cười buồn, nói tiếp:

    - Từ nay, ba đừng đóng vai ông bố lên giọng. Sốt ruột lắm!

    - Được rồi, ba sẽ không nói nữa.

    Franklin từ đâu xộc tới:

    - Chào Judith! Đi thôi, chậm giờ rồi.

    Thái độ của ông bác sĩ đột ngột và thiếu lịch thiệp, làm tôi khó chịu. Đành rằng ông ta làm chủ của Judith, trả lương cho nó, và có quyền ra lệnh. Nhưng ít nhất phải tỏ ra nhẹ nhàng, tế nhị. Tính ông này vốn không khéo léo, tôi đã nhiều lần nghiệm thấy, tuy nhiên đối xử với mọi người không đến nỗi. Riêng với Judith, gần đây ông ta tỏ ra mệnh lệnh, độc đoán đến cực kỳ. Nói mà không thèm nhìn người, rồi ra lệnh. Judith tỏ ra thản nhiên, nhưng tôi thì bực. Thái độ của Franklin lại càng bất lợi khi bị so sánh với sự ân cần, quan tâm quá đáng của Allerton. Tất nhiên, Franklin đáng giá gấp mười lần Allerton, song kém hẳn về mặt thái độ đối xử.

    Nhìn theo ông bác sĩ đi về phòng thí nghiệm, tôi chú ý đến đi lều khều, tấm thân khô thẳng, khuôn mặt gồ ghề lấm chấm tàn nhan của ông ta. Nói chung, về hình thức là một người xấu xí. một bộ óc tài giỏi ư? Nhưng phụ nữ hiếm khi mê riêng bộ óc, nếu kèm theo không có gì khác. Tôi rất lo là do điều kiện, Judith ít có cơ hội làm quen với những người đàn ông hấp dẫn hơn, từ đó mới có sự so sánh. Đặt bên một Franklin lầm lỳ, nhợt nhạt; tất Allerton nổi hơn nhờ cái hào nhoáng bên ngoài. Và vì thế, con gái tôi không thể đánh giá đúng tư cách anh ta.

    Nhỡ nó phải lòng anh ta thật? Sự cáu kỉnh vừa rồi của nó là một dấu hiệu khiến tôi không yên tâm vì rõ ràng Allerton là một thằng tồi. Thậm chí, hắn có thể là X lắm chứ? Lúc súng nổ làm bà Luttrell bị thương, hắn không đang ở cùng Judith như thoạt đầu tôi tưởng. Nhưng động cơ bí ẩn của hắn là gì? Hắn không điên, trí óc tỏ ra hoàn toàn lành mạnh, có điều là thiếu đạo đức và suy xét.

    Thế mà con Judith nhà tôi lại bám riết lấy hắn.

    ° ° °

    Đến nay, tuy vẫn lo lắng về con gái, tâm trí tôi có lãng đi phần nào khi nghĩ rằng có thể sắp xảy ra một vụ án mới. nay thì vụ bắn nhầm đã xảy ra, may không chết người, tôi lại suy nghĩ nhiều hơn về vấn đề cũ. Càng nghĩ càng lo. Tôi nghe ngóng đâu đó rằng Allerton đã có vợ. Boyd Carrington hình như biết đủ mọi thứ chuyện, nói rõ hơn. Vợ của Allerton đã bỏ hắn đi chỉ sau khi kết hôn vài tháng. Song vì là người đạo gốc, cô ta không đồng ý ly dị, Boyd nói thêm:

    - Và thằng cha cũng cóc cần ly dị, cứ để thế lại hay.

    Sau vụ tai nạn, ngày lại ngày trôi qua không có gì đặc biệt, nhưng mối lo của tôi không hề giảm.

    Đại tá Luttrell suốt ngày ở bên vợ, một cô y tá nữa lại mới đến, nên cô Craven trở lại chuyện lo chăm sóc bà Franklin. Tôi không định kiến, song nhận thấy bà Franklin tỏ ra không vui khi bà không còn là người bệnh duy nhất trong nhà. Bây giờ mọi người quan tâm đến tình hình bà Luttrell, mà bà Franklin đã quen mình phải là trung tâm chú ý duy nhất. Cả ngày bà nằm ườn trên ghế dài, tay ôm ngực kêu đau. Dọn ăn gì bà cũng không thích, luôn luôn tỏ ra bất bình, đau khổ. Một hôm, bà phàn nàn với Poirot:

    - Tôi rất không muốn phiền mọi người. Đau ốm thế này, tôi thấy xấu hổ quá. Đôi khi tôi nghĩ ốm đau là tội ác đối với xã hội. Nếu mình không khỏe, tự thấy không còn ích gì nữa, thà yêu cầu được tiêm một phát... chết quách cho xong.

    - Ấy không được, thưa bà! Poirot nói khéo. Một cây hoa yếu ớt không chịu được gió lạnh, người ta phải đem trồng trong nhà kính. Còn cỏ dại thì chỗ nào cũng mọc, đâu phải vì thế mà giá trị hơn hoa! Bà xem tình trạng tôi đây. Gần như bị liệt không tự đi lại, vậy mà tôi đâu muốn từ bỏ cõi đời. Tôi vẫn cố hưởng nhiều lạc thú: ăn ngon, rượu ngon, làm việc bằng trí óc.

    Bà Franklin thở dài:

    - Ông khác. Ông chỉ có một mình. Tôi thì tội nghiệp ông John, tôi biết tôi là gánh nặng cho ông ấy. Một người vợ ốm đau, vô tích sự, ông thấy không?

    - Chắc chắn ông không bao giờ nghĩ như vậy.

    - Không hẳn như thế, nhưng tôi lạ gì đàn ông! Ông ấy không giấu được tôi.

    - Tôi hoàn toàn không nghĩ như bà, Poirot nói.

    - Không? Thế là tại ông không biết ông ấy bằng tôi. Tất nhiên, nếu tôi không còn nữa, ông ấy sẽ tự do hơn. Và đôi khi tôi nghĩ nên chấm dứt tất cả cho nhẹ mình cả hai.

    - Ồ, bà không nên nói vậy.

    - Tại sao? Dù sao, tôi chẳng có ích cho ai cả.

    Bà lắc đầu đau khổ:

    - Tôi sẽ phiêu diêu nơi vô cùng, và... John sẽ tự do.

    Sau này khi tôi nói lại cuộc trò chuyện ấy cho cô Craven, cô này nói ngay.

    - Toàn nói hươu nói vượn. Tôi bảo đảm bà ta không làm thế. Càng mạnh mồm lắm càng không làm như mình nói.

    Quả nhiên sau khi mọi người hết xao xuyến vì tai nạn của bà Luttrell, cô Craven trở về chăm sóc riêng bà Franklin, tôi thấy tinh thần bà này khá hơn hẳn.

    Một sớm nọ, Curtiss đưa Poirot ra ngồi dưới rặng cây gần phòng thí nghiệm. Đây là nơi bạn tôi rất ưa ngồi, vì kín gió; ông vốn rất ngại gió lùa. Thực ra, có lẽ ông cứ thích ở trong nhà hơn, song thỉnh thoảng cũng đồng ý đi ra ngoài với điều kiện được che chắn cẩn thận.

    Tôi ra tới chỗ Poirot, cũng là lúc bà Franklin từ phòng thí nghiệm đi ra. Bà bận đồ đẹp và có vẻ đặc biệt vui mừng. Bà nói Boyd Carrington hỏi ý kiến bà về chuyện chọn rèm cửa, nên bà sẽ đi dạo với ông ta một lát. Sau đó họ sẽ cùng đi Knatton để xem công việc đã tới đâu. Bà nói tiếp:

    - Tôi vào phòng thí nghiệm để lấy cái túi để quên hôm qua, lúc vào gặp ông John.

    Ngừng một lát, bà tiếp:

    - Hôm nay, ông ấy đi Tadcaster với cô Judith để kiếm một số hóa chất sắp cạn.

    Bà ngồi xuống một chiếc ghế gỗ, lắc đầu vẻ khôi hài:

    - Cũng may tôi không phải là nhà khoa học. Như hôm đẹp trời thế này, thì thật là... uổng phí.

    Poirot cười, đáp:

    - Ấy, trước mặt các nhà khoa học, bà chớ nói thế.

    - Tất nhiên.

    Bỗng bà thay đổi nét mặt, nghiêm trở lại:

    - Ông Poirot, ông đừng tưởng tôi không phục chồng đâu nhé. Dù sao, phải công nhận cái kiểu hết lòng vì công việc ấy thật là... đáng nể.

    Giọng bà rung lên, và tôi nghĩ: bà này thích sắm nhiều vai trò. Lúc này, bà giữ vai người vợ trung thành, yêu chồng.

    - Ông John nhà tôi - bà nói tiếp - gần như một ông thánh. Lắm lúc tôi phát sợ.

    Ví Franklin với thánh, quả là quá đà - tôi nghĩ bụng. Song bà vẫn long lanh đôi mắt, nói tiếp:

    - Ông ấy có thể làm mọi thứ, chịu mọi rủi ro vô lý nhất để mở rộng hiểu biết của loài người. Dù sao thế cũng là cao đẹp, có phải không?

    - Vâng, vâng đúng thế. Poirot nhỏ nhẹ.

    - Tuy nhiên, lắm lúc tôi thấy lo. Cứ thế rồi đi đến đâu, ví dụ như cái cây đậu Calabar kinh khủng mà ông đang nghiên cứu. Tôi sợ ông ấy đem thử nghiêm vào chính mình.

    Tôi chen vào.

    - Nếu vậy, tất nhiên ông phải chuẩn bị mọi biện pháp đề phòng.

    Bà Franklin lắc đầu, nở một nụ cười buồn:

    - Ông chưa hiểu ông ấy. Ông đã nghe chuyện một lần ông ấy làm gì khi nghiên cứu một chất khí?

    - Chưa.

    - Đó là một chất khí người ta chưa biết hết đặc tính. Thế là John tự đem mình ra làm thí nghiệm. Ông ấy để cho người ta nhốt ba mươi sáu giờ trong một cái thùng chứa đầy khí đó, và theo dõi mạch đập, nhiệt độ, hơi thở của ông để xem tác động lên cơ thể người thế nào, có giống với cơ thể súc vật không? Tôi thì chịu.

    - Vâng, làm được thế phải rất dũng cảm, Poirot công nhận.

    - phải, và tôi rất tự hào về ông, đồng thời lại rất lo. Vì đến một lúc nào đó, thử lên chuột, lên ếch nhái xong, phải thử lên người. Cho nên tôi rất sợ rồi John sẽ lấy cơ thể mình để thử cái cây đậu chết tiệt ấy.

    Bà lại thở dài:

    - Tôi nói ra, ông ấy chỉ cười. Đúng là ông thánh.

    Boyd Carrington vừa từ trong nhà ra, tiến lại:

    - Thế nào, cô Barbara, đi chưa?

    - Vâng, ta đi.

    - Hy vọng đi như thế này, cô sẽ không mệt quá sức.

    - Không. Lâu lắm tôi mới lại thấy khỏe như hôm nay.

    Hai người đi khỏi, Poirot thốt lên:

    - Bác sĩ Franklin là bậc thánh của thời nay. Hừm!

    - Thái độ hoàn toàn quay ngoắt - tôi nói - Bà ta là như thế.

    - Như thế nào?

    - Thích đóng nhiều vai khác nhau: hôm nay là người vợ đau khổ vì bị hắt hủi, hôm sau lại là người sẵn sàng hy sinh để khỏi là gánh nặng cho chồng. Song vai nào xem ra cũng đều gượng ép.

    - Vậy là anh chê bà ta lắm nhỉ.

    - Tôi không nói vậy. Dù sao cũng không phải là người có tầm cao.

    - A! Bà ta không phải loại phụ nữ anh thích, đúng rồi.

    - Loại phụ nữ của tôi là thế nào, ông nói xem? Tôi phản ứng.

    Câu trả lời của Poirot làm tôi bất ngờ.

    - Đừng nói nữa. Hãy nhắm mắt lại, rồi xem Trời đưa ai đến kìa.

    Tôi không kịp đáp, vì cô Craven xuất hiện, nhẹ nhàng bước qua vạt cỏ, cười rất tươi. Cô vào phòng thí nghiệm rồi ra ngay, tay cầm đôi găng:

    - Đã để quên túi, nay lại quên găng. Bà ta luôn để quên mọi thứ.

    Rồi cô đi về phía bà Franklin và Boyd Carrington đang đợi.

    Tôi nghĩ bụng: cái bà Barbara này thuộc loại người quên tất cả mọi thứ rồi chờ người khác tìm lại cho mình. Đôi khi họ còn tỏ ra tự hào về thói xấu đó. Tôi thường nghe bà Franklin phàn nàn:

    - Đầu óc tôi như cái thùng rỗng.

    Tôi nhìn theo cô Craven đi qua bãi cỏ. Thân hình cô thon thả, và cô chạy mới duyên dáng làm sao. Tôi nói mà không nghĩ:

    - Tôi không tin một người còn trẻ thế mà chịu sống như thế này. Mà bà Franklin chẳng tỏ vẻ gì biết ơn cô ta.

    Poirot bỗng nhắm mắt, nói một câu không ăn nhập vào đâu:

    - Bộ tóc màu gụ.

    Đúng là cô Craven có bộ tóc màu gụ. Song không hiểu sao Poirot lại chọn lúc này để nói.

    Tôi không đáp lại.
    He Is So Special.........

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2
1 2 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Chủ đề giống nhau

  1. Agatha Christie.
    By wongtrang2006 in forum Nhân vật danh thám
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-01-2010, 12:58 PM
  2. Agatha Christie
    By Layton in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 04-01-2010, 10:30 PM
  3. Và rồi chẳng còn ai-Agatha Christie(Chương 1)
    By lohuutrong in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 20-06-2009, 10:36 AM
  4. Hẹn với tử thần - Agatha Christie
    By lohuutrong in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 14-06-2009, 08:16 PM
  5. Án mạng đêm cuối năm, Agatha Christie
    By Edogawa_Conan in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 07-10-2008, 08:54 PM

Visitors found this page by searching for:

doc tieu thuyet tham tu roi san khau

Thám tử rời sân khấu – Agatha Christie

Tham tu roi san agatha christie

tham tu gia tu san khau agathachristie

tóm tắt nội dung Hẹn Với Tử Thần - Agatha Christie

thám tử rời sân khấu

Dien Dan

Tags for this Thread

Bookmarks

Quuyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời bài viết
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết