+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2/2
đầuđầu 1 2
kết quả từ 11 tới 16 trên 16

Ðề tài: Thám tử rời sân khấu – Agatha Christie

  1. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26

    Share/Bookmark



    Chương 11

    Vào sáng hôm sau thì phải, trước giờ điểm tâm, có một cuộc trò chuyện làm tôi suy nghĩ.

    Có bốn người: Judith, Boyd Carrington, Norton và tôi. Tôi không nhớ bắt đầu ra sao, mà chuyện xoay sang bàn về việc thay thuốc giúp người bệnh mau chết để tránh đau đớn vô ích. Như thường lệ Boyd là người nói nhiều nhất. Norton thỉnh thoảng chêm một câu, và Judith im lặng chăm chú nghe. Ý kiến của tôi là không tán thành việc đó, dù có biện luận thế nào. Nếu mọi người chấp nhận cách làm ấy, là đặt vào tay những người thân của bệnh nhân quyền quá lớn. Norton đồng ý với tôi, và thêm rằng chỉ khi nào người bệnh khẩn khoản yêu cầu, hơn nữa bệnh nhân đằng nào rồi cũng chết, thì mới được phép giúp cho chết mau không đau đớn. Boyd Carrington nói:

    - Song người bệnh có bao giờ thực lòng mong "giúp tôi chết đi cho xong" không?

    Và ông kể một chuyện mà ông cam đoan có thực. Một bệnh nhân nó bị ung thư, rất đau đớn về thể xác, yêu cầu bác sĩ cho uống hoặc tiêm thuốc gì để "chết ngay cho xong". Bác sĩ trả lời mình không được phép làm như vậy. Tuy nhiên, trước khi đi ra, ông chủ ý để vừa tay với của bệnh nhân một số viên moóc-phin, và dặn là đừng uống quá liều, sẽ nguy hiểm. Vậy người bệnh nếu muốn, đã có thể uống hết số thuốc ấy cho "xong chuyện". Song người đó không làm như thế, chứng tỏ rằng mặc dù đau đớn và nói ra miệng làm muốn chết, nhưng anh vẫn bám lấy cuộc sống.

    Judith bây giờ mới cất tiếng lần đầu, giọng kiên quyết:

    - Tất nhiên! Và lẽ ra không nên để anh ta tự quyết định.

    - Cô muốn nói gì? Boyd Carrington hỏi.

    - Một người quá yếu sức vì bệnh tật và đau đớn làm gì còn ý chí để tự quyết định. Ta phải quyết định hộ anh ta. Đó là trách nhiệm của những người thân xung quanh.

    - Trách nhiệm...? Tôi sửng sốt hỏi.

    Judith quay về phía tôi:

    - Phải, con nói trách nhiệm. Cần phải có một người sáng suốt chịu trách nhiệm hành vi.

    Boyd Carrington lắc đầu:

    - Để rồi phải ra tòa vì tội giết người?

    - Không nhất thiết. Vả lại, khi đã thực sự yêu ai, ta sẵn sàng chịu mạo hiểm.

    Norton nói chen:

    - Không được, như thế là một trách nhiệm rất nặng nề.

    - Tôi không nghĩ như vậy. Con người hay quá sợ trách nhiệm. Nếu là con chó, ta sẵn sàng đập cho nó chết, tránh đau đớn. Với người, sao không được?

    - Hoàn toàn khác nhau.

    - Phải, vì nó quan trọng hơn nhiều - Judith tuyên bố rành mạch.

    - Cô làm tôi phát sợ - Norton lý nhí.

    - Vậy là cô dám mạo hiểm quyết định thay - Boyd Carrington nói.

    - Tôi dám. Tôi không sợ mạo hiểm.

    - Tôi thì không. Không thể cho ai cái quyền định đoạt sống, chết của một con người.

    Norton nói:

    - Trên thực tế, không ai dám đảm nhận một trách nhiệm như vậy.

    Anh ta cười, nhìn Judith.

    - Và tôi không tin là khi việc ấy xảy ra, cô có can đảm...

    - Tất nhiên, không ai nói trước được điều gì. Nhưng tôi tin mình có đủ can đảm.

    - Tôi không tin. Trừ khi cô có lợi lộc gì để làm việc ấy.

    Judith đỏ mặt, đáp lại một cách gay gắt:

    - Anh nói vậy vì anh chẳng hiểu gì hết. Nếu vì lý do riêng, tôi lại không làm!

    Rồi quay sang mọi người:

    - Nếu làm thì làm một cách khách quan, không vụ lợi.

    - Dù sao, cô sẽ không làm. - Norton vẫn cãi.

    - Làm. Trước hết tôi không coi cuộc sống là một cái gì thiêng liêng như thiên hạ thường nói. Sống mà vô ích thì nên biến. Chỉ những người đóng góp gì cho xã hội mới được phép sống.

    Judith quay ngoắt đầu, nhìn Boyd Carrington.

    - Ông đồng ý với tôi, phải không nào?

    - Về nguyên tắc, tôi đồng ý. Boyd đáp chậm rãi. Chỉ những người đáng sống mới được sống.

    Norton lại chen vào:

    - Nhiều người có thể sẽ tán thành lý thuyết của các vị, nhưng khi thực hiện thì...

    - Như vậy là không lô-gích! Judith cãi.

    - Tất nhiên không lô-gích, vì đây chỉ là vấn đề dám hay không dám. Cho tôi nói thật, cô cũng vậy thôi. Đến lúc ra tay, cô sẽ không dám đâu.

    - Anh cho là thế?

    - Chắc chắn.

    Boyd Carrington nói:

    - Tôi, tôi thì tôi cho là anh Norton lầm. Judith có thừa dũng cảm. Nhưng may mắn thay, cơ hội để thực hiện rất hiếm!

    Trong nhà, tiếng cồng bỗng vang lên. Judith đứng dậy, còn nói vớt mấy câu với norton.

    - Anh nhầm hoàn toàn. Tôi có can đảm nhiều hơn anh tưởng.

    Nó quay gót và đi nhanh vào nhà. Boyd Carring ton chạy theo:

    - Judith! Chờ tôi với.

    Tôi cũng đi vào. Không hiểu sao tôi thấy lòng bâng khuâng. Norton rất nhạy trọng việc đoán tâm trạng người khác, an ủi:

    - Cô ấy nói vậy thôi. Đó là loại lý thuyết mà ta thường có khi còn trẻ nhưng, lạy trời, không đem ra thực hiện.

    Hình như Judith nghe thấy, vì nó quay đầu lại, nguýt dài:

    Norton hạ giọng nói tiếp:

    - Ta chẳng nên lo lắng về thuyết này thuyết nọ. Nhưng này, ông Hasting...

    - Gì cơ?

    Anh ta có vẻ ngập ngừng:

    - Tôi không muốn xem vào chuyện người khác. Tuy nhiên... hờ... ông biết gì về Allerton?

    - Allerton dính gì đến chuyện này?

    - Xin lỗi về lời đường đột, nhưng thật lòng, ở địa vị ông, tôi sẽ không để con gái cặp kè với cậu ta. Cậu ta... tiếng tăm không hay lắm.

    - Tôi hiểu anh ta là hạng người nào rồi - tôi chua chát. Nhưng, thời bây giờ, không dễ...

    - vâng, tôi hiểu. Người ta bảo, bây giờ con gái có quyền tự lập, biết tự giữ mình. Đúng thôi. Song... Allerton có mẹo riêng... rất chu đáo. Và thường đạt kết quả.

    Sau một chút do dự Norton nói tiếp:

    - Tôi tự thấy mình có bổn phận nói trước ông biết, thế thôi, ông đừng cho ai biết việc tôi sẽ kể đây. Vì tôi có biết một chuyện tồi tệ liên quan đến hắn.

    Chuyện Norton kể, sau này tôi kiểm tra lại, là đúng. Đó là một cô gái hiện đại, tự lập, tự tin. Và Allerton đã thi thố "mẹo" của hắn. Vài tháng sau, cô gái tự tử bằng một liều thuốc ngủ.

    Điều kinh hãi trong chuyện này là cô gái đó tính tình giống Judith. Loại con gái độc lập, không sợ ai, một khi đã hiến trái tim cho ai thì hiến hết lòng.

    Tôi đi ăn sáng mà lòng trĩu nặng môt linh cảm hãi hùng.
    He Is So Special.........

  2. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 12

    Ngay chiều hôm ấy, Poirot hỏi tôi:

    - Anh có điều gì lo lắng vậy?

    Tôi chỉ lắc đầu, thấy mình không nên làm Poirot bận tâm vì một chuyện riêng tư, vả ông có biết cũng chẳng giúp được gì. Giả thử ông có gọi Judith lên trách mắng đi nữa, nó cũng lại phớt lờ, cho rằng người lớn chỉ hay lắm chuyện.

    Giờ đây tôi khó mô tả chính xác những tình cảm hôm đó. Sau đó, nghĩ lại tôi nghĩ một phần âu lo bắt nguồn từ cái không khí ở Styles. Không phải chỉ trước đây, mà ngay cả hiện nay. Một tên giết người đang lởn vởn trong nhà này, tất cả chúng tôi đều ở dưới bàn tay đe dọa của hắn.

    Theo những gì suy xét đuợc, hẳn Allerton là hung thủ. Mà Judith con gái tôi, lại phải lòng nó! Thật kinh khủng, khó tin và tôi bó tay không biết phải làm gì.

    Sau bữa điểm tâm, Boyd Carrington kéo tôi ra chỗ riêng. Ông dặng hắng, dọn giọng mãi mới ngập ngừng nói:

    - Tôi không muốn xen vào việc không phải của mình, song ở địa vị ông, tôi phải bảo con gái hãy dè chừng. Ông biết không, Allerton là người có tiếng xấu. Mà cô Judith xem ra... có vẻ thân thiết.

    Nói thế thật dễ, với ai không có con. Bảo Judith đề phòng Allerton? Thì tôi đã nói rồi, chỉ gây thêm căng thẳng. Nếu vợ tôi còn sống! Hẳn nàng sẽ biết cách làm như thế nào.

    Thú thật tôi đã định không đề cập chuyện này với Judith nữa, song nghĩ lại thấy mình quá yếu đuối. Tuy nhiên tôi vẫn do dự. Có lẽ tôi sinh ra e sợ con gái tôi thật.

    Tôi đi đi lại lại trong vườn, tâm trí mỗi lúc một rối. Đến chỗ vườn hồng, tôi bỗng thấy quyết tâm trở lại, vì nhìn thấy Judith ngồi một mình trên ghế. Và có lẽ từ trước tới nay, tôi chưa bao giờ thấy nét mặt nó đau khổ đến thế. Bộ mặt thay đổi hẳn, rõ ràng là đang hoang mang, do dự. Tôi lấy hết can đảm, tiến lại, nói nhẹ nhàng:

    - Judith con, đừng âu sầu thế nữa.

    Nó mải suy nghĩ nên không nghe tiếng tôi bước tới, và ngẩng phắt đầu, ngạc nhiên:

    - Ô, ba! Ba... bảo gì?

    - Con ơi, con đừng tưởng ba không biết. Nó không xứng với con đâu.

    Judith nhìn tôi vởi v3 hoảng hốt, nhưng lại bình tĩnh ngay:

    - Ba nói gì, con không hiểu?

    - Ba biết rồi. Con yêu nó, không nên. Rồi sẽ dẫn tới đâu? Hắn đã có vợ. Tình hình này là không có tương lai, sẽ chỉ có buồn đau và hổ thẹn.

    Judith cười buồn:

    - Ba nói hay thật, phải không?

    - Hãy rũ sạch chuyện đó đi, Judith.

    - Không!

    - Đã bảo là nó không xứng với con.

    Judith chậm rãi và bình tĩnh đáp:

    - Anh ấy là tất cả với con.

    - Judith, bố van con...

    Nụ cười tắt trên môi con gái; nó đứng dậy, vùng kêu lên:

    - Tại sao ba cứ can thiệp vào việc của con? Từ nay ba không được nói nữa. Con ghét ba... con ghét ba. Không việc gì đến ba. Đời con, con lo!

    Nó hẩy tôi ra, chạy mất. Tôi nhìn theo, sững sờ.

    Tôi còn đang đứng đó, bàng hoàng không biết nghĩ sao, thì mươi phút sau, cô Cole và Norton đi tới.

    Họ tỏ ra tế nhị, biết là tôi đang có chuyện vấn vương, nhưng không đả động gì, chỉ rủ tôi cùng đi chơi. Cả hai đều yêu thiên nhiên. Elizabeth Cole chỉ cho tôi xem những loài hoa dại, còn Norton đưa tôi ống nhòm để quan sát chim muông. Chẳng bao lâu tôi trở lại bình tĩnh, ít nhất là bề ngoài, , vì thực ra lòng vẫn chưa yên. Bỗng Norton đang nhìn ống nhòm, kêu to:

    - Lạy trời! kìa, đúng là con chim gõ kiến bụng đỏ, hay quá!

    Nhưng anh ta đột ngột dừng lại, khiến tôi sinh nghi. Tôi giơ tay đòi lấy ống nhòm:

    - Đưa tôi xem nào!

    Norton vẫn khư khư giữ ống nhòm, ngập ngừng, nói giọng lạ lùng:

    - Có lẽ... có lẽ tôi nhầm. Nó bay mất rồi. Và thực ra chỉ là một con chim thường.

    Mặt anh ta tái đi, đôi mắt tránh nhìn tôi, dáng điệu hoang mang. Và tôi thấy rõ anh ta nhất quyết không chịu để tôi nhìn qua ống nhòm, lúc trước chĩa vào một bụi cây cách xa. Không biết anh ta đã nhìn thấy gì ở đó?

    - Đưa tôi xem! Tôi nhắc lại.

    Tôi nắm lấy ống nhòm, giật khỏi tay anh ta, mặc cho hắn cố giữ. Hắn lắc đầu:

    - Thực ra, không phải... con chim bay rồi. Tôi chỉ muốn...

    Tôi run run điều chỉnh lại ống nhòm, chĩa thẳng vào chỗ Norton vừa nhìn, nhưng không thấy gì, ngoại trừ một vật trăng trắng - váy áo phụ nữ chăng? - biến dần vào cây cối.

    Tôi hạ ống nhòm trả cho Norton, không nói gì. Hắn có vẻ như vẫn tránh nhìn tôi. Dù sao, trông hắn phân vân, ngượng nghịu thế nào.

    Chúng tôi lặng lẽ trở về nhà.

    Bà Franklin và Boyd Carrington về nhà sau chúng tôi một lát. Họ đã thăm dinh cơ Knatton, rồi đi Tadminster để bà Franklin mua bán gì đó.Và bà đã mua nhiều thứ, dỡ từ xe ra một lô hộp đựng hàng.

    Bà có vẻ rất vui, cười nói luôn miệng, hai má đỏ hồng. Bà đưa Boyd Carrington cầm một gói hàng dễ vỡ, còn tôi cũng ôm giúp bà một số hộp.

    - Trời nóng quá, bà nói, có lẽ sắp dông. Người ta bao có thể sẽ thiếu nước. Chưa thấy hạn như thế này bao giờ.

    Bà nói tíu tít hơn thường lệ, ra vẻ nóng nảy. Quay sang cô Cole, bà hỏi:

    - Chiều nay,ở nhà mọi người làm gì? Ông John nhà tôi đâu? Ông ấy nói hơi nhức đầu và định đi dạo. Ông ấy có mấy khi nhức đầu đâu. Chỉ tại quá lo lắng cho công việc thôi, nghe đâu không suông sẻ như ông mong muốn.

    Rồi quay sang Norton:

    - Sao anh im lặng thế? Có chuyện gì không hay? Trông anh có vẻ... ngơ ngác. Hay là đã bắt gặp hồn ma của một bà... bà nào?

    Norton giật mình:

    - Không, không. Bà yên tâm, chẳng có hồn ma nào. Tôi đang mải nghĩ mà thôi.

    Đúng lúc đó, Curtiss đẩy xe lăn của Poirot vào, chuẩn bị ẵm nhà thám tử lên gác. Nhưng Poirot lần lượt nhìn mọi người, hỏi:

    - Có chuyện gì vậy?

    Một lát im lặng, rồi bà Franklin gượng cười, đáp:

    - Không, chuyện gì đâu. Chỉ là... có lẽ trời dông đến nơi... tôi mệt quá. Đại úy hastings nhờ ông mang hộ các gói đồ lên gác. Ông tốt quá. Xin cảm ơn.

    Tôi theo bà lên cầu thang. Phòng bà ở cuối dãy phía tây. Bà mở cửa và đứng ngừng ngay lại. Tôi đứng lại đằng sau, tay ôm đầy hộp.

    gần cửa sổ, cô Craven đang xem bàn tay của Boyd Carrington. Ông này ngửng đầu lên, lúng túng giải thích.

    - Cô Craven... xem tướng tay cho tôi. Cô ấy đoán cừ lắm.

    - Thế ư! Bà Franklin đáp sẵng. Thế mà tôi không biết.

    Xem ra bà không ưa thái độ của cô y tá. Bà nhìn cô một lúc, nói tiếp:

    - Cô đỡ cho đại úy Hastings những gói đồ này chứ? Rồi đi pha cho tôi cốc sữa. Tôi mệt lắm rồi. Và cho tôi một ấm nước sôi để ủ. Chỉ muốn đi nằm ngay.

    - Vâng, thưa bà.

    Cô y tá tiến lên, đỡ những gói đồ. Mặt cô thản nhiên, không mảy may xúc cảm. Bà Franklin lại nói:

    - Ông Boyd, ông về đi. Tôi mệt.

    Boyd Carrington lo lắng:

    - Chuyến đi vừa rồi là quá sức, phải không? Xin lỗi. Khỉ thật, lẽ ra tôi phải tính trước, không để cho cô quá mệt.

    Bà Franklin mỉm cười một cách thánh thiện:

    - Tôi có ý kiến gì đâu. Ông biết là tôi rất ghét kêu ca, phàn nàn.

    Tôi chào bà rồi cùng ông Boyd Carrington đi ra. Tới hành lang, ông này nói:

    - Tôi thật ngốc! Cô ấy vui vẻ, phấn khởi làm tôi quên mất sức khỏe của cô. Hy vọng ngày mai cô ấy lại hoàn tàn hồi phục.

    - Sau một đêm nghỉ ngơi, tất sẽ phải thế - tôi đáp.

    Boyd đi về phía cầu thang. Sau một giây lưỡng lự, tôi rẽ sang hành lang dài hun hút phía bên kia. Lần đầu tiên, tôi đến gặp Poirot một cách miễn cưỡng, vì đầu óc tôi còn ngổn ngang trăm mối, vẫn còn bị ám ảnh vì câu chuyện với Judith lúc trước.

    Đi qua trước cửa phòng allerton tôi nghe có tiếng nói. Không hề có ý định nghe trộm, song tôi vẫn nán lại. Đột nhiên cửa mở, Judith từ đó đi ra. Nó sững người khi nhìn thấy tôi... Tôi không nói không rằng, nắm cánh tay nó lôi vào phòng tôi, lòng sục sôi căm giận.

    - Sao con lại vào phòng người ta như thế?...

    Mặt lạnh như băng, Judith nhìn tôi, không đáp. Tôi lay mạnh:

    - Ba không muốn như vậy, con nghe chưa? Thật tình, con không hiểu mình đang làm gì! Vô ý vô tứ đến thế là cùng!

    Cuối cùng, con gái tôi đáp, giọng cay chua:

    - Này ba, đầu óc ba làm sao rồi đấy.

    - Người lớn nói gì, con đều không nghe. Ít nhất thì chúng ta cũng phải giữ ý tứ, tôn trọng những quy tắc sơ đẳng. Judith nghe đây, ba cấm con không được đi lại với con người ấy. Hay con chối là con không phải lòng hắn?

    - Con không chối gì hết.

    - Con không biết hắn là người thế nào. Mà làm sao con biết được!

    Tôi thong thả nói lại với Judith những gì tôi nghe được về Allerton, và kết luận:

    - Thấy chưa, hắn là hạng người xấu xa thế đấy.

    - Thì con có bảo anh ta là ông thánh đâu.

    - Và sau những gì ba kể, con không nghĩ gì sao? Judith con không thể nào nào suy đồi đến thế.

    - Ba muốn gọi thế nào cũng được, con không quan tâm.

    - Judith, con... con...

    Không thể nói nên lời nữa, tôi nắm mạnh cánh tay nó, nó vùng ra:

    - Này ba, con muốn làm gì mặc con, ba đừng lớn tiếng vô ích. Đời con đi đến đâu là do con, ba không thể ngăn cản.

    Và nó đi ra.

    Chân tôi như muốn khuỵu, tôi ngồi phịch xuống ghế. Thật kinh khủng hơn tôi tưởng: con bé đã bị mê hoặc đến lú lẫn rồi. Và tôi chẳng có ai để cầu cứu: mẹ nó, là người duy nhất có thể khuyên bảo nó, đã chết rồi.

    Có lẽ chưa bao giờ tôi cảm thấy đau khổ đến thế.

    Một lát sau, tôi dần bình tĩnh lại. Tôi đứng lên, đi cạo râu, thay quần áo để xuống ăn trưa. Có lẽ vẻ mặt tôi đã bình thường, vì không ai để ý cả. Một, hai lần, tôi thấy Judith nhìn tôi hơi khang khác. Chắc nó ngạc nhiên thấy tôi khéo che giấu những gì chất chứa trong lòng. Thật ra, cơn giận của tôi sôi lên, và tôi quyết định phải hành động. Chỉ cần can đảm và khôn khéo.

    Sau bữa trưa, chúng tôi ra vườn, mọi người bàn chuyện thời tiết và cơn giông sắp tới. Liếc mắt, tôi thấy Judith biến đi, khuất sau góc nhà. Một phút sau, Allerton cũng từ từ đi theo hướng đó.

    Tôi cắt đứt câu chuyện đang nói với Boyd Carrington và lảng ra theo. Norton giữ tay tôi lại, rủ tôi cùng đi dạo về phía vườn hồng. Nhưng tôi không chịu. Tuy nhiên, anh ta vẫn còn ở bên, tới lúc tôi đi tới góc quanh của ngôi nhà.

    Họ đang ở đó. Tôi thấy Judith ngẩng đầu lên, và kẻ kia cúi xuống, ôm lấy Judith hôn. Nhưng bỗng họ rời nhau ngay.

    Tôi tiến lên. Norton kéo tay tôi lại nói:

    - Thôi nào, ông không nên...

    Tôi gắt:

    - A! Anh cho là như thế à?

    - Vô ích, ông ạ. Đúng là chuyện không hay, nhưng ông không thể can nthiệp.

    Tôi không đáp. Có thể anh ta nói thật lòng, nhưng tôi không thể đồng tình. Anh ta tiếp:

    - Tôi biết, trường hợp này ông bực bội, tức giận đấy, nhưng điều duy nhất có thể làm được, là chịu bó tay.

    Tôi không buồn tranh cãi, và để mắt nhìn ra xa. Không thấy Allerton và Judith đâu nữa, nhưng tôi biết chắc là họ đi đâu: tới gần cái nhà kính đổ nát.

    Tôi rón rén lại gần. Hình như Norton vẫn đi sau tôi, tôi không biết rõ nữa. Tôi nghe tiếng Allerton:

    - Thế nào, cô em, vậy ta nhất trí thế nhé. Mai, cô đi Luân Đôn, còn tôi nói là đi Ipswich một, hai ngày thăm bạn. Chiều cô sẽ gọi điện thoại về đây nói là không về kịp, thế thì ai biết được là cô đang cùng ăn với tôi ở nhà tôi? Sẽ rất thú vị, và cô sẽ không hối tiếc.

    Một lần nữa, Norton lại giật tay áo tôi. Tôi quay trở lại và để anh ta kéo về nhà, làm như tôi đã nhượng bộ, chịu thua. Nhưng tôi biết tôi sẽ làm gì.

    - Anh khỏi lo - tôi nói. Anh nói đúng: con cái đã lớn, không thể ốp chúng mãi.

    Tôi thấy Norton có vẻ yên tâm. Tôi nói tôi nhức đầu, cần đi ngủ. Như vậy là anh ta không còn nghi ngờ gì ữa.

    Tôi dừng một lát trong hành lang. Chung quanh yên ắng, không một bóng người. Phòng của Norton cũng ở phía này, song anh ta đang ở lại dưới nhà. Elizabth Cole chơi bài. Curtiss đang ăn. Vậy tôi hoàn toàn rảnh tay.

    Tôi mừng là đã từng cộng tác vói Hercule Poirot nhiều năm, nên đã học được tính chuẩn bị cẩn thận, chu đáo.

    Allerton sẽ không gặp Judith ở Luân Đôn ngày mai. Hắn sẽ không bao giờ gặp. Vấn đề đơn giản một cách lạ kỳ.

    Tôi vào phòng mình lấy một ống átpirin, rồi lọt vào phòng Allerton đi thẳng vào chiếc tủ trong buồng tắm. Những viên thuốc ngủ vẫn đặt ở chỗ thường lệ. Tôi nghĩ chỉ tám viên là đủ. Một hoặc hai viên là điều thông thường, tám viên nhất định chết người. Tôi liếc nhìn nhãn thuốc, trên đó ghi: "không dùng quá liều, nguy hiểm".

    Tôi thầm cười trong bụng. Tôi lót tay bằng chiếc mùi xoa, để khỏi để lại dấu vết, rồi mở nắp. Hai loại thuốc trông hệt như nhau. Tôi lấy ra tám viên thay vào đó tám viên átpirin. Lọ thuốc được trả lại y như cũ, Allerton sẽ không biết sự đánh tráo.

    Tô trở lại phòng mình. Tôi có một chai uýt-ki, lấy nó ra, sắp sẵn hai cốc. Ai mời uống rượu tôi chưa thấy Allerton từ chối bao giờ. Khi nào hắn lên gác, tôi sẽ mời hắn uống.

    Tôi thử hòa các viên thuốc vào rượu vào nếm thử. Có hơi đắng hơn bình thường một chút, nhưng khó nhận ra. Khi nào nghe tiếng Allerton lên, tôi sẽ làm như vừa rót đầy cốc, sẽ đưa hắn, còn tôi rót cốc khác. Thật dễ ợt và hoàn toàn tự nhiên.

    Trừ khi Judith đã nói với hắn, hắn không thể nghi ngờ gì về thái độ của tôi đối với hắn. Vấn đề này làm tôi suy nghĩ một chút, song tôi kết luận là không sao. Chắc Judith chưa nói gì. Hắn càng không thể biết là tôi đã nắm rõ dự định của hắn cho ngày hôm sau.

    Tôi chỉ còn đợi. Phải chịu khó kiên nhẫn, vì Allerton không bao giờ đi ngủ sớm. Tôi cứ ngồi yên vị trên ghế.

    Tôi giật mình khi nghe thấy tiếng gõ cửa. Đó chính là Curtiss báo rằng Poirot muốn gặp. Poirot! Suốt buổi tối, tôi không nghĩ đến ông, và chắc ông đang muốn biết tôi đi đâu. Thật phiền. Trước hết tôi hối là đã không thăm hỏi ông, hơn nữa tôi không muốn làm ông nghi ngờ. Dù sao, tôi cũng đi theo Curtiss.

    Vừa nhìn thấy tôi, Poirot nói ngay:

    - A! Xem ra anh bỏ rơi tôi.

    Tôi che miệng ngáp, mỉm cười vẻ nhận lỗi:

    - Tôi nhức đầu quá nên phải nằm nghỉ sớm.

    Poirot tỏ ra rất quan tâm, đề nghị tôi uống thuốc này thuốc nọ, rầy la tôi đã không giữ gìn, khéo bị cảm gió. Tôi nói đã uống átpirin rồi, nhưng vẫn phải uống cốc sữa nóng Poirot bảo Curtiss pha.

    Tôi về phòng, đóng cửa thật mạnh để ai nấy nghe rõ. Nhưng ngay sau đó, tôi lại khẽ hé mở cửa, để rình lúc Allerton lên.

    Tôi lại ngồi vào ghế, lan man nghĩ đến người vợ đã mất. Có lúc tôi lẩm bẩm:

    - Em ơi, nhất định anh phải cứu lấy nó.

    Nàng đã để Judith lại cho tôi chăm lo, tôi không có quyền rũ bỏ trách nhiệm. Trong đêm thanh vắng, tôi cảm thấy người vợ yêu quý vẫn ở bên tôi.

    Và tôi tiếp tục ngồi đợi
    He Is So Special.........

  3. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 13

    Trong lúc ngồi chờ Allerton, tôi ngủ thiếp đi. Điều này dễ hiểu, vì đêm trước tôi không ngủ được, ban ngày lại đi dạo ngoài trời, đã thế tinh thần lại lo âu, cănng thẳng. Bầu không khí nặng nề trước cơn giông cũng tác động thêm vào.

    Tóm lại, tôi ngủ ngồi mê mệt trên ghế. Lúc tỉnh dậy, chim đã hót véo von trên cành, mặt trời đã lên cao. Miệng tôi đắng ngắt, đầu vẫn chưa hết nhức.

    Ngỡ ngàng, ngán ngẩm, song tôi lại thấy nhẹ hẳn mình.

    Ai đó đã viết: "Ngày nào dù u ám nhất thì hôm sao cũng hết." Và đúng như vậy. Bây giờ, tôi thấy rõ là mình đã suy xét sai lạc đến thế nào. Tôi đã mất hết lý trí, định giết một con người.

    Mắt tôi trông thấy cốc uýt-ki đặt trước mặt. Tôi rùng mình, đứng lên, hắt cốc rượu qua cửa sổ. Tối hôm trước, rõ ràng tôi hoàn toàn điên rồ.

    Tôi cạo râu, đi tắm, mặc quần áo, cảm thấy người khoan khoái hơn. Tôi sang phòng Poirot, biết ông bao giờ cũng dậy sớm.

    Tôi kể mọi chuyện cho Poirot nghe như dốc hết lòng mình. Ông khe khẽ gật đầu.

    - A! Không ngờ anh lại tính những chuyện ngu ngốc vậy! Nay anh nói ra, thế là tốt. Nhưng sao tối qua anh không nói gì với tôi?

    - Tôi sợ ông lại tìm cách can thiệp.

    - Tất nhiên tôi phải can ngăn. Chả lẽ tôi ngồi yên nhìn anh vào tù vì một tên mạt hạng như Allerton?

    - Họ không tóm được tôi đâu, tôi đã tính toán rất cẩn thận.

    - Tội phạm nào cũng tưởng như thế. Nhưng xin nói anh biết, anh không lường trước được mọi chuyện đâu.

    - Tôi đã xóa dấu vân tay trên lọ thuốc...

    - Đã đành. Nhưng như vậy anh cũng xóa luôn dấu tay của Allerton. Và khi họ thấy hắn chết thì sao? Sẽ mổ tử thi và thấy là chết do uống thuốc ngủ quá liều. Nhưng trên lọ không có dấu tay của Allerton. Tại sao? Hắn không có lý do gì tự xóa dấu của mình. Lúc đó người ta sẽ khám xét và phát hiện phần lớn những viên thuốc còn lại đã được thay bằng átpirin.

    - Ai mà chẳng giữ vài viên átpirin, tôi nói.

    - Đúng. Nhưng không ai bỏ lẫn átpirin vào lọ thuốc ngủ. Hơn nữa, không phải ai cũng có một cô con gái mà Allerton đang bám đuổi. Mà anh lại vừa mâu thuẫn với Judith hôm trước về vấn đền này. Hai người, Boyd Carrington và Norton sẽ làm chứng rằng anh không ưa Allerton. Không, Hastings anh sẽ ở vào thế bất lợi, mọi sự nghi ngờ sẽ chĩa vào anh. Lúc đó anh sẽ cuống lên vì sợ hãi và hối hận, và bất cứ tên cớm nào cũng dễ dàng kết luận anh là thủ phạm. Mặt khác, rất có thể người ta đã nhìn thấy anh đánh tráo thuốc.

    - Vô lý. Không có ai quanh đó cả.

    - Xin nhắc là cửa sổ có một bao lơn bên ngoài, có người đứng đó thì sao. Rồi người ta cũng có thể nhòm qua lỗ khóa.

    - Ông thì lúc nào cũng lỗ khóa. Thiên hạ có phải ai ai và lúc nào cũng mất thì giờ nhòm qua lỗ khóa.

    Poirot nhắm mắt, nói rằng tôi quá tin người, và tiếp:

    - Và xin nói rõ để anh biết, trong nhà này xảy ra những chuyện kỳ lạ về chìa khóa. Tôi, tôi luôn muốn chắn rằng cửa phòng tôi phải khóa, dù Curtiss ở ngay phòng bên. Thế mà ngay sau khi đến đây, chìa khóa tôi bị mất, tôi phải bảo làm cái khác.

    - Nhưng dù sao có chuyện gì xảy ra đâu. Nhiều khi ta cứ lo sợ quá mức.

    Tôi hạ giọng:

    - Poirot, ông có nghĩ rằng không khí ở Styles này bị ô nhiễm vì vụ án mạng hồi xưa?

    - Một vi-rút tội ác? Lý thuyết nghe hay đấy.

    - Các ngôi nhà thực sự có không khí riêng của nó - tôi đăm chiêu nói. Mà ngôi nhà này có một lịch sử thê thảm.

    Poirot gật đầu:

    - Phải. Ở đây đã có những kẻ muốn người khác chết.

    - Và tôi cho là điều đó có ảnh hưởng... Bây giờ, ông nói xem tôi phải làm gì về chuyện... con Judith và Allerton. Nhất định phải ngăn chúng lại.

    - Không làm gì cả - Poirot đáp trịnh trọng.

    - Nhưng...

    - Hãy tin tôi, đừng làm gì cả là tốt hơn.

    - Hãy để tôi nói chuyện với Allerton...

    - Thì anh sẽ nói gì? Judith không còn trẻ con, nó đã trưởng thành, tự do làm theo ý nó.

    - Nhưng tôi phải...

    - Không, anh Hastings. Đừng tưởng anh đủ giỏi giang, kiên quyết để bắt chúng nghe lời. Allerton đã từng gặp những ông bố giận dữ, có khi hắn lại thích hắn lại thích thế nữa. Hơn nữa Judith không phải đứa con gái dễ bị áp lực. Nếu anh cần lời khuyên, tôi xin nói: "Nếu là tôi, tôi tin vào Judith."

    Tôi ngạc nhiên nhìn Poirot, ông nói tiếp:

    - Judith là một cô gái tốt, tôi rất ngưỡng mộ.

    Tôi đáp:

    - Tôi cũng ngưỡng mộ nó, nhưng nó làm tôi sợ.

    Poirot khẽ gật đầu:

    - Toi cũng sợ. Nhưng không phải theo cách anh hiểu. Phải, tôi rất sợ. Nhưng tôi bất lực... hoặc gần như thế. Ngày lại ngày qua đi, và mối nguy hiểm đã đến gần rồi.

    Tôi cũng biết là nguy hiểm đã tới gần. Tôi càng có lý do để nghĩ vậy, do đã nghe lóm được câu chuyện tối hôm trước. Tuy nhiên khi đi xuống nhà để ăn điểm tâm, tôi vẫn còn suy nghĩ về câu nói của Poirot: "nếu là tôi, tôi tin vào Judith".

    Dù bất ngờ, câu nói đó cũng làm tôi an tâm đôi chút. Và ngay sau đó, tôi nhận thấy lời nói đó là khôn ngoan và chính xác. Vì rõ ràng Judith hôm nay đã không đi Luân Đôn như dự định. Sau bữa điểm tâm, nó cùng đi với Franklin vào phòng thí nghiêm như mọi ngày, và thái độ của cả hai người cho tôi hiểu là họ chuẩn bị làm việc suốt cả ngày.

    Tôi cảm thấy lòng nhẹ nhõm hẳn. Sao hôm trước tôi hồ đồ đến thế? Tôi đã tin ngay là Judith nhận lời Allerton. Bây giờ tôi mới nhớ là chưa hề nghe thấy Judith nói lời đồng ý. Không, nó đủ tỉnh táo và chắc là đã khước từ cuộc hẹn.

    Tôi được tin Allerton đã ăm từ sớm, sau đó đã đi Ipswich. Vậy là hắn vẫn làm theo kế hoạch và tin là Judith sẽ lên gặp hắn ở Luân Đôn như hắn đề nghị. Hắn sẽ vỡ mộng thôi!

    Boyd Carrington vừa tới, khen tôi hôm nay tươi tỉnh.

    - Phải, tôi đáp. Tôi có nhiều tin vui.

    Ông ta đáp là không có được cái may ấy. Ông vừa nhận được điện thoại không vui của kiến trúc sư và những bức thư gây lo nghĩ. Ông cũng lo là đã làm bà Franklin quá mệt mỏi sau cuộc đi chơi hôm trước.

    Bà Franklin hôm trước vui vẻ, hồ hởi bao nhiêu thì hôm nay khó tính bấy nhiêu. Đó là điều cô Craven nói với tôi. Lẽ ra hôm nay là ngày nghỉ của cô, cô định đi thăm bạn bè nhưng phải tạm gác lại, nên đang bực bội. Từ sáng sớm, bà Franklin đòi hết thứ này đến thứ nọ, và không muốn cô Craven vắng mặt. Bà kêu nào là nhức đầu, nào là đau nhói ở tim, chân tay rời rã và một loạt các tật khác. Phải nói rằng những lời kêu ca ấy chẳng làm ai lo lắng, vì đã quen với cái tính thất thường của bà. Cô Craven và cả bác sĩ Franklin cũng nghĩ như vậy. Bác sĩ Franklin được gọi từ phòng thí nghiệm về, ông nghe bà kêu ca một lúc rồi hỏi bà có muốn mời ông bác sĩ địa phương đến khám không. Bà kiên quyết từ chối. Ông liền cho bà uống thuốc an thần, an ủi bà một lúc rồi lại trở về làm việc.

    Cô Craven nhận xét:

    - Tất nhiên, ông ấy cho là bà chỉ giả bộ.

    - Cô tin bà ấy không làm sao?

    - Nhiệt độ bình thường, nhịp đều... chỉ vẽ chuyện.

    Cô y tá bực mình ra mặt, và nói bạo miệng hơn thường lệ:

    - Bà ta không muốn mọi người được yên thân. Phải làm sao cho ông chồng lo đến cuống lên, cho tôi luôn phải quẩn quanh bên mình. Lại cũng phải làm cho ông Boyd hối hận, vì hôm qua đã đưa bà ấy đi chơi, khiến ngọc thể bất an. Tính bà ấy thế đấy.

    Rõ ràng cô Craven hôm nay căm ghét bệnh nhân của mình, hẳn là cô bị bà Franklin đối xử tàn tệ. Bà đúng là loại người mà y tá và gia nhân không chịu đựng nổi.

    Vậy là mọi người không coi sự kêu ca của bà Franklin là quan trọng, trừ Boyd Carrington cứ băn khoăn đi đi lại lại với vẻ mặt khổ tâm của một cậu bé vừa bị người lớn trách mắng.

    Từ đó đến nay, biết bao lần tôi đã ôn lại những sự kiện của ngày hôm ấy, cố nhớ ra một chi tiết nào có thể bị bỏ qua, hình dung lại thái độ của từng người một. Một lần nữa, tôi xin cố ghi lại những gì đọng lại trong trí nhớ.

    Boyd Carrington có vẻ không yên tâm, cứ như là mình có lỗi. Ông nghĩ hôm trước mình đã quá hăng hái, không tính đến sức khỏe mong manh của bà bạn. Hai lần ông lên phòng bà để nghe ngóng tin tức, nhưng cô Craven cũng đang bực mình nên tỏ ra hờ hững. Rồi ông xuống làng mua một hộp sôcôla nhờ đưa lên cho bà Franklin. Nhưng ngay sau đó, cô y tá lại gửi trả, nói rằng bà Franklin rất ghét sôcôla. Ông ngao ngán mở ngay hộp kẹo trước mặt Norton và tôi, mời chúng tôi ăn.

    Sáng hôm đó, Norton cũng như có điều gì lấn cấn. Anh ta lơ đãng hơn, và luôn luôn chau mày ngơ ngẩn. Anh thích kẹo sôcôla và ăn khá hiều, mắt đăm đăm nhìn ra xa.

    Thời tiết xấu đi, và từ mười giờ mưa như trút nước.

    Đến trưa, Curtiss đưa Poirot xuống phòng khách, cô Elizabeth cũng xuống và ngồi đánh dương cầm cho ông nghe. Cô đánh rất hay những bài của Bach và Mozart, là hai tác giả mà Poirot ưa thích.

    Khoảng một giờ kém hai mươi, Franklin và Judith từ phòng thí nghiệm về. Con gái tôi tái xanh, nét mặt mệt mỏi, lơ đãng nhìn quanh, rồi đi thẳng không nói một lời. Franklin ngồi lại với chúng tôi. Ông cũng có vẻ lo âu, mệt mỏi. Tôi nhớ đã nói câu gì về trời mưa làm cho không khí mát mẻ, ông nói ngay:

    - Phải. Nhiều khi... có một cái gì đó đang thay đổi...

    Không hiểu sao tôi có cảm giác ông không chỉ ám chỉ thời tiết. Với cử chỉ vụng về như thường lệ, ông vấp vào bàn, làm đổ hộp sôcôla.

    - Ô xin lỗi! ông lúng túng thốt lên, như đang nói với hộp kẹo. Ông cúi xuống, nhặt kẹo lên. Norton hỏi sáng nay ông làm việc có mệt không, ông ngửng lên cười đột ngột.

    - Ờ... không, không. Tôi vừa nhận ra mình đã sai. Cần phải có một phương pháp đơn giả hơn và nhanh hơn, thì sẽ tới đích...

    Ông lắc lư chân này sang chân kia, ánh mắt mơ màng:

    - Phải, đó là cách tốt nhất.



    Trời chiều rất dễ chịu. Mặt trời lại chiếu sáng, nhưng nhiệt độ không gay gắt bằng lúc sáng. Bà Luttrell đã xuống nhà, người ta đặt bà ngồi dưới hàng hiên. Trông bà tươi tỉnh, bà vui vẻ với mọi người, còn trêu chọc ông chồng nhưng thương mến, không ác ý. Bản thân ông Luttrell cũng rất vui.

    Poirot cũng được đưa xuống đây, và tỏ vẻ hồ hởi. Chắc ông thấy vui vì thái độ của hai vợ chồng Luttrell. Ông đại tá như trẻ ra đến vài tuổi, không dứt dứt râu nữa và tỏ vẻ vững dạ hơn. Ông còn đề nghị tổ chức hội chơi bài vào buổi tối.

    - Cho bà Daisy vui, ông nói.

    - phải đấy, bà Luttrell công nhận.

    Norton có ý kiến trái lại, sợ bà mệt.

    - Tôi chỉ chơi một ván thôi - bà nói, rồi nháy mắt ranh mãnh tiếp: Tôi sẽ chơi nghiêm chỉnh, không bắt nạt ông Geogre nhà tôi nữa.

    - Vâng, tôi biết tôi chơi kém - ông Luttrell nói.

    - Tôi thích chọc ông một chút, thì đã làm sao?

    Câu nói của bà khiến mọi người cười ồ. bà nói thêm:

    - Ồ! Tôi biết tôi lắm tính xấu. Nhưng già rồi, không sửa được. Vậy ông George chịu vậy.

    Ông đại tá cứ ngớ ra mà nhìn vợ. Cái cảnh đôi vợ chồng già vui vẻ với nhau làm mọi người nói sang chuyện hôn nhân và ly hôn. Ngày nay ly dị dễ dàng, đàn ông và đàn bà có thực sự hạnh phúc hơn trước không? Hoặc là sau một thới kỳ mâu thuẫn, cãi vã, thường là vợ chồng trở lại thương mến nhau hơn?

    Thật kỳ lạ mà nhận ra rằng ý kiến con người ta đôi khi trái ngược hẳn với kinh nghiệm đã có. Hôn nhân của tôi hoàn toàn hạnh phúc, và chắc chắn tôi thuộc về phái cổ. Mặc dù vậy, tôi chủ trương tán thành cho ly hôn. Ngược lại, hôn nhân của Boyd Carrington thất bại đau đớn thì ông lại chủ trương quan hệ hôn nhân không thể phá vỡ, cho rằng như vậy xã hội mới có nền móng bền vững.

    Norton chưa từng lấy vợ, do vậy chưa có kinh nghiệm bản thân, tán thành quan điểm của tôi - Franklin có tinh thần khoa học và hiện đại, kỳ thay, lại kiên quyết phản đối ly hôn. ông cho rằng nếu đã cam kết nhận trách nhiệm khi lấy nhau, thì phải giữ lời hứa. Cam kết là cam kết, đã tự nguyện chấp nhận thì phải tôn trọng. Làm khác đi, sẽ dẫn xã hội đến hỗn loạn. Ngồi duỗi dài chân trên ghế, ông tuyên bố chắc nịch:

    - Một người đã chọn người vợ mình lấy, thì phải có trách nhiệm cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

    Norton cười:

    - Đôi khi chia tay lại là tốt.

    - Ông ơi, Boyd Carrington nói, ông không có thẩm quyền bàn chuyện này, vì ông chưa bao giờ có vợ.

    Norton gật đầu:

    - Đúng vậy, và bây giờ thì đã quá muộn.

    Byod Carrington nheo mắt giễu cợt:

    - Ông chắc vậy không?

    Đúng lúc đó. Elizabeth Cole vừa đến. Phải chăng tôi tuởng tượng hay ánh mắt của Boyd Carrington nhìn từ Norton sang Cole thật? Một ý mới xuất hiện trong đầu tôi, và tôi nhìn kỹ cô ta hơn. Cô còn tương đối trẻ, và cũng đẹp. Một con người duyên dáng, dễ thương, còn có thể đem lại hạnh phúc cho một người đàn ông. Tôi chợt nhớ mấy ngày nay, Norton và cô Cole thường cặp kè với nhau đi ngắm chim và hoa dại, và cô Cole nói với tôi về Norton bằng những lời cảm kích.

    Ồ, nếu như vậy thật, thì tôi mừng cho cô. Thời trẻ buồn thảm à khổ đau không ngăn cô có hạnh phúc trong tương lai và tấm thảm kịch xảy ra trong đời cô không đến nỗi là hoàn toàn vô ích. Càng nhìn tôi càng thấy cô tươi tắn, hớn hở hơn cái hôm tôi mới đến. Elizabeth Cole và Norton? Ừ, tại sao không?

    Rồi, bỗng dưng tôi lại thấy lòng tràn ngập bất an, lo lắng. Nơi đây, tính chuyện xây đắp hạnh phúc tương lại thật không thích hợp. Trong không khí ngôi nhà này, có một cái gì xấu xa mà lúc này cảm nhận thấy rõ hơn. Tôi thấy mệt mỏi, kinh hoàng nữa.

    Tuy nhiên lát sau cảm giác đó biến mất. Và không ai để ý đến tâm trạng của tôi, có lẽ chỉ trừ Boyd Carrington, vì mấy phút sau, ông lại gần tôi và hỏi:

    - Có chuyện gì vậy, ông Hastings?

    - Không - Tôi cố làm ra vẻ thản nhiên. Sao ông hỏi vậy?

    - Ồ, ông có vẻ... tôi không biết tả thế nào.

    - Có gì đâu, một thứ... hồi hộp thôi mà.

    - Một linh cảm?

    - Nói thế cũng được. Cảm giác là sắp xảy ra chuyện gì.

    - Lạ thật. Tôi cũng đôi lúc cảm thấy thế. Nhưng chuyện gì cơ chứ?

    Ông đăm đăm nhìn vào tôi, như muốn qua đó tìm ra lời đáp. Tôi chỉ lắc đầu. Vì thực ra, linh cảm của tôi chẳng dựa trên cơ sở nào cụ thể. Có thể nó chỉ là hậu quả của từng đợt e ngại, suy sụp tinh thần mà thỉnh thoảng tôi mắc phải.

    Judith thong thả đi ra ngoài, đầu ngửng cao, môi mím chặt, vẻ nghiêm nghị. Trông nó không giống chút nào với mẹ nó và tôi! Dáng bộ khắc khổ như nữ tu sĩ. Hẳn Norton cũng có ý ấy, nên anh ta nói:

    - Trông cô giống nhân vật nổi tiếng trùng tên với cô, trước khi nàng chặt đầu Holopherme.

    Judith cười nhẹ, nhướng lông mày:

    - Tôi không nhớ tại sao bà ta làm thế.

    - Ồ, đó là vì lý do đạo đức và vì lợi ích của cộng đồng.

    Cái giọng pha chút giễu cợt đó không làm con gái tôi vừa lòng. Nó đỏ mặt rồi bước qua mặt Norton để đến ngồi cạnh bác sĩ, không nói một lời. Nó tuyên bố:

    - Bà Franklin khá hơn nhiều, và bà muốn mời tất cả lên dùng cà phê trên phòng bà.

    Bà Barbara Franklin thật lắm chuyện. Tôi ngẫm nghĩ như vậy sau bữa ăn trưa, trong lúc chúng tôi lên gác đáp lời mời của bà. Cả buổi sáng, bà cáu kỉnh, khó tính,thì nay lại xởi lởi, nhẹ nhàng. Bà nằm trên ghế dài, mặc bộ áo ngủ sang trọng màu xanh lục. Cạnh đó là một tủ sách nhỏ xoay được, trên đó để sẵn bình cà phê. Bà và cô Craven nhanh nhẹn rót cà phê cho chúng tôi. Tất cả đều có mặt, trừ Poirot bao giờ cũng lên phòng sau bữa ăn; và tất nhiên vắng mặt Allerton đi Ipswich chưa về, và vợ chồng Luttrell ở lại dưới nhà.

    Mùi cà phê thơm phức. Ở nhà trọ này, cà phê thường là loại nhạt thếch, do đó chúng tôi háo hức chờ đón được nếm thứ mà bà Franklin chiêu đãi.

    Ông Franklin ngồi phía bên kia tủ sách, chuyển tách cho bà lần lượt rót. Boyd carrington đứng cạnh giường, Elizabeth Cole và Norton đứng trước cửa sổ. Cô Craven ở xa hơn một chút, đứng đầu giường. Còn tôi ngồi trên ghế, loay hoay điền ô chữ trên tờ thời báo, vừa làm vừa đọc to các định nghĩa. Gặp từ khó mọi người xúm lại mỗi người một ý, giúp tôi tìm ra từ thích hợp.

    Bỗng từ ngoài bao lơn, tiếng của Judith vọng vào:

    - Này mọi người ơi! Có một ông sao đổi ngôi... Ồ! Một ông nữa.

    - Đâu, đâu? Boyd Carrington hỏi. Thế thì phải ước điều gì ngay. Nói rồi, ông chạy ra ngoài cùng đứng với cô Cole, Norton và Judith. Cô Craven cũng ra theo, rồi Franklin. Tôi vẫn ngồi, chăm chú vào ô chữ. Sao đổi ngôi chẳng liên quan đến tôi. Tôi chẳng có gì để ước...

    Boyd Carrington đột ngột ngó vào phòng gọi:

    - Barbara, cô ra đây.

    - Không, bà Franklin đáp, tôi mệt lắm.

    - Thôi nào, ra đây ước điều gì chứ! Boyd nài. Ra đây, tôi bế cô ra.

    Và ông bế bà lên tay. Bà Franklin giẫy nẩy.

    - Bỏ tôi ra! Đừng làm thế.

    - Đàn bà con gái bắt buộc phải nói một điều ước...

    Ông cứ thế ôm bà ra ngoài cửa, đặt đứng trên bao lơn.

    Tôi cúi gằm mặt xuống tờ báo... Hồi ức trở về, một đêm trăng nơi nhiệt đới... và một ông sao đổi ngôi. Tôi đã quay lại, ôm vợ trong tay để chỉ cho xem ngôi sao vút chạy. Và nói một điều ước...

    Những dòng ô chữ nhòa đi trước mắt tôi.

    Một bóng người tách ra trong khuôn cửa, đi vào phòng... Judith.

    Tôi không muốn để con gái nhìn thấy mắt tôi nhòa lệ, nên quay ra xoay cái tủ sách, làm bộ đang tìm sách. Tôi nhớ trong đó có một tuyển tập Shakespeare. Tôi lấy ra, lật giở tìm đến đoạn có vở kịch Othello.

    - Ba làm gì vậy? Judith hỏi.

    Tôi trả lời là đang lục tìm một từ thích hợp để điền vào ô chữ.

    Những người khác lần lượt đi vào, cười cười, nói nói. Bà Franklin trở lại nằm trên ghế dài. Ông chồng ngồi vào chỗ cũ phía bên kia tủ sách, lơ đãng cầm thìa khuấy tách cà phê. Norton và cô Cole xin rút lui, nói là đã hứa xuống chơi bài với vợ chồng Franklin.

    Bà Franklin uống hết tách cà phê, bảo mang thuốc đến cho bà. Cô Craven đi vắng đâu một lúc, nên Judith nhận vào phòng tắm lấy hộ.

    Franklin lúc này đang đi đi lại lại trong phòng, vấp phải chiếc ghế.

    - Ông John, hãy cẩn thận! Bà vợ kêu. Ông hậu đậu quá.

    - Xin lỗi, tôi đang mải nghĩ.

    Rồi ông nói:

    - Đêm nay trời đẹp. Tôi muốn đi dạo một chút.

    Ông đi khỏi, bà nói:

    - Trông khù khờ thế, như ông ấy thật có tài, luôn say mê công việc. Tôi rất nể ông ấy.

    - tất nhiên rồi ông ấy rất thông minh. Tôi rất nể ông ấy. Boyd Carrington nói.

    Judith đột nhiên đi ra, suýt vấp phải cô Craven vừa tới.

    - Barbara hay là ta chơi một ván pích kê? Boyd lại nói.

    - Hay đấy. Cô Craven, nhờ cô mang giúp cỗ bài.

    Cô y tá đi lấy bài, đưa cho bà Franklin. Tôi cảm ơn bà về tách cà phê, chúc bà ngủ ngon rồi xin rút lui.

    Ra khỏi phòng, tôi thấy Judith và Franklin đứng cạnh nhau bên cửa sổ ngoài hành lang. Nghe tiếng chân tôi, ông bác sĩ quay đầu lại rồi tiến hai bước, ngập ngừng như thường lệ, hỏi Judith:

    - Cô muốn cùng tôi đi dạo không?

    Judith lắc đầu.

    - Cảm ơn ông, tối nay thì không.

    Và nó nói thêm bằng giọng hơi sẵn.

    - Tôi đi đây. Chúc ông ngủ ngon.

    Tôi cùng xuống với Franklin. Ông cười và huýt khe khẽ trong miệng.

    - Tối nay, ông có điều gì vui - tôi nói.

    - vâng. Tôi đã làm được một việc dư định bấy lâu, rất lấy làm hài lòng.

    Tôi chia tay ông ở chân cầu thang và ra phòng khách, đứng nhìn mấy người chơi bài. Norton nháy mắt về phía tôi, ra ý chỉ vào bà Luttrell.

    Allerton vẫn chưa về; không có hắn, tôi cảm thấy không khí ngôi nhà đỡ ngột ngạt.

    Lát sau, tôi lên gác, gõ cửa phòng Poirot, gặp ông đang chuyện trò với Judith. Nhìn thấy tôi, nó nhoẻn miệng cười. Poirot nói:

    - Cháu tha thứ cho anh rồi.

    Tôi hơi bị chạm tự ái:

    - thật tình, tôi không thể tin...

    Judith đứng lên, lại gần đưa tay bá cổ tôi:

    - Tội nghiệp ba! Bác Hercule không có ý định xúc phạm ba. chính con mới là người phải được tha thứ. Vậy... ba tha thứ cho con đi.

    Tôi thong thả nói:

    - Xin lỗi. Ba không có ý định...

    Không hiểu sao tôi lại nói vậy. Judith ngắt lời:

    - Con xin ba, ta không nói chuyện ấy nữa. Bây giờ mọi việc tốt rồi.

    Trước khi đi ra, nó lại cười với tôi, nụ cười lơ đãng, xa xôi. Nó đi rồi, Poirot ngước mắt hỏi tôi:

    - Thế nào, tối nay có chuyện gì?

    - Không có gì đặc biệt, tôi đáp. Và tôi không có cảm tưởng là sẽ xảy ra chuyện gì.

    Tôi nhầm to. Vì than ôi, đêm ấy có chuyện đã xảy ra. bà Franklin đau bụng dữ dội. Chồng bà đến khám, gọi thêm hai bác sĩ nữa đến nhưng vô hiệu. Sáng hôm sau, bà chết.

    Hai mươi bốn giờ sau, chúng tôi mới biết sự thật. Barbara Franklin bị đầu độc bằng chất physostigmine.
    He Is So Special.........

  4. Cảm ơn tuyetvotjnh vì bài viết:

    kudo_shinichi_holmes (16-05-2011)

  5. Tham gia ngày
    Apr 2011
    Bài gởi
    193
    Cảm ơn
    80
    Được cảm ơn 23 lần trong 16 bài
    Sent 3 thank(s)
    Received 4 thank(s)
    Rep Power
    13



    mình mong đc đọc truyện cảu nữ hoàng trinh thám Agathar Christie lâu rồi, chắc hè này phải khăn gói đến khắp các cửa hàng sắch mất
     

  6. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 14

    Hai ngày sau, cuộc điều trần tiến hành.

    Trước hết, bác sĩ pháp y báo cáo. Bà Barbara Franklin chết do đầu độc bằng chất physostigmine - có tên khác là ésérie. Nhưng các mẫu phân tích còn phát hiện thấy những chất ancalôít khác của giống đậu calabar. Bà Fraklin đã uống phải thuốc độc tối hôm trước, khoảng giữa bảy giờ tối đến mười hai giờ đêm.

    Nhân chứng thứ hai là đích thân bác sĩ Franklin, ông báo cáo rất rành rẽ, chính xác. Sau cái chết, ông đã kiểm tra kỹ lưỡng các dung dịch cất giữ trong phòng thí nghiệm, và sửng sốt nhận thấy một lọ đáng lẽ chứa đầy dung dịch ancalôít của cây đậu calabar đã bị thay thế bằng nước lã. Ông không thể nói rõ sự đánh tráo đó đã xảy ra vào lúc nào, vì đã nhiều ngày nay không động đến nó.

    Vấn đề đặt ra là: ai có thể vào phòng thí nghiệm? Bác sĩ Franklin khẳng định phòng bao giờ cũng khóa, và ông thường giữ chìa khóa trong túi. Chỉ có trợ lý Judith Hastings, có chiếc thứ hai, bất cứ ai muốn vào đều phải mượn một trong hai chìa đó. Vợ ông có lúc mượn chìa khóa vào phòng để lấy một vật gì bỏ quên trong đó. Bác sĩ cũng cho biết bà không hề mang dung dịch physostigmine về phòng.

    Trả lời câu hỏi của cán bộ điều tra, bác sĩ cho biết vợ ông không có bệnh gì trong nội tạng, song ít lâu nay mắc chứng trầm uất, gây nên tính khí thất thường. Tuy vậy mấy hôm nay bà ấy lại vui vẻ, có dấu hiệu sức khỏe khá lên. Hai vợ chồng ông sống hòa thuận, từ lâu không mâu thuẫn gì. Trước hôm chết, bà Franklin còn rất vui.

    Ông công nhận thỉnh thoảng bà nói muốn chết, song ông không coi ý định đó là nghiêm túc. Bà không phải là người muốn tự tử. Tiếp theo là cô Craven, duyên dáng trong sắc phục y tá. Ý kiến cô cũng rành rẽ, cụ thể. Cô chăm sóc bà Franklin được hơn hai tháng. Bà bị bệnh tinh thần là chính, và nhiều người đã nghe bà hai ba lần nói muốn chết cho xong, vì đời bà không còn ý nghĩa gì, chỉ là gánh nặng cho chồng.

    - Theo cô, bà ấy nói thế là thế nào? Cán bộ điều tra hỏi. Giữa hai ông bà có va chạm gì không?

    - Không hề. Song bà biết ông vừa mới được mời đi nhận chức vụ khá tốt ở nước ngoài, nhưng ông không đi vì vướng bà.

    - Và vì thế bà lại càng thêm trầm uất?

    - Vâng.

    - Bác sĩ Franklin biết chuyện ấy không?

    - Tôi không nghĩ là bà nói với ông chuyện ấy.

    - Có bao giờ bà nói rõ ý muốn tự tử?

    - Bà thường chỉ nói "muốn chết quách cho xong".

    - Có bao giờ bà nói muốn chết bằng cách nào?

    - Không. Chỉ nói chung chung vậy thôi.

    - Gần đây có xảy ra sự việc gì khiến tinh thần bà thêm khủng hoảng?

    - Theo tôi biết thì không. Gần đây bà còn khá hơn là đằng khác.

    - Vậy là cô đồng ý với bác sĩ Franklin nói trước hôm chết bà có vẻ vui hơn.

    Cô y tá lưỡng lự một lát.

    - Theo tôi, bà có hơi... bồn chồn. Cả ngày đi chơi mệt, bà kêu nhức đầu, chóng mặt. Nhưng đúng là buổi tối, bà đỡ hẳn. Tuy nhiên, sự vui vẻ của bà không tự nhiên, như là... cố gượng.

    - Cô có trông thấy cái lọ nào đựng thuốc độc?

    - Không.

    - Tối hôm đó, bà ăn những thứ gì?

    - Canh, sườn nấu với khoai và đậu, rồi mứt anh đào. Và uống một ly rượu bourgogne.

    - Rượu ở đâu ra?

    - Bà có một chai cất trong phòng. Chỗ còn lại đã được các ông phân tích, hình như không có độc tố.

    - Có thể bà bỏ thuốc độc vào rượu mà cô không biết?

    - Rất dễ, vì không phải lúc nào tôi cũng để mắt. Tôi bận sắp xếp trật tự trong phòng. Bà ấy có cái túi để ngay tầm tay, muốn bỏ gì vào rượu, cà phê hay sữa đều được.

    - Lọ thuốc độc dùng xong rồi, không biết bà bỏ đâu?

    Cô Craven suy nghĩ vài giây:

    - Có thể vứt ra ngoài cửa sổ, hay vứt vào sọt rác. Bà cũng có thể súc sạch rồi để lại vào tủ thuốc trong phòng tắm, ở đó lúc nào cũng có một số lọ không.

    - Cô nhìn thấy bà Franklin lần cuối lúc nào?

    - Lúc mười giờ rưỡi. Tôi đặt bà lên giường , đưa bà cốc sữa nóng, và bà bảo tôi mang cho bà ống átpirin.

    - Lúc đó bà ấy thế nào?

    Cô y tá lại nghĩ:

    - Như thường lệ. Nhưng không hẳn như thế. Bà có vẻ hứng khởi hơn.

    - Vậy là không trầm uất.

    - Không. Nhưng một người sắp tự tử có thể ở trong tình trạng kích động, hoặc... hứng khởi.

    - Cô có cho là bà thuộc loại người có thể tự tử?

    Cô Craven im lặng môt lát, do dự:

    - Trời, làm sao tôi khẳng định được. Tuy nhiên, tôi cho là có, vì bà vốn hay mất cân bằng.

    Boyd Carrington được mời ra, ông thực sự bàng hoàng, nhưng khai báo rõ ràng. Tối đó, ông chơi bài pích-kê với bà Franklin, thấy bà không có gì là suy yếu tinh thần. Nhưng mấy ngày trước đó, bà có nói đến ý muốn chết. Bà ta là người rất khoan dung, không vụ lợi, rất buồn vì mình ngáng trở sự nghiệp của chồng.

    Tiếp theo Boyd carrington là Judith, nhưng nó chả có mấy để khai. Nó không hiểu làm thế nào mà dung dịch physostigmine trong phòng thí nghiệm bị đánh tráo. Tối hôm đó, bà Franklin có vẻ hoàn toàn bình thường. Nó nói chưa bao giờ nghe bà Franklin tỏ ý muốn tự tử.

    Người làm chứng cuối cùng là Hercule Poirot. Lời khai chắc nịch của ông gây ấn tượng mạnh. Trước hôm xảy ra tấm thảm kịch, Poirot đã chuyện trò với bà Franklin. Bà rất ủ rũ, tỏ ý muốn chết, rất buồn vì tình trạng sức khỏe, bà có sống cũng chẳng để làm gì. Bà còn nói, có lúc nghĩ rằng nếu ngủ đi rồi vĩnh viễn không dạy nữa thì tuyệt vời.

    Nhưng câu Poirot trả lời câu hỏi tiếp theo mới càng gây sửng sốt:

    - Sáng ngày 10 tháng 6, ông có ngồi gần cửa phòng thí nghiệm?

    - Phải.

    - Ôngn đã thấy bà Franklin từ đó đi ra?

    - Có, tôi có thấy.

    - Bà có cầm gì trong tay?

    - Tay phải bà cầm một lọ nhỏ.

    - Ông chắc chứ?

    - Chắc chắn.

    - Nhìn thấy ông, bà có tỏ ý gì không?

    - Có vẻ hơi hốt hoảng.

    Cán bộ điều tra quay sang các vị hội thẩm.

    - Thưa các vị, bây giờ để tùy ý các vị xác định xem bà Franklin chết như thế nào. Báo cáo của pháp y rất rõ ràng về nguyên nhân cái chết, đó là do trúng độ physostigmine. Các vị sẽ phán quyết chất độc là cho bà Franklin tự uống - hoặc vô tình hoặc cố ý hay là do bàn tay người khác. Nhiều nhân chứng đã khai rằng nạn nhân mắc chứng tâm thần, mặc dù nội tạng không sao, nhưng sức khỏe suy sụp. Mặt khác, ông Hercule Poirot mà ta đều biết là người có uy tín, khẳng định có trông thấy bà từ phòng thí nghiệm của chồng đi ra, tay cầm lọ. Từ đó toàn hội thẩm quyền có quyền suy ra là bà Franklin đã lấy thuốc đó rõ ràng nhằm mục đích tự tử. Bà bị ám ảnh vì nỗi đã ngăn trở sự nghiệp của chồng. Người chồng rất tốt và vẫn thương yêu vợ, chưa hề phàn nàngì về sức khỏe của vợ, kể cả việc mình bị vợ gây khó khăn trong sự nghiệp. Ý đó chỉ là nằm trong tưởng tượng của bà Franklin. Những người bị bệnh thần kinh thường hay có những ý nghĩ cố định. Trong trường hợp này, khó thể biết nạn nhân đã uống độc dược như thế nào và lúc nào. Điều kỳ lạ là không tìm ra cái lọ mà ông Poirot đã nhìn thấy trong tay bà Frankin. Song rất có thể như cô Craven nói, bà Franklin đã rửa sạch và xếp nó vào tủ thuốc, nơi bà đã lấy nó trước khi đến phòng thí nghiệm. Và bây giờ, thưa các vị hội thẩm, xin để các vị phán xét.

    Sau khi thảo luận ngắn, hội đồng bồi thẩm đã ra phán quyết: Bà Franklin đã tự kết liễu đời mình trong một cơn hoảng loạn nhất thời.

    Nửa giờ sau, tôi ở trong phòng Poirot. Trông ông có vẻ kiệt sức. Curtiss đã đặt ông lên giường, cho ông uống thuốc.

    Tôi sốt ruột chờ đợi anh hầu đi ra, rồi bật lên câu hỏi:

    - Poirot, điều ông vừa kể có đúng không? Ông có thật thấy bà Franklin từ phòng thí nghiệm đi ra, tay cầm lọ?

    Nụ cười thoáng trên đôi môi nhợt nhạt của nhà thám tử.

    - Thì anh cũng trong thấy đó thôi.

    - Không.

    - Có thể lúc ấy anh không để ý.

    - Có thể. Tất nhiên tôi không dám chắc.

    - Anh cho là tôi nói dối sao?

    - Biết đâu được.

    - Hastings, anh không tin tôi nữa sao?

    - Tôi không tin ông lại nói bậy, nói dối.

    Ông khoát tay:

    -Thôi điều gì đã nói là đã nói, cãi cọ vô ích.

    - Tôi thật tình không hiểu.

    - Anh không hiểu cái gì?

    - Lời khai của ông: rằng bà Franklin nói với ông là muốn tự tử.

    - Chính tai anh cũng đã từng nghe bà ấy nói vậy, có phải không?

    - Đành thế, nhưng đó chỉ là kiểu nói quá của bà. Ông không nêu bật cái ý ấy.

    - Có thể là tôi không muốn nêu.

    - Ông muốn người ta kết luận là tự tử?

    Poirot không trả lời ngay. Sau ông mới thong thả đáp:

    - Hastings, anh không hiểu là tình thế nghiêm trọng. Đúng, tôi muốn người ta kết luận là tự tử.

    Poirot thong thả gật đầu.

    - Vậy ông tin là bà bị ám sát?

    - Đúng vậy, bà bị ám sát

    - Vậy tại sao ông lại muốn im chuyện, cố tình làm cho người ta đi đến phán quyết chấm dứt điều tra? Có phải ông muốn thế không?

    - Phải.

    - Vì lý do gì, hở trời?

    - Hóa ra anh không nhìn thấy gì ư? Nhưng thôi, không quan trọng, không nói nữa. Song anh có thể tin tôi. Chúng ta đang đứng trước một vụ án mạng. Một án mạng có tính toán trước. Tôi đã bảo là sẽ có án mạng ở đây, mà ta chưa chắc ngăn chặn được, vì hunh thủ quyết tâm ra tay không thương tiếc.

    Tôi rùng mình.

    - Và bây giờ sẽ đến chuyện gì nữa?

    Poirot lại cười:

    - Vụ việc đã khép lại rồi, kết luận là tự tử. Nhưng tôi với anh còn ngầm làm việc tiếp, đào sâu như những con trũi. Và sớm muộn ta sẽ tóm được tên X.

    - Trong khi chờ đợi, nhỡ lại có ám sát nữa.

    - Không chắc. Trừ khi có người nào nhìn thấy, hoặc biết một điều gì. Nhưng nếu vậy, người ấy đã nói ra trong lúc điều tra.
    He Is So Special.........

  7. Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Land of the Gods
    Bài gởi
    525
    Cảm ơn
    24
    Được cảm ơn 96 lần trong 54 bài
    Sent 1 thank(s)
    Received 3 thank(s)
    Rep Power
    26



    Chương 15

    Ký ức của tôi hơi mơ hồ về thời gian tiếp theo cuộc điều trần về cái chết của bà Franklin. Tất nhiên tôi không quên buổi lễ tang, có rất đông người ở Styles đến dự. Ở cổng nghĩa trang, một bà già mắt kem nhèm đến gặp tôi, chẳng rào trước đón sau gì, nói:
    - Tôi nhớ ra ông rồi.
    - Vâng... có thể, tôi lúng túng.
    Bà nói tiếp:
    - Lâu quá rồi nhỉ? Đấy là hồi vụ án mạng đầu tiên xảy ra trên đất này. Hồi đó tôi đã bảo: "Rồi còn xảy ra nữa". Cái bà Ingelthorp ấy, chính lão chồng đã giết.
    Bà liếc mắt tinh quái:
    - Lần này chắc cũng vậy thôi.
    - Bà bảo sao? Tôi gắt lại. Bà không biết tòa đã phán quyết chết do tự tử sao?
    - Tòa cũng có khi sai chứ!
    Bà đưa khuỷu tay hích tôi:
    - Là bác sĩ muốn khử ai thì quá dễ.
    Tôi giận dữ nhìn bà, bà quay mặt đi, song vẫn tiếp:
    - Dù sao cũng lạ là việc này lặp lại lần thứ hai. Và ông lại có mặt.
    Tôi chợt nghĩ: hay là bà này nghi tôi là thủ phạm của cả hai vụ. Kỳ thay, ở một làng nhỏ thế này, người ta cũng nghĩ ra lắm chuyện! Mà bà già thực ra không hoàn toàn sai, vì tôi, tôi biết chắc là bà Franklin bị giết, chứ không tự tử.
    Như đã nói, tôi nhớ không rõ những ngày sau đó. Trước hết, sức khỏe Poirot sút đi trông thấy. Một hôm, cutiss đếm tìm tôi, mặt không còn lỳ như mọi ngày, báo tin ông chủ vừa lên cơn đau nặng, và nói:
    - Con nghĩ cần mời thầy thuốc.
    Tôi lập tức chạy lên phòng ông, song ông kiên quyết phản đối mới thầy thuốc. Tôi thấy điều đó hơi lạ vì xưa nay Poirot rất quan tâm đến sức khỏe, thường cố tránh ngồi nơi gió lùa, quàng khăn cổ cẩn thận, không để chân bị ướt, hơi mệt là đi nằm và lấy nhiệt độ. Và tôi biết, dù hơi khó ở, ông đều hỏi ý kiến thầy thuốc.
    Bây giờ ốm thực, ông lại làm trái lại. Nhưng có thể vì trước đó, ông chỉ mắc những chứng không nghiêm trọng. Giờ đây, ông sợ phải đứng trước sự thật hiển nhiên, nên ngại không đối mặt với thầy thuốc. Ông nói:
    - Thầy thuốc ấy à, tôi đã khám rồi! Không phải một, mà nhiều thầy. Có hai ông thầy khuyên tôi đi nghỉ ở Ai Cập, rút cục bệnh lại nặng thêm.
    Ông kể tên một bác sĩ nổi tiếng khác, chuyên về tim mạch.
    - Ông ấy bảo sao? - Tôi hỏi ngay.
    - Đã làm mọi thứ để làm - Poirot bình thản đáp. Đã cho thuốc. Nay có gọi thêm thầy thuốc nữa là vô ích. Bộ máy đã rão rồi, anh thấy không. Tiếc rằng không giống cái ôtô, chỉ thay động cơ là chạy được.
    - Nhưng cũng phải làm cái gì chứ. Curtiss...
    - Curtiss làm sao?
    - Hắn nói rất lo cho ông. Hình như ông vừa lên cơn.
    - Ồ! Chuyện vặt ấy mà.
    - Ông thật sự không muốn khám lại?
    - Đã nói rồi, vô ích.
    Poirot nói giọng nhẹ nhàng nhưng nghiêm trọng. Lòng tôi se lại. Ông mỉm cười, nói tiếp:
    - Cái vụ chúng ta đang theo đuổi, sẽ là vụ cuối cùng của tôi. Và cũng là vụ lý thú nhất, vì hunh thủ rất đặc biệt. Hắn có tài kỳ lạ, muốn hay không muốn, tôi phải khâm phục. Đến lúc này, hắn đã hành động khôn khéo đến mức Hercule Poirot này phải chịu thua. Hắn đã ra một đòn mà tôi không tìm ra cách đỡ...
    - Nếu ông còn sức khỏe như ngày xưa...
    Tôi nói câu ấy nhằm mục đích an ủi, song hóa ra là hớ.
    - Đã bao nhiêu lần tôi nói với anh rằng sức mạnh cơ bắp không cần thiết? Để vạch mặt một hung thủ, cái chính là phải suy nghĩ, bắt các tế bào xám là việc.
    - Ồ.. tất nhiên rồi. Việc ấy thì ông làm được. Rất tốt là đằng khác.
    - Rất tốt? Tuyệt diệu nữa chứ! Chân tôi liệt, tim tôi thỉnh thoảng lên cơn, nhưng óc tôi vẫn hoạt động hoàn hảo.
    - Thế thì tốt quá rồi.
    Tuy nhiên, khi đi xuống nhà, tôi nghĩ: lần này thì bộ óc hoàn hảo của Poirot không theo kịp diễn biến sự việc nữa rồi. Trước hết là bà Luttrell sắp chết, rồi đến bà Franklin chết thật. Và chúng tôi đã làm gì để truy bắt thủ phạm? Hầu như không làm gì.
    Hôm sau, Poirot nói với tôi:
    - Hôm qua, anh khuyên tôi nên khám bác sĩ.
    - Đúng, như vậy tôi sẽ yên tâm hơn.
    - Vậy thì anh vừa lòng nhé: tôi đồng ý. Tôi sẽ gặp bác sĩ Franklin.
    - Franklin? Tôi ngạc nhiên nhắc lại.
    - Ông ấy là bác sĩ, phải không nào?
    - Đành thế, nhưng ông ấy chỉ chuyên nghiên cứu koa học.
    - Tôi biết. Và chắc ông không giỏi về khám đa khoa. Nhưng dù sao cũng là bác sĩ. Và có thể ông cũng không kém đồng nghiệp là bao.
    Tôi không hoàn toàn hài lòng. Tôi không nghi ngờ tài năng của Franklin, song ông ấy có bao giờ chú ý đến các bệnh thông thường. Dù sao Poirot cũng đã nhượng bộ và nhờ ông khám, do không có bác sĩ quen nào ở gần. Franklin tới ngay và còn nói nếu Poirot cần sự điều trị dài ngày, ông sẽ giới thiệu tới một chuyên gia khác.
    Franklin ở khá lâu trong phòng Poirot. Khi ông ra, tôi kéo ông vào phòng mình, đóng cửa lại.
    - Thế nào? Tôi hỏi dồn.
    - Ông ấy là một người xuất sắc.
    Tôi khoát tay:
    - Điều đó, tôi biết rồi. Nhưng sức khỏe? Franklin tỏ vẻ ngạc nhiên, dường như đó là vấn đề không quan trọng.
    - Ồ! Sức khỏe thì không tốt lắm.
    Đúng là một kiểu nói chung chung, vô thưởng vô phạt. Thế mà Judith, con gái tôi thường bảo ông là một sinh viên xuất sắc hồi học y.
    - Tình trạng ông ấy thế nào? Tôi hỏi gặng.
    Ông đăm đăm nhìn tôi một lát.
    - Ông muốn biết à?
    - Dĩ nhiên.
    - Nhiều bệnh nhân không muốn biết rõ về bệnh tình, chỉ cần an ủi, động viện họ, để họ còn có hy vọng. Và nhờ đó có khi lui bệnh một cách kỳ lạ, bất ngờ. Tiếc thay, trường hợp ông Poirot không như vậy.
    - Ông muốn nói...
    Tôi thấy lòng thắt lại. Franklin khẽ gật đầu:
    - Phải, không cứu chữa được. Tất nhiên, tôi nói vậy, vì đã được ông ấy cho phép.
    - Vậy là... ông ấy đã biết.
    - Biết. Ông ấy có thể suy sụp bất cứ lúc nào... Tất nhiên ta không thể nói thời gian chính xác.
    Ngừng một lát, ông thong thả tiếp:
    - Theo tôi hiểu, ông ấy không hoàn thành được... cái gì đó. Ông có biết là việc gì không?
    - Có, tôi có biết.
    Franklin nhìn tôi bằng ánh mắt tò mò.
    - Ông ấy muốn nhất định phải hoàn thành việc đã định. Không hiểu ông bác sĩ này có biết việc gì không, nhưng ông đã nói tiếp.
    - Tôi hy vọng ông ấy sẽ làm được. Có cảm giác đối với ông việc này rất quan trọng. Ông ấy có đầu óc khoa học lắm.
    - Ta có thể làm gì không? Có cách chữa trị nào...
    Ông thong thả lắc đầu:
    - Không. Ông ấy có sẵn những ống thuốc trợ tim rất tốt để uống khi nào lên cơn. Ngoài ra, không còn cách nào khác.
    Sau vài giây lưỡng lự, ông hỏi một câu rất lạ:
    - Ông ấy rất tôn trọng tính mệnh con người, có phải không?
    - Vâng, có như vậy.
    Biết bao lần tôi đã nghe Poirot tuyên bố: "Tôi phản đối giết người".
    - Đó là sự khác nhau giữa chúng tôi. Tôi không có được sự tôn trọng như thế.
    Tôi nhìn ông, không nói. Ông nghiêng đầu, mỉm cười.
    - Phải không nào? Đằng nào cũng chết, thì chết sớm một chút hay muộn có nghĩa gì? Chẳng khác gì nhau.
    - Nếu ông nghĩ vậy, tại sao ông lại chọn nghề chữa bệnh? Tôi hỏi, có ý bất bình.
    - Y học không có nghĩ chỉ làm chậm cái chết. Hơn thế nhiều, nó nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Một người khỏe chết đi, điều đó không quan trọng lắm; một thằng tồi, một thằng đểu chết đi, lại là điều tốt. Nhưng nếu ta tìm ta cách biến thằng đểu thành người bình thường - ví dụ bằng cách chỉnh lại hoạt động của các hạch - đó mới là điều có tầm quan trọng lớn.
    Tôi nhìn ông bác sĩ với sự hứng thú đặc biệt. Nếu tôi bị bệnh cúm, chắc chẳng dám nhờ đến ông, vì chưa chắc ông đã chữa được. Song sự thành tâm và ý nghĩ táo bạo của ông, ta phải ngã mũ chào. Từ khi vợ chết, tôi nhận thấy ông có chút thay đổi. Ông có buồn phiền hay không, không thếy ông để lộ ra. Ngược lại, ông có vẻ sinh động hơn, ít lơ đãng hơn.
    Bỗng dưng, ông đưa ra nhận xét.
    - Judith và ông, hai người khác nhau quá, phải không?
    - Vâng, có thể.
    - Cô ấy có giống mẹ không?
    Tôi suy nghĩ và lắc đầu:
    - Không thật giống. Vợ tôi luôn vui tươi, thoải mái, gặp chuyện không hay vẫn vui. Cô ấy muốn tôi cũng như thế, nhưng tôi không làm được.
    - Ông thuộc loại ông bố cao đạo, phải không? Ấy là Judith nói vậy. Cô ấy không mấy khi cười, rất nghiêm túc và ham làm việc quá. Một phần cũng tại tôi.
    - Việc của ông chắc thú vị lắm - tôi nói.
    - Thú vị với vài người thôi. Người khác cho là nhàm chán.
    Có khi họ nói đúng. Ông hất đầu ra phía sau, nhô vai lên, trở lại con người thật của ông: mạnh mẽ, đầy nghị lực.
    - Nhưng bây giờ cơ hội của tôi đã đến. Văn phòng bộ trưởng vừa cho biết chức vụ vẫn để trống, nó sẽ thuộc về tôi nếu tôi muốn. Mười ngày nữa tôi sẽ đi.
    - Đi châu Phi?
    - Phải.
    - Vội thế ư?
    Thú thật, tôi cảm thấy bất ưng.
    - Ông bảo sao? Ồ, chắc ông nghĩ tới Barbara vừa mất. Ôi chao, việc gì phải giấu giếm rằng bà ấy mất đi làm tôi nhẹ mình? Tôi không có thì giờ để giữ thái độ phải phép theo lệ tục. Tôi yêu Barbara - lúc đó là một thiếu nữ rất xinh đẹp - tôi lấy cô, rồi chỉ sau một năm là hết yêu. Có lẽ tôi làm cô ấy thất vọng, vì cô tưởng có thể gây ảnh hưởng với tôi, nhưng không được. Tôi công nhận mình là một thằng tồi, ích kỷ, bao giờ cũng chỉ làm theo ý mình.
    - Nhưng vừa rồi ông từ chối nhận chức vụ ở châu Phi là vì bà.
    - Phải, nhưng đó là vì lý do tài chính. Tôi đã giữ cho cuộc sống của Barbara phong lưu như trước khi lấy chồng, nay nếu tôi đi, bà ấy sẽ gặp khó khăn.
    Ông nở một nụ cười như trẻ con:
    - Nhưng nay mọi việc lại xoay sang chiều thuận lợi lạ lùng. Tôi thực sự công phẫn. Đằng rằng không phải đàn ông nào chết vợ cũng đau khổ. Nhưng như Franklin thì quá trâng tráo.
    Ông vẫn nhìn tôi, nhưng không mảy may bận tâm đến thái độ bất đồng vủa tôi.
    - Phải nhìn thẳng vào sự thật, ông nói tiếp. Như vậy đỡ mất thì giờ vì những lời rào đón vô bổ.
    Tôi sẵng giọng:
    - Vợ ông tự tử, ông không lấy thế làm buồn?
    Ông ra vẻ trầm tư:
    - Tôi không nghĩ bà ấy tự tử. Giả thuyết ấy là vô lý.
    - Vậy thì là cái gì?
    - Tôi không biết. Và có lẽ tôi cũng không muốn biết. Hiểu không?
    Mắt ông ánh lên nhửng nét rắn chắc, lạnh lùng:
    - Không, tôi không muốn biết. Tôi không quan tâm.
    Tôi không nhớ chính xác lúc nào thì tôi nhận ra là Norton có vẻ bận tâm, tư lự. Sau cuộc điều trần và tang lễ, anh ta cứ lầm lì không nói đi lang thang, trán nhăn, mắt cắm xuống đất. Anh ta có thói quen đưa tay lùa lên mái tóc làm tóc dựng đứng, trông buồn cười. Cử chỉ vô thức đó lặp đi lặp lại chứng tỏ nội tâm có gì xao xuyến. Khi có người hỏi, anh đáp hờ hững. Tôi liền đánh bạo hỏi có phải anh nhận được tin buồn, thì anh lắc đầu. Tuy nhiên, lát sau, có vẻ như anh tìm cách vòng vo để hỏi ý kiến tôi về điều anh đang khúc mắc. Anh lúng búng - bao giờ cũng thế mỗi khi anh định nói chuyện nghiêm chỉnh - kể một chuyện rối rắm liên quan đến vấn đề đạo đức.
    - Bảo cái này là tốt, cái kia là xấu, hình như dễ lắm, có phải không? Ấy vậy mà có trường hợp lại không thế. Ví dụ, tình cờ ta thấy một cái gì không liên quan đến ta, mà ta cũng chẳng rút ra lợi lộc gì, nhưng cái đó lại cực kỳ quan trọng. Ông hiểu tôi nói gì.
    - Thú thực, không hiểu lắm.
    Anh ta cau mày, đưa tay lên tóc.
    - Khó giả thích thật. Giả thử, ông đọc được cái gì trong một bức thư riêng - nghĩa là thư gửi cho người khác mà ông vô tình mở ra. Ông bắt đầu đọc, vì tưởng là thư gửi mình và trước khi biết mình nhầm, thì đã biết được một điều lẽ ra ông không được biết. Việc ấy có thể xảy ra, có phải không?
    - Phải.
    - Vậy trường hợp ấy, làm thế nào?
    - Ờ...
    Tôi suy nghĩ một lát, rồi nói:
    -... Có lẽ nên gặp chủ bức thư ấy, và xin lỗi đã mở nhầm. Norton thở một hơi dài.
    - Đâu có đơn giản như vậy. Vì chẳng hạn, anh đã đọc một chi tiết... bất tiện.
    - Anh muốn nói, bất tiện với người kia? Thì ta phải làm như chưa đọc tí gì, vì đã kịp thời nhận ra không phải thư của mình.
    - Phải, có lẽ thế - Norton đáp sau một lát im lặng.
    Nhưng anh ta có vẻ chưa thỏa mãn với giải pháp ấy:
    - Tôi vẫn muốn suy nghĩ xem nên phải làm gì - anh đăm chiêu nói tiếp.
    Tôi khẳng định không còn cách nào khác, nhưng anh ta vẫn tư lự:
    - Tôi còn thấy một điều này nữa. Giả thử điều ta vừa vô ý đọc được lại cũng rất quan trọng với một người thứ ba.
    Tôi bắt đầu sốt ruột:
    - Quả thực, anh Norton, tôi không hiểu anh định đi tới đâu. Ta không được đọc thư riêng của người khác, có thế thôi...
    - Tất nhiên là không nên rồi. Tôi có ý kiến gì về vấn đề đó đâu. Vả lại, thực ra đây không phải bức thư. Tôi chỉ lấy ví dụ để ông hiểu thôi. Tất nhiên, bất cứ cái gì ta có thể đọc, thấy hoặc nghe, ta phải giữ kín cho mình. Trừ khi...
    - Trừ khi... làm sao?
    - Trừ khi là một điều mà ta có nghĩa vụ phải nói ra.
    Tôi lại bắt đầu chú ý. Norton tiếp:
    - Giả thử ông nhìn thấy điều gì qua lỗ khóa.
    Tôi bỗng nghĩ đến Poirot.
    - Tất nhiên, về nguyên tắc, đây là tôi nói ông có lý do chính đáng nhìn qua lỗ khóa: ví dụ khóa bị hóc... Tóm lại ông không có ý định nhìn cái ông đã nhìn.
    Tôi chợt nhớ cái hôm Norton giương ống nhòm để quan sát con chim gõ kiến. Tôi nhớ anh ta tỏ ra lúng túng, ngượng nghịu, rồi cố tình ngăn không cho tôi nhìn cái anh ta đã nhìn. Lúc đó, tôi đã kết luận ngay là cái anh ta nhìn thấy ít nhiều có liên quan đến tôi: nói toạc ra, tôi cho là anh đã nhìn thấy Judith và Allerton. Nhưng nhỡ tôi lầm? Nhỡ đó là cái gì hoàn toàn khác? Hôm đó tôi bị ám ảnh bởi chuyện đó nên không thể nghĩ ra là cái gì khác.
    - Có phải là cái gì anh nhìn thấy qua ống nhòm? - Tôi hỏi thẳng.
    Norton vừa ngạc nhiên vừa hoan hỉ:
    - Sao... ông đoán được?
    - Hôm đó chúng ta đứng trên mô đất cùng Cole, phải không nào?
    - Phải. - Và anh không muốn để tôi nhìn.
    - Không. Không phải... tôi muốn nói là... Không ai được biết điều đó.
    - Rốt cục là cái gì?
    Norton sa sầm nét mặt:
    - Tất cả vấn đề là ở đó. Tôi có được phép nói ra không? Vì... vì... cứ như là do thám ấy. Tôi đã nhìn thấy một cái mà bình thường ra, tôi sẽ không nhìn. Mà tôi có định nhìn đâu, tôi nhìn con chim gõ kiến cơ mà. Nhưng rồi, lại nhìn... nhìn thấy.
    Tôi tò mò muốn chết, sốt ruột muốn biết đó là cái gì, song tôi tôn trọng sự đắn đo của Norton.
    - Có phải điều gì quan trọng lắm không? Tôi hỏi
    - Tôi không biết. Có thể lắm.
    - Có liên quan đến cái chết của bà Frankiln không?
    Norton giật nẩy mình:
    - Ông cũng hỏi tôi thế ư...
    - Thế thì tôi đoán đúng.
    - Hờ... không hoàn toàn liên quan. Nhưng việc ấy có thể làm nổi lên một cách nhìn mới với vài sự việc. Và như thế có nghĩ là... Ồ! Nhưng kệ thây tất cả! Song thực sự tôi không biết nên thế nào.
    Rõ ràng Norton vẫn không muốn cho tôi biết anh ta đã nhìn thấy gì. Tôi thông cảm, vì ở địa vị tôi, có lẽ tôi cũng cư xử như vậy. Thật phiền khi ta có những thông tin lượm được bằng một cách mà người khác sẽ cho là không lịch sự.
    Bỗng tôi nảy ra một ý:
    - Hay anh thử hỏi ý kiến Poirot xem?
    - Poirot? Norton hỏi lại, vẻ ngạc nhiên.
    - Phải. Cứ xin ông ta một lời khuyên.
    Sau một lát, Norton nói:
    - Có lẽ ông nói phải. Tất nhiên, ông ấy là người nước ngoài...
    - Ông ấy sẽ giữ kín cho anh. Nhưng dĩ nhiên, anh nhất thiết không cứ phải nghe theo lời khuyên của ông ấy.
    - Được. Có lẽ tôi nên đi gặp ông ấy.
    Tôi ngạc nhiên vì phản ứng của Poirot. Ông hỏi dồn:
    - Anh Hastings, anh bảo gì?
    Poirot để rơi miếng bánh sắp đưa lên miệng, ghé sát vào tôi:
    - Nói lại tôi nghe!
    Tôi làm theo. Ông đăm chiêu, kết luận:
    - Thế là hôm đó, anh ta đã thấy điều gì qua ống nhòm. Một cái gì mà anh ta không muốn cho anh biết?
    Ông níu cánh tay tôi:
    - Anh ta không nói lại với bất kỳ ai chứ?
    - Chắc là không.
    - Hastings, anh hãy cẩn thận. Điều quan trọng là anh không được nói với ai. Nếu không, hậu quả sẽ rất nguy hiểm.
    - Hậu quả... nguy hiểm?
    - Đúng như tôi đã nói.
    Khuôn mặt Poirot trở nên cực kỳ nghiêm trọng:
    - Anh hãy thu xếp cho anh ta gặp tôi tối nay. Một cuộc gặp có tính bạn bè. Đừng để cho ai nghĩ là anh ta có lý do đặc biệt gì phải gặp tôi. Hastings này, hôm ấy cùng với anh còn ai nữa?
    - Cô Cole.
    - Cô ấy có nhận ra điều gì hơi lạ trong thái độ của Norton?
    Tôi cố nhớ lại:
    - Không biết. Có thể lắm. Hay để tôi hỏi cô xem...
    - Không hỏi gì cả. Tuyệt đối không.
    He Is So Special.........

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2/2
đầuđầu 1 2

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Chủ đề giống nhau

  1. Agatha Christie.
    By wongtrang2006 in forum Nhân vật danh thám
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-01-2010, 12:58 PM
  2. Agatha Christie
    By Layton in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 04-01-2010, 10:30 PM
  3. Và rồi chẳng còn ai-Agatha Christie(Chương 1)
    By lohuutrong in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 20-06-2009, 10:36 AM
  4. Hẹn với tử thần - Agatha Christie
    By lohuutrong in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 14-06-2009, 08:16 PM
  5. Án mạng đêm cuối năm, Agatha Christie
    By Edogawa_Conan in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 07-10-2008, 08:54 PM

Visitors found this page by searching for:

doc tieu thuyet tham tu roi san khau

Thám tử rời sân khấu – Agatha Christie

Tham tu roi san agatha christie

tham tu gia tu san khau agathachristie

tóm tắt nội dung Hẹn Với Tử Thần - Agatha Christie

thám tử rời sân khấu

Dien Dan

Tags for this Thread

Bookmarks

Quuyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời bài viết
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết