+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/4
1 2 3 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 38

Ðề tài: Sherlock Holmes mất tích- Jamyang Norbu

  1. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Sherlock Holmes mất tích- Jamyang Norbu

    Share/Bookmark



    Lời nói đầu
    Rất nhiều bản thảo chưa xuất bản của bác sĩ John Watson - thường tìm thấy trong "một cái hộp du lịch bằng thiếc cũ kỹ, móp méo, nằm đâu đó trong tầng hầm của Ngân hàng Cox & Company tại Charing Cross - mới được đưa ra ánh sáng trong những năm gần đây dành cho một lượng độc giả kiên nhẫn chẳng mặn mà lắm trong việc đón nhận thêm nữa phát hiện mới về câu chuyện liên quan đến Sherlock Holmes, thái độ của họ là hoài nghi, nếu không muốn nói là hoàn toàn không tin. Vì vậy, xin bạn đọc hãy rộng lượng, đừng vội đưa ra một đánh giá tức thì mà hãy chờ tới khi đọc xong phần giải thích ngắn gọn này, rằng làm thế nào - chủ yếu nhờ hoàn cảnh xuất thân có phần đặc biệt - mà tôi được thừa hường một tập bản thảo kỳ lạ nhưng có thật về hai năm quan trọng nhất trong cuộc đời Sherlock Holmes chưa được ai biết đến.
    Tôi sinh năm 1944 (năm Giáp Thân) ở thành phố Lhassa, thủ đô của Tây Tạng, trong một gia đình thương gia giàu có. Cha tôi là một người sắc sảo, từng du lịch nhiều nơi - từ Mông Cổ, Turkestan đến Nepal và Trung Quốc - vì việc kinh doanh, nên nhận thức rõ hơn đa số những người Tây Tạng khác về sự mong manh của đất nước hạnh phúc mà lạc hậu này. Hiểu rõ những lợi thế của một nền giáo dục tiên tiến, ông gửi tôi vào một trường dòng Tên tại miền đồi núi Darieeling, Ấn Độ, một vùng thuộc Anh.
    Cuộc sống của tôi tại trường Saint Joseph lúc đầu khá đơn độc, nhưng nhờ biết tiếng Anh nên tôi sớm có nhiều bạn bè và điều tốt đẹp hơn cả là tôi có điều kiện khám phá thế giới sách vở. Như nhiều thế hệ nam sinh khác, tôi tìm đến các tác phẩm của George Alfred Henty, John Buchan, Rider-Haggard và William Earl Johns và ngốn ngấu đọc từng trang. Tuy vậy, không gì có thể sánh được cái cảm giác hồi hộp đến run người khi đọc Kipling(1) hay Conan Doyle đặc biệt là những cuộc phiêu lưu sau này của Sherlock Holmes. Là một gã con trai người Tây Tạng, nhiều tình tiết trong những câu chuyện ấy thoạt đầu đã gây cho tôi một số hoang mang. Có lúc tôi đã tưởng "lò ga" là một loại bếp lò đốt bằng dầu hỏa và rằng "luật sư Penang" là một luật sư ở Penang; nhưng tất cả những chuyện như vậy chỉ là những trở ngại vặt vãnh và chưa bao giờ thật sự xen vào những đánh giá cơ bản tôi dành cho những tác phẩm này.

    Trong tất cả các câu chuyện về Sherlock Holmes, cuốn có sức mê hoặc tôi nhất là cuộc phiêu lưu trong Bí mật trong ngôi nhà trống. Trong câu chuyện xuất sắc này, Sherlock Holmes tiết lộ với bác sĩ Watson rằng trong suốt hai năm, khi cả thế giới đinh ninh rằng vị thám tử vĩ đại đã bỏ mạng tại thác Reichenbach thì thật ra ông lại đang du ngoạn đến quê hương tôi - đất nước Tây Tạng!
    Holmes vốn là người kiệm lời và hai câu dưới đây là tất cả những gì chúng ta biết được cho tới thời điểm này về cuộc hành trình lịch sừ của ông:
    "Như vậy tôi đã du lịch hai năm ở Tây Tạng và tiêu khiển bằng cách viếng thăm Lhassa và trải qua vài ngày với vị Đạt Lai Lạt Ma. Có lẽ anh đã dọc về cuộc thám hiểm khác thường của một người Na Uy tên là Sigerson, nhưng tôi chắc rằng anh chưa bao giờ nghĩ mình đang đọc những tin tức về bạn anh".

    Khi quay về Lhassa trong kỳ nghỉ đông ba tháng, tôi thử tìm hiểu về nhà thám hiểm người Na Uy đã đến đất nước tôi năm mươi năm về trước. Một người ông bên họ ngoại của tôi nhớ đã từng gặp một người nước ngoài như vậy ở Shigatse, nhưng thật ra ông nhầm người này với Ven Hedin, nhà dịa lý và thám hiểm nổi tiếng người Thụy Điển. Dù sao thì người lớn cũng có nhiều vấn đề nghiêm túc cần cứu xét hơn là những thắc mắc của một cậu học sinh về một du khách châu Âu đến đây từ hồi nảo hồi nào.

    Đúng thời điểm ấy, đất nước tôi bị Cộng quân chiếm đóng. Họ đã xâm lược Tây Tạng vào năm 1950 và sau khi đánh bại đội quân ít ỏi của người Tạng, họ tiến vào Lhassa. Ban đầu, người Trung Quốc không đàn áp công khai, mà chỉ từng bước thực thi những chương trình cực đoan và tàn bạo của họ nhằm mục đích thay đổi tận gốc xã hội truyền thống. Các bộ lạc thiện chiến như Khampa và Amdowa ở miền đông Tây Tạng tiến hành những cuộc nổi dậy, chẳng mấy chốc chúng đã lan rộng ra khắp nước. Quân chiếm đóng Trung Quốcc đã thực hiện những chiến dịch trả đũa tàn ác khiến hàng chục nghìn người dân bị tàn sát, và thêm nhiều nghìn người nữa bị bỏ tù hoặc buộc phải trốn khỏi quê hương.

    Tháng Ba năm 1959, người dân Lhassa, lo sợ cho tính mạng vị lãnh tụ của họ - Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi - bèn nổi dậy chống lại người Trung Quốc. Một cuộc đối đầu dữ dội nổ ra, nhưng lực lượng Trung Quốc tinh nhuệ hơn đã đè bẹp người Tạng, gây thương vong nặng nề và phá hủy nhiều nhà cửa. Tôi đang học năm cuối tại trường ở Darjeeling, thì cuộc nổi loạn nổ ra ở Lhassa. Tin tức khiến tôi phát ốm vì lo lắng cho số phận cha mẹ và người thân.
    Thông tin tử Lhassa vừa ít ỏi lại mơ hồ chẳng có gì khiến tôi có thể yên lòng. Nhưng sau một tháng trời ăn không ngon ngủ không yên, Đài Phát thanh Toàn Ấn đưa tin mừng rằng Đạt Lai Lạt Ma và những người ủng hộ ông, cùng với nhiều người tị nạn khác, đã thoát khỏi nước Tây Tạng bị chiến tranh tàn phá và an toàn đến được biên giới Ấn Độ. Hai ngày sau, tôi nhận được một lá thư đóng dấu bưu điện Gangtok. Đó là thư của cha tôi. Ông và các thành viên khác trong gia đình đều an toàn tại thủ đô của vương quốc nhỏ bé Sikkim, vùng Himalaya.
    Ngay từ những ngày đầu loạn lạc cha tôi đã không vội tin vào sự đảm bảo và thái độ làm ra vẻ thiện chí của người Trung Quốc, ông lặng lẽ chuẩn bị cho việc cao chạy xa bay. Ông bí mật chuyển hầu hết tài sản đến Darjeeling và Sikkim, vì thế gia đình chúng tôi ở vào hoàn cảnh có thể nói là rất may mắn nếu so với hầu hết dân tị nạn Tây Tạng khác, những người gần như lâm vào cảnh trắng tay.
    Sau khi tốt nghiệp, tôi quyết định toàn tâm phụng sự cho những người đồng bào bất hạnh nước mình. Tôi đến vùng nghỉ mát miền đồi núi cao ở Dharamsala, nơi Đạt Lai Lạt Ma(2) thành lập chính phủ lưu vong, và chẳng bao lâu nhận nhiệm vụ dạy dỗ con em những người tị nạn. Sếp của tôi là một học giả cao niên trước từng là người đứng đầu Văn khố Chính phủ Tây Tạng tại Lhassa, đồng thời là một nhà nghiên cứu lịch sử. Sở học của ông về Tây Tạng thật uyên thâm, và ông không thích gì hơn là được chia sẻ cái vốn quý đó ông có thể nói chuyện thâu đêm suốt sáng về Tây Tạng trong một quán trà nhỏ xiêu vẹo chỉ với một cử tọa trẻ tuổi người Tạng đầy say mê như tôi, và thấm đẫm trong chúng tôi kiến thức cùng sự ngạc nhiên kỳ thú về đất nước tươi dẹp của mình.
    Một hôm, tôi thử hỏi xem liệu ông đã bao giờ nghe nói về một du khách người Na Uy tên Sigerson từng đặt chân đến Lhassa chưa.
    Lúc đầu ông cũng nghĩ tôi đang hỏi về Sven Hedin - một nhầm lẫn hoàn toàn có thể hiểu được - bởi những văn bản địa lý của người Tây Tạng vừa không chính xác vừa đậm màu sắc hoang đường; khi miêu tả những đất nước xa xôi, chúng thường có xu hướng đánh đồng các quốc gia vùng Scandinavia và Baltic thành các nước chư hầu của đế chế Sa hoàng. Nhưng bằng cách giải thích rằng người Na Uy đó đã đến Tây Tạng vào năm 1892 chứ không phải năm 1903 như người Thụy Điển kia, tôi đã tìm được cách rung một hồi chuông gợi nhắc một nơi nào đó trong ký ức rối rắm của ông già.
    Ông nhớ rằng mình đã từng đọc một dẫn chiếu trong kho lưu trữ của chính phủ về chuyến viếng thăm của một người châu Âu vào năm Nhâm Thìn (1892). Ông đã lưu tâm đến việc này trong khi đối chiếu tài liệu tại trung tâm lưu trữ tại Lhassa để chuẩn bị bản bố cáo lý lịch chính thức cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Ông để ý đến một bản ghi chép ngắn gọn về thị thực đi đường của hai người ngoại quốc. Ông chắc rằng một trong hai người đó là người châu Âu mặc dù ông không nhớ được tên. Người kia là người Ấn Độ. Ông nhớ chuyện đó rất rõ, vì mấy năm sau người Ấn Độ đó bị nghi ngờ làm gián điệp cho người Anh. Tên ông ta là "Hari Chanda".
    Tôi thật sự chấn động trước tầm quan trọng của điều tiết lộ này, vì tôi đã nghe, hay đúng hơn là đã đọc, về Hurree Chunder Mookeriee (theo tên đầy đủ và cách phát âm được Anh hóa của nó) trong tiểu thuyết Kim của Ruyard Kipling. Ít người ở bên ngoài Ấn Độ nhận thức được rằng trong thực tế, Kipling đã xây dựng nhân vật điệp viên hư cấu người Bengal của mình - một người mập mạp, ba hoa, ưa lấy lòng người khác nhưng có tài xoay chuyển tình thế, tên là Hurree Babu - dựa trên một nguyên mẫu ngoài đời, một học giả vĩ đại người Bengal từng có thời làm diệp viên cho Anh, nhưng ngày nay được nhớ đến nhiều hơn bởi những đóng góp của ông trong lĩnh vực Tây Tạng học. Ông đã trải qua phần lớn thời thanh xuân của mình tại Darjeeling và ở phương diện nào, khá nổi tiếng trong cái thị trấn nhỏ nằm trên cao nguyên đó, cùng với những danh hiệu C.I.E., F.R.S.(3) và nhiều vinh dự lớn lao khác mà các nhân sĩ hàng đầu nước Anh thời đó dành cho ông. Babu chết vào năm 1928 tại nhà của mình ở biệt thự Lhassa.
    Lần sau, khi trở lại thăm gia đình, lúc đó đã chuyển về Darjeeling sống, tôi đã làm một chuyến đi bộ từ đường Hill Cart đến biệt thự Lhassa. Bây giờ thì nó thuộc về một người trồng trà đã về hưu tên Siddarth Mukherjee chay "Sid" như ông khăng khăng buộc tôi gọi như vậy, ông là chắt gọi nhà học giả, điệp viên nổi tiếng của chúng ta là cụ. Sid kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện lòng vòng và phức tạp mà tôi trình bày với ông, đại loại: Hurree Chunder Mookeriee đã xuất bản một cuốn sách về chuyến du lịch của ông đến Tây Tạng có tên: Hành trình đến Lhassa qua miền tây Tây Tạng, nhưng không hề nhắc đến bất cứ người châu Âu nào đi cùng. Chắc hẳn, ông đã làm vậy trước sự nài ép của Sherlock Holmes, người vào thời điểm đó đang cố giữ làm sao cho sự tồn tại của mình là một điều bí mật với toàn thế giới. Tôi hy vọng nếu đọc được những ghi chép, thư từ, nhật ký và những giấy tờ cá nhân khác của Hurree, thì biết đâu tôi lại có thể tìm được một đầu dây mối nhợ dẫn đến những tiết lộ về Sherlock Holmes, hay ít nhất là về nhà thám hiểm người Na Uy(4).
    Sid run lên vì xúc động khi biết rằng cố nội của mình có thể quen biết nhà thám tử tài ba nhất thế giới, nên đã tỏ ra trên cả nhiệt tình trong việc giúp đỡ cho cuộc tìm kiếm của tôi. Hầu hết giấy tờ của Hurree đều được cất giữ trong mấy cái thùng thiếc lớn để trên gian áp mái của biệt thự Lhassa sau khi ông qua đời. Tôi mất cả tuần lễ lục lọi đống tài liệu cũ nát bụi bặm, nhưng ngoài cảm giác lạnh lẽo buồn bã, tôi chẳng tìm thấy gì có ích, tuyệt không một dòng nào nhắc đến người mà ta có thể phỏng đoán là Sherlock Holmes. Nỗi thất vọng của tôi không thể che giấu được.
    Sid thật tử tế, ông cố làm tôi phấn chấn lên bằng lời hứa sẽ liên hệ ngay với tôi, nếu ông tìm được bất cứ thứ gì có thể đóng góp cho nghiên cứu của tôi.
    Cứ như vậy nhiều năm trôi qua. Công việc chiếm tất cả thời gian và sức lực của tôi và tôi hầu như cũng đã quên bẵng việc nghiên cứu sớm thất bại từ trong trứng nước của mình, nhưng rồi cách đây đúng năm tháng, tôi nhận được một bức điện từ Darjeeling. Chỉ có ba chữ cụt lủn, nhưng đầy hứa hẹn:
    "Tìm ra rồi. Sid"
    Tôi chỉ kịp mang theo bàn chải đánh răng.

    Tóc Sid đã bạc đi một chút, biệt thự Lhassa cũng không còn chống chọi tốt với mưa nắng dãi dầu nữa. Tôi nhận thấy một phần tường phía sau nhà đã sụp xuống. Nhưng chủ nhân của nó thì vô cùng bồn chồn. Ông lão hối hả bảo tôi ngồi xuống ghế, nhét vào tay tôi một ly whisky pani to tướng và để tôi nhấm nháp.
    Đúng một tuần trước đó, Darjeeling trải qua một cơn địa chấn khá mạnh - về mặt địa chất mà nói, Himalaya là một dãy núi khá non trẻ và vẫn còn đang trong quá trình kiến tạo. Cơn địa chấn không đủ mạnh để gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, nhưng một đợt gió mùa bất thường kéo dài tiếp sau đó đã gây nên hiện tượng sụt lở đất ở các sườn núi dẫn đến việc làm hư hại một số nhà cửa trong thị trấn. Biệt thự Lhassa không bị hư hỏng nặng, chỉ có một phần bức tường phía sau sụp xuống. Trong lúc kiểm tra thiệt hại, Sid phát hiện ra một cái hộp bằng thiếc bẹp rúm được giấu bên trong mảng tường bị sập.
    Lôi cái hộp ra khỏi đống đổ nát, ông thấy trong đó có một gói dẹt được bọc cẩn thận bằng giấy sáp và cột kỹ càng bằng một sợi dây bện rất chắc. Ông mở gói đồ và tìm thấy một tập bản thảo, dày khoảng hơn hai trăm trang với nét chữ viết hoa mỹ không lẫn đi đâu được của cụ cố. Trong tâm trạng xúc động, ông cắm cúi đọc một mạch không nghỉ, đọc xong thì trời cũng vừa rạng. Tất cả đều nằm trong đấy. Hurree đã gặp Sherlock Holmes. Ông đã cùng Sherlock Holmes thực hiện một cuộc hành trình đến Tây Tạng; và vì vậy mà đặt bản thân mình vào những tình huống nguy hiểm và lạ lùng tới mức không thể tin được.
    Như vậy, Babu đã không thể cưỡng lại được sự hối thúc của nội tâm và ông đã thẳng thắn giãi bày trên giấy sự thực về những kinh nghiệm của mình, nhưng ông cũng đủ thận trọng tìm cách giấu nó bên trong bức tường phía sau nhà; có lẽ với hy vọng rằng nó sẽ được đưa ra ánh sáng trong một tương lai xa nào đó khi "Cuộc chơi vĩ đại" đã trôi qua, và lúc đó mọi người có thể biết đến cuộc phiêu lưu của ông cùng với nhà thám tử vĩ đại nhất thế giới chỉ với sự kinh ngạc và thán phục.
    Sid lấy tập bản thảo ra khỏi ngăn kéo và đặt vào đôi tay đang run rẩy của tôi. Biết tôi cũng có máu văn chương viết lách, Sid cố nài tôi phụ trách khâu biên tập và xuất bản bản thảo trên. Nhưng trong thực tế ngoài việc bổ sung thêm một số chú giải, tôi chỉ phải sửa rất ít.
    Babu là một cây bút tài hoa và có kinh nghiệm, văn phong độc đáo, đầy khí lực của ông hẳn sẽ giảm sút đi nếu bị chỉnh sửa quá nhiều.
    Sid và tôi chia đôi số tiền thu được từ cuốn sách, mặc dù cả hai chúng tôi đều nhất trí rằng bản thảo gốc cùng với bản sao bản đồ Tây Tạng đi kèm, vì tính lịch sử quan trọng của nó, nên được trao cho một viện nghiên cứu nào đó, nơi các học giả và giới chuyên môn có thể tự do sử dụng.
    Tây Tạng có thể bị nghiền nát dưới sức nặng chết người của chính thể chuyên chế Trung Hoa, nhưng sự thật về Tây Tạng không thể dễ dàng bị chôn vùi; và thậm chí một tác phẩm dở dang, kỳ lạ về lịch sử như thế này cũng có thể góp phần "đóng đinh câu rút" ít nhất là một vài tên bạo chúa.

    Tháng 10 năm 1988
    Jamyang Norbu
    Địa chỉ Nalanda Cottage
    Dharamshala

    Chú thích:
    (1) Joseph Rudyard Kipling (1865-1936): nhà thơ. nhà văn người Anh nhưng sinh ra ở Ấn Độ, nổi tiếng với những cuốn sách dành cho trẻ em như Jungle book, The second jungle book, Kim
    (2) Đạt Lai Lạt Ma dịch nghĩa là "Đạo sư với trí huệ như biển cả". Danh hiệu này do nhà vua Móng Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách Lỗ (t: gelugpa. Hoàng giáo) năm 1578. Kể từ năm 1617 trở đi. Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng. Kể từ đây, người ta coi Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Quan Thế âm. Mỗi một Đạt Lai Lạt Ma đều được xem là tái sinh của vị Đạt Lai Lạt Ma trước.
    (3) C.I.E tức commader, một trong ba phẩm trật của Order of Indian Empie (huân chương đế chế Ấn Độ): một phẩm tước hiệp sĩ được nữ hoàng Victoria lập ra vào năm 1877. Hai phẩm trật kia, cao hơn C.I.E. là GCIE (Knight Grand Commander) và KCIE (Knight Commander). F.R.S. viết tắt từ Fellow of the Royal Society, một tước vị phong cho những nhà khoa học kiệt xuất của đế chế Anh, và là một loại thành viên của Hội Khoa học Hoàng gia Anh. Các thành viên này được phép ghi ba chữ FGS sau tên mình.
    (4) Tôi đã tưởng đâu cuối cùng thì mình cũng "chạm" tới được người Na Uy bí ẩn, khi tình cờ đọc cái tựa sách này tại Nhà sách Oxford. Darjeeling: Một du khách Na Uy ở Tây Tạng Per Kvaeme (Bibliotheca Himalaylca. Bộ 1 tập 13). Manjusri. New Delhi. 1973. Đáng tiếc, đây chi là văn bàn về một người Na Uy chính cống vốn là nhà truyền giáo.

    View more random threads same category:

    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  2. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Lời giới thiệu



    Lời giới thiệu

    "Cuộc chơi vĩ đại…"
    Trời đất thánh thần ơi! Ai có thể nghĩ ra một cụm từ xấu xa và kệnh cỡm hơn thế để miêu tả những hoạt động ngoại giao quan trọng của Cục điều tra Dân tộc học - cái bộ phận quan trọng nhưng ít được biết đến của chính phủ Ấn Độ, nơi mà tôi, với khả năng rết giới hạn của mình, đã có vinh hạnh được phục vụ suốt ba mươi lăm năm qua. Cụm từ trên là sự sáng tạo của nhà văn Rudyard Kipling, người vào giai đoạn cuối của tờ Pioneer tại Allahabad với lối văn phong báo chí khiếm nhã đáng chỉ trích - chỉ với một đòn đã tìm được cách hạ bệ những hoạt động rất quan trọng của Bộ chúng tôi xuống thành một trong những trận bóng cricket được miêu tả rất hùng hồn trong những bài thơ của Sir Henry Newbolt.
    Thật tình, tôi cũng không hiểu rõ mọi việc đã xảy ra như thế nào, nhưng thật không may, ông Kipling đã thu thập được những chi tiết trong vụ việc có liên quan đến "Phả hệ của giống ngựa bạch"(1) mà ông điềm nhiên công bố trong tờ Pioneer số Chủ nhật, ra ngày 15 tháng Sáu năm 1891, với nhan đề "Cuộc chơi vĩ đại: lời đáp từ của Sư tử trước mưu đồ của Gấu". Về bản chất, việc này có liên quan đến liên minh của năm vị tiểu vương ở biên giới Tây Bắc Ấn Độ (những người chẳng có lý do chính đáng gì để câu kết với nhau, bọn họ sốt sắng tiến hành những vụ "đi đêm" với một nhà sản xuất súng ở Bỉ, một chủ ngân hàng người Ấn ở Peshawar, một nhà cầm quyền "bán" độc lập có thế lực là lãnh tụ của những người Hồi giáo ở phía Nam, và - hiếu chiến hơn hết thảy - là một thế lực ở phía Bắc, với quyền lợi không thể nói là trùng hợp với quyền lợi của Đế chế.
    Bộ chủ quản hoàn toàn bất ngờ trước diễn tiến tình hình như thế, và tôi được cấp trên cử đi biệt phái lên phía Bắc trong vòng hơn một năm, với nhiệm vụ theo dõi nhất cử nhất động của năm vị tiểu vương nói trên. Có lẽ tôi không phải giải thích những việc diễn ra trong thời gian đó; chỉ cần nói rằng bằng cách thiết lập được mối quan hệ hữu hảo với một viên thư ký được trả lương không thỏa đáng và chuyển một lượng lớn những đồng ru-pi, mà tôi đã tìm cách có được một số mursala quan trọng, còn gọi là quốc thư hay công văn chính thức khiến cho tất cả những con mèo chui ra khỏi rọ, có thể nói như vậy. Tôi đã bí mật chuyển những tài liệu mật nói trên qua các nhân viên chìm của bộ như E.23, C.25 và cuối cùng là K.21 để họ chuyển đến cho Đại tá Creighton, người đứng đầu Bộ chúng tôi.
    Chính phủ đã có những ứng phó mau lẹ và nhanh gọn khác thường. Một đội quân tám nghìn người trang bị súng ống được phái ngay lên phía Bắc, bất ngờ đánh úp các tiểu vương trước khi họ kịp ra tay. Nhưng cấp lãnh đạo không chủ trương làm lớn vụ này. Quân đội nhận được lệnh rút về, bởi vì chính phủ cho rằng chỉ dừng lại ở mức độ thị uy đối với năm vị tiểu vương kia là đủ; vả lại, cung cấp quân lương cho ngần ấy lính trên vùng cao cũng rất tốn kém. Đó không phải là giải pháp tốt nhất; quả thật, tôi cho rằng đó là sự tắc trách đáng chỉ trích nhất về phía chính phủ, khi cho phép năm tiểu vương kia - nhũng kẻ bội tín như rắn hổ mang bú sữa bò cạp - được sống sót. Nhưng người ta chính thức cấm chỉ tôi không được phê phán bất cứ động thái nào của thượng cấp; và nếu như lúc này đây tôi có mạo muội nhắc đến vụ việc này, thì cũng chỉ là làm sáng tỏ một cách không chính thức về bối cảnh chính trị lúc bấy giờ.
    Khi tờ Pioneer đăng tải bài viết thiếu thận trọng (nói vậy là nhẹ nhất rồi) của ông Kipling, nó gây ra một sự phán ứng khác thường trong Bộ chúng tôi. Ngài Đại tá Sahib nhận định rằng cảm hứng cho bài viết của ông Kipling nhất định đã bắt nguồn từ trong nội bộ mà ra, ngay từ bên trong có thể nói như vậy và Ngài nổi trận lôi đình đối với hành động bội phản đê hèn hết mức đó. Là một người thường ngày khá lãnh đạm và kín đáo, ông xộc qua hành lang tổng hành dinh của Bộ tại Umballa trong "cơn giận chính đáng của một Juvenal(2)". Những cuộc thẩm tra nghiệt ngã diễn ra ngay trong phòng làm việc của ông với tất cả những người có liên quan ít nhiều đến vụ này ngay cả tôi cũng phải trải qua một giờ đồng hổ không lấy gì làm dễ chịu trước cái nhìn như muốn ăn sống nuốt tươi của ngài Đại tá. Tất nhiên, tôi gắng sức làm tốt phận sự của mình, tuy vậy để tỏ ra chân thực tuyệt đối, tôi phải thừa nhận rằng tôi đã hơi toát mồ hôi lạnh trước khi cuộc tra hỏi kết thúc, sine die(3), và cuối cùng tôi cũng được phép rời khỏi phòng.
    Kết luận của cuộc điều tra lộ ra một chút thiếu sót then chốt gây ảnh hường đến sự toàn vẹn của Bộ, hơn là như lúc ban đầu chúng tôi đã lo ngại. Hai nhân viên bản xứ trong phòng lưu trữ bị đuổi việc ngay lập tức, một viên đại úy trẻ tuổi người Anh ấp ủ tham vọng văn chương (anh ta thường gửi thơ cùng những thứ đại loại như vậy cho tờ Pioneer) bị thuyên chuyển đến một đơn vị vận tải đóng quân ở Mewar để chăn lạc đà và bò thiến cho đến hết đời binh nghiệp. Ông Kipling nhận được thông báo - thông qua chủ bút của Pioneer - rằng cách hành xử của ông trong vụ việc này không được hoàn toàn chính nhân quân tử, nhưng chính phủ sẽ không đưa ra cách thức "xử lý" vấn đề nếu như ông Kipling không tiếp tục hành nghề nhà báo ở Ấn Độ và quay trở về nước Anh, như sau đó ông đã chấp nhận.
    Về phía những sĩ quan như chúng tôi, thật nhẹ cả người khi mọi chuyện đã được làm sáng tỏ, mặc dù C.25 cảm thấy uy tíncá nhân của mình bị đặt thành dấu hỏi bởi sự nghi ngờ của Đại tá. Một quý ông người Pathan(4) bao giờ cũng rất nhạy cảm trong những vấn đề liên quan đến danh dự cá nhân và ngựa nghẽo.
    Rồi một ngày nọ người ta tìm thấy cái xác gầy gò, dơ bẩn của E.23 trong một cái rãnh tối om phía sau những chiếc dù mạ vàng của Chatter Munzil ở Lucknow. Hơn một chục vết dao đâm, cùng vài bộ phận bị cắt xẻo nghiêm trọng khác đã gây nên cái chết yểu cho anh chàng xấu số đó.
    Tôi hy vọng mình được gọi là một môn đồ xứng đáng của Herbert Spencer(5), đủ dũng cảm để đương đầu với một chuyện nhỏ nhặt như cái chết, mà đó lại là điều có ýnghĩa sống còn ở vào hoàn cảnh tất yếu của tôi. Vậy nhưng, những cánh tay vươn dài của năm vị tiểu vương bên ngoài những con đường độc đạo, cả viên quan thái thú Ấn Độ ở lãnh địa Hồi giáo nào đó tại miền Nam vượt ra ngoài vòng pháp luật của Nữ hoàng (người đã hoàn toàn thỏa hiệp một cách đáng xấu hổ trong vụ "Phả hệ của giống ngựa bạch" đã nói ở trên), đâu chỉ dừng lại ở cái chết. Trước khi thực hiện hành vi giết người đê tiện, bọn họ thường tra tấn nạn nhân một cách man rợ, thậm chí chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến người ta đau đớn.
    Bị thúc đẩy bởi những suy nghĩ bất an như vậy, tôi vội vã đệ đơn lên Đại tá, xin ông chuẩn yviệc nghỉ phép vô hạn định, được hưởng lương đầy đủ cho những ai trong số chúng tôi đã bị phương hại vì bài viết vô ý của ông Kipling, để chúng tôi có thể mai danh ẩn tích cho tới khi chuyện này lắng xuống phần nào. Đại tá phê duyệt đề xuất của tôi, trừ một điểm mà ông muốn sửa đổi để tiết kiệm cho ngân sách. Theo đó, K.21 được đưa tới chỗ một Lạt Ma(6) mà anh ta quen biết để tạm thời nghỉ việc trong một tu viện tại biên giới Tây Tạng, C.25 đến Peshawar sống dưới sự che chở của một người họ hàng. Còn tôi, chỉ được thanh toán nửa lương thì nhanh chóng từ giã những chốn thường xuyên lui tới của mình ở vùng trung du để tới thành phố cảng Bombay rộng lớn, giấu giếm thân phận của mình trong một biển người gồm đủ các dân tộc: người Cuiurati, người Mahharati, người Sikh, người Bengal, người xứ Goa, người Anh, người Trung Quốc, người Do Thái, người Ba Tư, người Armenia, người A rập vùng Vịnh và nhiều dân tộc khác tạo thành một cộng đồng đa sắc tộc nơi "Cửa ngõ Ấn Độ".
    Tuy vậy, bất chấp mọi chuyện có thể xảy ra, tôi vẫn phải chịu ơn ông Kipling, vì chính việc lưu đày bí mật của tôi tới Bombay lại là duyên khởi cho cuộc hạnh ngộ may mắn của tôi với một quý ông người Anh nào đóvà cùng với ông tôi đã dấn thân vào cuộc phiêu lưu lớn nhất trong đời, bởi vậy mà (nhờ vào việc xuất bản sau đó cuốn sách về các khía cạnh dân tộc học chọn lọc của cuộc hành trình) tôi đã thực hiện được giấc mơ lớn nhất và bền bỉ nhất là trở thành hội viên của Hội Khoa học Hoàng gia.
    Nhưng, còn lớn hơn cả niềm vinh dự lớn lao này là việc tôi sẽ mãi mãi nâng niu tình bạn thật sự và sự quý mến mà quý ông này dành cho tôi, người mà tôi bao giờ cũng đánh giá là con người tốt đẹp nhất và thông thái nhất mà tôi từng biết(7).
    Chú thích:
    (1) Kipling đã phát triển tinh thần của bài viết này trong tiểu thuyết Kim được xuất bản vào năm 1901.
    (2) Decimus Junius Juvenalis (A.D. 60?-140?): phiên âm tiếng Anh là Juvenal, nhà thơ châm biếm người La Mã chuyên đả kích sự thối nát và thói ngông cuồng của những tầng lớp đặc quyền đặc lợi trong thời gian trị vì của hoàng đế La Mã Domitian.
    (3) Sine die (tiếng Latinh): vô thời hạn
    (4) Pathan: Thành viên của nhóm người dân tộc thiểu số miền núi sông ở miền Đông Afghanistan nói tiếng pashto (còn gọi là tiếng Afghan). ngôn ngữ chính thức của Afghanistan và là thổ ngữ chính của các khu vực miền Tây Pakistan
    (5) Herbert Spencer (1820- 1903), nhả tư tưởng nổi tiếng thế giới và có sức ảnh hưởng lớn dưới thời Victoria, người đưa ra luận thuyết "triết học tổng hợp" để áp dụng cho khoa học, đặc biệt là thuyết tiến hóa không chỉ trong sinh vật học mà cả trong tâm lý học. xã hội học, nhân loại học, giáo dục và chính trị
    (6) Lạt Ma (Lama): theo Phật giáo Tây Tạng. Lạt Ma là hiện thân của giáo pháp. Danh từ Lạt Ma cũng tương tự như guru (đạo sư) của Ấn Độ. Nhưng trong Kim cương thừa Lạt Ma không chỉ là người giảng giải giáo pháp mà còn là người thực hành các nghi lễ, thường lãnh đạo các đại trường và được xem là thuộc về dòng tái sinh. Danh lừ Lạt Ma chỉ những vị cao tăng Tây Tạng: không kể trình độ chứng đạo của các vị đó. Lạt Ma được xem là hiện thân của Phật, trong khi tăng sĩ (nhà sư) chỉ là người tu học trong chùa chiền hay tu viện.
    (7) Như một sự trùng hợp có hậu, Watson kết thúc phần niêu tà về cái chết của Holmes tại thác Reichenbach (Điệp vụ cuối cùng) bằng một câu tương tự. Rất có thể: cả Watson và Mookerjee đều nhắc lại một cách vô thức câu nói của một nhà viết tiểu sử thời xưa về cái chết của người bạn và người thầy lừng danh của mình. Plato trong Phaedo đã viết: "Echecrates, bạn tôi, đã chết như thế, người mà tôi thật sự có thể nói rằng trong tất cà những người mà tôi biết trên thế giới này. Ông là người khôn ngoan nhất, công bằng nhất và tốt nhất".
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  3. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36



    Hai cái này đọc chơi cho nó thú vị ^^. Sau đây mới là án thật. ^^
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  4. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Người Na Uy bí ẩn



    ẤN ĐỘ
    Người Na Uy bí ẩn

    "Mảng trời trên biển A rập sau một đợt gió mùa thường trong vắt và xanh biếc như một miếng ngọc lam Ba Tư. Không khí, được gột rửa sau những cơn mưa vừa tạnh, trở nên tươi mới và trong treo đến nỗi trong lúc dừng chân tại Mũi Malabar ở Bombay, người ta tướng đâu có thể nhìn thấy dường viền của bờ biển A rập và thậm chí nghe dìu dịu trong cơn gió nhẹ "… mùi hương xứ I-ê-mem-cô từ bờ biển đậm hương vị của xứ A rập đầy hạnh phúc"(1).
    Tất nhiên đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng lãng mạn thuần túy của tôi; xứ sở kia ở quá xa để có thể ngửi hay nhìn thấy, nhưng từ một vị trí thuận lợi, tôi cố gắng nhìn ra cái mà tôi đã đi ngần ấy dặm đường để tìm cho được.
    Vượt qua những chiếc thuyền buồm A rập đậu rải rác trên mặt biển với những cánh buồm duyên dáng nghiêng nghiêng theo chiều gió, con tàu S. S. Kohinoor của Công ty rau Vận tải hơi nước Peninsular & Oriental rẽ mặt biển xanh tiến tới, hai ống khói đen của nó hắt lên bầu trời xanh những dải khói mỏng tang. Tàu đến trễ, lẽ ra nó phải cặp bến sáng nay. Qua cặp ống nhòm tầm xa tậu được ở chợ trời Bhindi, tôi chỉ có thể đọc được cái tên gắn trên vòm cổng ở cảng. Tôi nhanh chóng băng qua đường để đón ticca-ghari(2). Vừa ngồi vào chỗ, tôi đã ra hiệu cho người đánh xe lên đường.
    "Chalo"(3)
    "Đi đâu, Babuji?(4)
    Đến bến tàu, jaldi!(5)
    Ông ta giơ tay quất con ngựa non gầy gò bằng một thanh cật tre dài cong vút và xe ngựa lăn bánh xuống đường Ridge. Tôi bỏ một miếng cau vào miệng và nhai một cách trầm tư trong lúc rà soát lại kế hoạch hành động một lần nữa.
    Bốn tháng đã trôi qua kể từ khi tôi đến Bombay. Tôi đã có một khoảng thời gian an lành để thực hiện các ghi chép dân tộc học về tục sùng bái nữ thần địa phương Mumba ở chính cái thành phố mang tên bà. Nhưng Đại tá hằn có suy nghĩ rằng những mối nguy hiểm tiềm tàng giờ đây cũng đã lui về phía sau (còn tôi thì được hưởng một kỳ nghỉ xả hơi tốt lành trong khi vẫn được thanh toán nửa lương). Thế nên cách đây khoảng một tuần, một người đưa thư trong vùng - một ông già người Tamil cao lớn đến từ Tuticorin - đã mang taar (từ mà người địa phương dùng để gọi một bức điện tín) đến nơi tạm trú của tôi phía sau nhà thờ Hồi giáo Zakariya.
    Lá thư được gởi cho "Hakim Mohendro Lall Dutt" - một trong những bí danh thường dùng của tôi - trong đó toàn là những lời quanh co, luẩn quẩn, tưởng chừng như vô hại, một lối nói rất đặc trưng của Bộ dùng để đảm bảo an toàn cho những liên lạc thư tín giữa chúng tôi, sub rosa(6). Thông điệp chính của nó là có một du khách người Na Uy tên Sigerson, có lẽ là nhân viên của một Lực lượng miền Bắc thù nghịch, ông này đang đến Bombay trên con tàu S.S. Kohinoor. Nhiệm vụ cấp trên giao cho tôi là phải cố lấy lòng ông ta, có thể với vai trò hướng dẫn viên du lịch hay đại loại như thế, để tìm hiểu động cơ khiến ông ta đến Ấn Độ.
    Để chuẩn bị cho việc này, tôi phải gia nhập một hãng tàu biển của một ông già là tín đồ của Bái hỏa giáo, vốn là người quen với tôi, một sự tính toán chu đáo quá hóa thừa.
    "Hai, rukho"(7) người đánh xe quát con ngựa nhỏ đang kéo chiếc xe tới trước cổng bến tàu Ballard. Tôi xuống xe và mặc cho lời kèo nài tráo trở của gã đánh xe đòi cho được hai anna, tôi chỉ trả cho hắn dúng giá là một anna, rồi vội vã bước qua cầu tàu.
    Dưới bến san sát những chiếc tàu buôn và tàu chiến của Anh, nhưng tôi kịp trông thấy con tàu Kohinoor đang từ từ được những chiếc tàu kéo nhỏ tỏa khói mù mịt kéo vào bờ.
    Phòng làm việc tối om và phủ đầy bụi của chủ bến tàu gần như trống hoác, chỉ có mỗi viên thư ký người Gujurati đang ngồi, vẻ mơ màng biếng nhác sau bàn giấy, xỉa xỉa hàm răng đỏ quết trầu(8). Một đồng ru-pi hào phóng tiền "trà nước" tạo cho tôi cơ hội liếc qua bảng danh sách hành khách có mặt trên tàu Kohinoor. Du khách người Na Uy ở cabin 33, trong khoang hạng nhất.
    Khi tôi ra khỏi cái văn phòng mốc meo đó, thủ tục cho tàu vào cảng đã hoàn tất, bọn cu li và phu cảng từ các hướng đổ xô tới mạch đường màu xám rộng lớn, nơi cầu tàu đang xoay hướng với những sợi dây cáp to và dày trùng trục. Con tàu trắng lừng lững vượt lên trên mọi người và mọi vật xung quanh như một tảng băng trôi khống lồ. Khi ván cầu được bắc lên, trong vai một nhân viên của hãng, tôi cũng lao lên tàu, dùng vai huých đẩy để lách qua đám đông toàn nhân viên phục vụ trên tàu, cu li, thuỷ thủ người Ấn và cả những gì gì nữa. Sau khi đi qua những hành lang đông đúc, phòng ăn, phòng chơi bài, phòng đánh bi-a và một phòng khiêu vũ tráng lệ, cuối cùng tôi cũng lên đến được boong tàu phía trên trông ra ngoài cảng và cabin số 33.
    Người Na Uy đang đứng trước cửa cabin của mình, dựa người vào lan can tàu, hút tẩu thuốc một cách trầm ngâm trong lúc nhìn xuống đám đông hỗn loạn dưới cầu tàu. Cả con người lẫn vẻ mặt ông đều có cái gì đó thu hút sự chú ý ngay cả của một kẻ qua đường bàng quan nhất. Đó là một người đàn ông cao dễ đến 1,90 mét, thân hình gầy nhẵng. Thấy tôi bước lại gần, ông đứng thẳng lên khỏi rào chắn và lúc này trông ông như còn cao hơn nữa.
    "Thưa, có phải là ngài Sigerson không ạ?"
    "Vâng!"
    Ông ngoảnh hẳn mặt về phía tôi. Chiếc mũi diều hâu nhòn nhọn tạo cho khuôn mặt ông một vẻ đặc biệt linh hoạt và quyết đoán, cả cái cằm cũng làm nổi bật những đặc điểm của một con người cương nghị và mạnh mẽ. Rõ ràng, ông không hề giống với một người mà ta có thể nói những chuyện bông phèng vớ vẩn được.
    Tôi bèn chuẩn bị để tự biến mình thành một kẻ khúm núm và giỏi tâng bốc.
    "Thưa ngài, tôi là Satyanarayan Satai, một sinh viên thi trượt vào trường Đại học Allahabad," tôi nói, trang trọng cúi đầu theo lối chào của người Hồi giáo. "Thật là một vinh dự và đặc ân to lớn đối với tôi, với tư cách người đại diện của hãng tàu biển Messrs Allibhoy Vallijee and Sons, được chào mừng ngài đến bờ biến của Đế quốc Ấn Độ và được làm tất cả để đảm bảo cho chuyến viếng thăm và thừa hành công vụ của ngài tại thành phố lớn Bombay được hoàn toàn tiện nghi thoải mái". (Lúc nào việc một người bản xứ tạo cho một quý ông người Âu rằng anh ta là một kẻ có giáo dục theo lối nửa mùa cũng mang lại những lợi ích lớn)
    "Cám ơn". Ông quay lại chiếu vào tôi cặp mắt long lanh khác thường, phát ra thứ ánh sáng sắc sảo, dò xét không lấy gì làm dễ chịu. "Ông đã từng ở Afghanistan, tôi nghĩ vậy".
    Dĩ nhiên, tôi hoàn toàn không chờ đợi một nhận xét bất ngờ đến vậy, nhưng tôi tin rằng mình đã cố hết sức trấn tĩnh, khởi động đầu óc đủ nhanh để có một câu trả lời dẫu không hoàn toàn có sức thuyết phục thì cũng thích hợp trong hoàn cảnh này.
    "Cái gì… Ôi, không, không thưa ngài. Tôi chỉ là một người Hindu hèn mọn nhất đến từ Oudh, một kẻ tiện nhân hiện đang có một chỗ làm khá béo bở và được trả lương hậu hĩnh, với tư cách là nhân viên văn phòng bán chính thức - pro tem - trong công ty tàu biển đáng kính trọng này. Còn Afghanistan ư? Chà, chà! Thưa quý ngài, đó là vùng đất lạnh lẽo khốn khổ, thiếu những cơ sở hạ tầng cần thiết và những tiện nghi văn minh, còn bọn người bản xứ đều là những kẻ giết người man rợ, một loại người Hồi giáo tồi tệ nhất, vô phương cứu vãn, nằm ngoài phạm vi luật pháp oai nghiêm của người Anh. Tại sao tôi lại phải đến Afghanistan cơ chứ?
    "Thực vậy sao?". Ông khách trả lời với một tiếng cười gằn cụt lủn không giấu vẻ cay độc. "Nhưng hãy quay lại vấn đề ông đã nêu ra, tôi cho rằng mình hoàn toàn có thể xoay xở được mà không lạm dụng lòng tốt của ông, mặc dù tôi dám chắc rằng lời đề nghị của ông có lẽ rất hữu dụng và cần thiết. Tôi chỉ mang theo một ít hành lý và có thể tự mình lo mọi việc. Xin cám ơn ông".
    Đặt trước cửa cabin của ông là một cái xắc du lịch hiệu Gladstone và một cái hộp dẹp hình bầu dục, tồi tàn vì sử dụng lâu ngày. Trông nó giống một cái hộp đựng đàn vĩ cầm, cũng cái loại mà Da Silva, một nhạc công trẻ người Goa sống cạnh nhà tôi thường mang theo mỗi khi ra ngoài vào buổi tối để chơi nhạc trong bữa ăn tại dinh Thống đốc.
    Tất nhiên, chỉ riêng việc này thôi đã gây ra không ít những nghi ngờ. Không một quý ông người Âu có lòng tự trọng nào đi du lịch đến Ấn Độ mà lại không mang theo ít nhất là ba rương hành lý, đó là chưa kể tới những món lặt vặt khác như hộp dựng mũ, bao súng, chăn gối và một hộp đựng công văn, giấy tờ. Lại nữa, không một quý ông người Anh nào, chí ít nếu người ấy là một pukka(9), mà lại chơi vĩ cầm cả. Âm nhạc là thứ dường như chỉ dành riêng cho người Pháp, người Eurasia và các nhà truyền giáo (mặc dù trong trường hợp nhà truyền giáo, thì dàn đạp hơi là nhạc cụ được yêu thích hơn cả).
    Và cũng không có quý ông nào lại khệ nệ mang hành lý một mình. Thế mà đó lại là việc mà vị khách Na Uy này muốn làm. Với cái xắc Gladstone bên tay trái, hộp đựng đàn vĩ cầm bên tay phải và chiếc tẩu ngậm trong miệng, ông sải những bước dài di ngang qua boong rồi bước xuống ván tàu và bình thản đi giữa đám đông lộn xộn trên cầu tàu, tất cả ồn lên như ong vỡ tổ với những lời chèo kéo nhao nhao mời chào của đám cu li; hẳn là bọn họ đề nghị mang hành lý cho ông để kiếm chút tiền.
    Dĩ nhiên, thất bại tạm thời trong kế hoạch của tôi chỉ đơn thuần là do thiếu may mắn, hay do kismet(10) như chúng tôi vẫn nói theo tiếng bản địa. Dù vậy, tôi không thề ngăn được cảm giác băn khoăn lo lắng trước trí tuệ quá thông minh sắc sảo của người Na Uy này. Nhân danh tất cả các vị thánh thần của người Hindu, làm thế nào mà ông ta biết được, ngay từ cái nhìn đầu tiên, rằng tôi đã từng ở Afghanistan? Tôi sẽ không phủ nhận rằng mình đã đến đất nước lạc hậu đó cách đây không lâu. Trong lần đầu tiên ấy, khi khoác áo một quan toà, khi thì giả danh một bác sĩ địa phương, tôi đã kín đáo thực hiện một số vụ điều tra về những mối quan hệ bất chính có thể có giữa liên minh năm tiểu vương với quốc vương Afghanistan, nhưng thật không may tôi đã chẳng thu được kết quả nào. Sau đó khá lâu, ngay sau cuộc tập trung quân trừng phạt năm ông vua kể trên, tôi từng phải vượt qua những ngọn đèo ngập tuyết bên kia dãy Khyber, lần này thì trong vai một nhân viên lao động tiền lương đến chỗ các công nhân xây dựng đang thi công một con đường mới cho người Anh. Vào một đêm cũng trong cái chuyến thám hiểm ấy, tôi gặp phải một cơn bão tuyết khủng khiếp, mà nào đã hết đâu, tôi còn bị tên dẫn đường người Afridi cố tình bỏ lại một mình cho đến chết. Bàn chân tôi đông cứng lại, một ngón chân bị rụng… nhưng thôi, điều này chẳng có gì can dự đến câu chuyện đang kể.
    Có điều gì đó thật mơ hồ, khó lý giải về người bạn Na uy của chúng ta, cái mà bạn chỉ có thể cảm nhận chứ không thể ước định bằng mắt, càng không thể đưa ra một lời nhận xét rõ ràng.
    Trí tò mò của tôi trỗi dậy. Người Bengal chúng tôi - tôi nói điều này với tất cả sự khiêm tốn - không giống như hầu hết những tộc người thờ ơ lãnh đạm khác, chúng tôi là một dân tộc luôn cháy bỏng niềm khát khao kiến thức. Nói tóm lại, chúng tôi là những người hiếu kỳ, thích tìm hiểu về mọi sự trên đời.
    Tôi bám theo người Na Uy đi xuống tàu, vượt qua đám đông hỗn loạn đứng ở cầu tàu. Với chiều cao như vậy, rất dễ nhận ra ông khách trong đám đông và dù ở đâu tôi cũng có thể nhìn thấy mái đầu xương xương của ông vượt lên cao hơn hẳn mọi người.
    Tôi hết sức thận trọng không để ông phát hiện, may mà tôi có nhiều cơ hội ẩn mình sau những đống hành lý và hàng hoá chất cao trên bến tàu.
    Ghé mắt nhìn qua một đống sọt, tôi thấy người Na Uy đi vào nhà khách, một kacha (11) dài, lợp tôn múi loại có phủ PWD.
    Tôi nhanh nhẹn đi đến gần, lẻn đến chỗ cánh cửa hé mở và nhìn vào bên trong. Người Na Uy đặt cái xắc Gladstone và hộp đàn violon lên một trong những cái quầy dài mạ kẽm và đang gõ gõ những ngón tay dài mảnh dẻ lên mặt quầy vui vẻ thiếu kiên nhẫn vì phải chờ đợi. Hoàng hôn đổ những cái bóng dài xuống mọi vật và do khoảng không gian tranh tối tranh sáng trong phòng mà thoạt đầu tôi không chú ý ngay đến một sĩ quan cảnh sát trẻ trong bộ đồ vải ka ki, lúc này hắn đang tiến về phía ông khách Na Uy. Người này dong dỏng cao, nước da tai tái, thuộc lực lượng sĩ quan cảnh sát quận, gọi tắt là DSP, hắn mang thắt lưng và đai, đội mũ sắt, đinh thúc ngựa bóng loáng; tóm lại có đủ lệ bộ của một kẻ đang thi hành công vụ, hắn ta đi đi lại lại dáng khệnh khạng, một tay đưa lên vân vê bộ ria đen nhánh.
    Tôi giật mình. Chính là Strickland! Trời đất ơi, cái ngày quái quỷ gì mà chỉ toàn xảy ra những sự việc ngoài dự tính thế này!
    Có lẽ, tôi cũng cần có một lời giải thích với quý độc giả: ngài đại uý E. Strickland, mặc dù trên danh nghĩa chính thống là một sĩ quan đáng tin cậy và đáng trọng của cảnh sát Ấn Độ, nhưng ở khía cạnh khác của cuộc đời lại là một trong những tay chơi giấu mặt của "cuộc chơi" (cái từ có hàm ý rất xấu của cái ông Kipling ấy), và là một trong những người giỏi nhất(12). Vậy mà người ta bảo tôi rằng anh ta đang ở Bikaner, một thành phố bí ẩn trong Sa mạc Vĩ đại của Ấn Độ (nơi có các giếng nước nằm cách mặt đất hơn 100 mét và xương lạc đà chất thành từng đống), nhưng tôi có thể hiểu được điều này. Anh ta giống như loài cá sấu, bao giờ cũng dầm mình ở những chỗ nước cạn.
    Anh ta bắt tay người Na Uy và nói điều gì đó với ông. Tôi không nghe được những gì họ trao đổi với nhau bởi tiếng ồn của đám đông hỗn loạn không thể kiểm soát ngoài bến tàu. Một lúc sau, Strickland quay ra nói gì đó với một nhân viên người lai, rồi cúi xuống cầm cái xắc du lịch lên và cùng người Na Uy rời khỏi nhà khách. Tôi bám theo sau, cố giữ một khoảng cách an toàn.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  5. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Người Na Uy bí ẩn (2)



    Ra khỏi cổng, Strickland gọi một chiếc xe ngựa. Cả hai biến vào thùng xe, chiếc xe bon bon chạy khỏi khu vực cảng, đi xuống đường Frere Road.
    Một trực giác may mắn nào đó xui khiến tôi tiếp tục nán lại phía sau những cây cột đồ sộ xây theo kiều Corinth trong toà nhà chính của bến tàu; vì ngay sau đó một người đàn ông nhỏ thó mặt choắt như mặt chồn sương, khoác trên người hộ đồ bằng vải bông dày kiểu nhiệt đới - cái màu trắng nguyên thuỷ của nó giờ đã thành ra màu đưa khú - trên đầu tùm hụp một chiếc mũ cát to quá khổ.
    Hắn lén la lén lút chuồi ra khỏi bóng tối cái nhà kho gần đó và đi vào khu vực được chiếu sáng bởi những ngọn đèn khí đốt vừa thắp lên, phát ra những tiếng xèo xèo, loại đèn dùng đề chiếu sáng tại bến xe và lối vào Cảng Lớn. Cả dáng điệu lẫn con người hắn đều toát lên một vẻ gì đó gian giảo, có vẻ hắn đang bí mật theo dõi Strickland hoặc người Na Uy và như để chứng minh cho sự nghi ngờ của tôi, thoắt một cái, hắn đã nhảy lên một trong những chiếc xe ngựa đang xếp hàng dài chờ khách. Yên vị trên xe rồi, hắn liền nói cái gì đó hướng dẫn người đánh xe, hắn còn đưa cả tay ra chỉ về phía chiếc xe ngựa vừa nhanh chóng khuất dạng, mang theo mấy con mồi. Người đánh xe vung roi quất vào lưng ngựa và họ đuổi theo sát nút chiếc xe kia.
    Sự cố này khiến cho buổi tối của tôi trở nên thực sự sôi động, toàn "những lời cảnh báo và những cuộc rượt đuổi" như một thi sĩ có thể viết. Đến lượt mình, tôi cũng gọi một chiếc xe ngựa và tức tốc đuổi theo.
    Cuộc sống về đêm của thành phố vừa mới bắt đầu. Những người có nhiệm vụ đem lại ánh sáng cho đô thị đã hoàn thành công việc thắp đèn trên các đường phố. ở bất cứ đâu cũng có thể thấy từng đám cu li, mặt mũi den nhẻm, mồ hôi nhễ nhại đang còng lưng đẩy những chiếc xe cút kít quá tải lẩn vào dòng người tuôn chảy trên đường phố, mà đa số là các thư ký và công chức cấp thấp. Vận áo khoác màu trắng, họ túa ra từ các văn phòng chính phủ, hối hả trở về nhà sau một ngày làm việc. Những người bán bánh kẹo dạo và các kunjri hèn mọn (những người bán trái cây và rau quả) gân cố lên rao hàng trên vỉa hè, các quầy hàng của họ được thắp sáng bằng những ngọn đèn bám đầy muội, mùi khói cay xè trộn lẫn với cái mùi hỗn hợp của đủ mọi loại hương thơm khác: mùi gia vị, mùi hoa nhài, cúc vạn thọ, gỗ đàn hương và cả phấn hoa bán theo mùa. Một đám lâu nhâu những thằng nhãi con gần như ở truồng không biết từ đâu lao ra đường, vừa gào thét vừa nhay lên bám vào các xe ngựa chạy ngang, đôi lúc chúng còn nhảy lên nhảy xuống những chiếc xe điện kêu leng keng, trước cơn giận dữ của những người bán vé.
    Tại vòng xoay Horniman, một đám rước dâu rầm rộ khiến giao thông gần như bị ngưng trệ. Những người phu mang theo đèn lồng, xúm lại thắp sáng cho cái cảnh tượng hỗn độn đầy màu sắc này, trong lúc đó một ban nhạc địa phương, không có vẻ gì phù hợp với thị hiếu của người dân nơi đây, đang ra sức chơi trống định âm và kèn cố, tạo ra một thứ âm thanh nghe rất chối, nhưng lại hết sức sôi động, làm nền cho một nhóm vũ công đang bước đi với những điệu nhảy hoang dã ngay phía trước chú rể.
    Nhân vật chính của sự kiện này tất nhiên trông hết sức lộng lẫy. Anh ta diện một bộ trang phục đi đánh trận của một ông hoàng Rajput, trong tư thế ngồi giạng chân sang hai bên với dáng vẻ căng thẳng, gò bó trên lưng một con ngựa chiến trang trí theo lối cổ Một cái mạng che mặt kết bằng những bông cúc vạn thọ, ngăn không cho thiên hạ chiêm ngưỡng khuôn mặt của một gã đàn ông hạnh phúc đang trên đường đến nhà cô dâu của mình, cái mạng rủ xuống đến tận quả táo phía trước yên ngựa.
    Tôi đưa mắt nhìn hai chiếc xe ngựa đứng bất động ngay phía trước, cách xe của tôi khoảng bảy mét. Người đàn ông có khuôn mặt chồn sương làm ra vẻ tò mò, chú mục vào đám rước trước mặt, tuy vậy hắn ta cứ chốc chốc lại làm như tình cờ, lia ánh mắt dò xét nhìn vào chiếc xe ngựa phía trước để kiểm tra xem nó còn đó không, dù biết chắc rằng xe cộ trên đường ken vào nhau chật như nêm cối. Khuôn mặt quắt lại, sắc cạnh với một cái mũi nhỏ, nhọn hoắt tương xứng với nó, nhưng cái vẻ chưng diện của hắn hoàn toàn không ăn nhập với dáng người ốm đói; chòm râu đỏm dáng của hắn mà tôi nghĩ là theo "mốt sườn cừu”, kiểu thịnh hành cách đây khoảng mười năm về trước. Một người da trắng, nhưng rõ ràng không thuộc tầng lớp trên.
    Cuối cùng, nhờ vào cung cách làm việc mẫn cán và cương quyết, cùng tiếng còi đầy uy lực của một "cây mao lương hoa vàng Bombay" - biệt danh đặt cho những viên cảnh sát trong thành phố này bởi chiếc mũ lưỡi trai tròn màu vàng rất đặc trưng của họ - đám rước dâu quẹo về phía nhà ga Churchgate và xe cộ lại được phép lưu thông. Ít phút sau, chiếc xe ngựa đầu tiên chở Strickland và người Na Uy rẽ trái, hướng về phía bến cảng Apollo, sau đó chạy vào một con phố nằm ngang, rồi phóng thẳng vào lối đi dành cho xe ngựa của khách sạn Taj Mahal. Toà nhà đồ sộ nguy nga, cao năm tầng với những dãy cuốn và ban công trang trí rất hoa mỹ dẫn đến một mái vòm trung tâm lớn (cùng những mái vòm nhỏ hơn ở bốn góc) tạo nên ấn tượng về cung điện của một ông hoàng Ấn Độ hơn là một khách sạn thông thưởng.
    Không thấy chiếc xe chở gã có khuôn mặt chồn sương đâu cả. Tôi thận trọng nhìn ra xung quanh, nhưng nó đã biến mất. Tôi bèn trả tiền cho người đánh xe ở ngay ngoài cổng, rồi đi vào.
    Bất chấp ánh mắt nghi ngờ soi mói của anh nhân viên gác cửa khổng lồ người Sikh, tôi làm vẻ đĩnh đạc bước qua cánh cửa của cái nơi sau này sẽ trở thành Cung điện Nghìn lẻ một đêm, vừa đúng lúc bắt gặp cảnh Strickland đang trao đổi điều gì đó với một người châu Âu mặc trang phục dạ hội mà tôi phán đoán một cách chính xác là quản lý khách sạn này. Sau đó, viên quản lý lịch sự dẫn Strickland và người Na Uy đến một hành lang nằm khá xa tiền sảnh và vài giây sau ông ta quay lại, chỉ có một mình. Tôi vội vã băng qua tiền sảnh thênh thang trong khách sạn, cố hết sức không để ai chú ý đến. Một burra mem(13) trang nghiêm rất mực - đích thị là phu nhân của một uỷ viên tài phán nào đó - vận váy dài dạ hội trắng lốp như bông chằm chằm nhìn tôi qua chiếc kính cầm tay. Ánh lửa lóe lên nơi khóe mắt khép hờ của quý bà lộ một vẻ kiêu kỳ đến khiếp khiến tôi hiểu, bà ta cho rằng một kẻ như tôi không xứng đáng bước chân vào một khung cảnh tráng lệ như thế này. Tôi nở một nụ cười cầu thân, nhưng với một tiếng khịt mũi đầy khinh rẻ, bà tay quay lại với cuốn sách. Không còn ai khác chú ý đến tôi.
    Dọc theo hành lang là một dãy phòng vệ sinh và ở cuối dẫy là văn phòng của viên quản lý. Gần tới cửa, tôi bước nhón chân, cố dỏng tai lên nghe, láng máng nhận ra giọng nói của người Na Uy.
    Trên cánh cửa có một lỗ khoá khá to. Tôi cho rằng đứng ở đây tôi sẽ không bị người ở tiền sảnh trông thấy, vả lại hễ có ai đi xuống hành lang, tôi có thể nhanh chóng lẩn vào một trong những phòng vệ sinh gần đấy. Vì vậy, sau khi lẩm bẩm thật nhanh lời cầu nguyện thành tâm với tất cả những vị thần thánh mà tôi nhớ ra được, tôi cúi xuống và nhẹ nhàng áp tai phải vào lỗ khoá.
    Tôi thừa nhận rằng đó là một việc làm của một tên vô lại, nhưng một người dân thuộc địa lại đi làm cái nghề như tôi thì chẳng mong được người đời nhìn nhận là chính nhân quân tử.
    "Tôi thành thật xin lỗi vì những bất tiện mà ông có thể đã phải chịu đựng," giọng nói của Strickland vang lên, rõ ràng như thể anh ta đang nói ngay bên cạnh tôi. "Nhưng Đại tá Creighton vừa nhận được điện tín từ London cách đây hai ngày và ông ấy vội phái tôi đến đây, càng nhanh càng tốt đề đón ông".
    "Tôi hy vọng thông tin về việc tôi đến đây được giữ bí mật hoàn toàn".
    "Chắc chắn rồi. Chỉ có Đại tá và tôi biết chuyện," Strickland nói, giọng hơi có vẻ ngập ngừng. "Ừm, nếu nói một cách hoàn toàn thành thực thì có lê có ai đó cũng đã nhận được thông tin, nhưng lúc này thì điều đó không thành vấn đề nữa".
    "Dù vậy, tôi sẽ rất cảm kích, nếu anh vui lòng kể rõ cho tôi biết ngọn ngành".
    "Ông biết đấy, cách đây khoảng ba tuần, chúng tôi nhận được một bức điện từ một trong những nhân viên của chúng tôi, một người Ai Cập làm việc tại cảng Said. Ông ta thông báo rằng có một người đàn ông tự nhận mình là một du khách người Na Uy, nhưng không có đồ đạc hay bất cứ hành lý gì cả, người này đã xuống một con tàu tiếp phẩm ở cảng Said và đăng ký đến Ấn Độ trên một chiếc tàu thuỷ của công ty P&O có tên là Kohinoor. Chúng tôi đã thông báo cho tất cả người của mình tại những cảng mà con tàu này đi qua, lệnh cho họ báo cáo tường tận về tất cả những người châu Âu đến Ấn Độ với bất cứ mục đích nào có vẻ khác thường. Ông biết đấy, trong mấy năm qua, chúng tôi đã gặp khá nhiều rắc rối với các nhân viên của… chẳng hạn, Lực lượng phương Bắc hay gây hấn, bọn chúng khuấy động những bất đồng với nhà cầm quyền địa phương, chậc, thì đại loại những việc như thế. Do đó, trước khi bức điện từ London đến chỗ chúng tôi, Đại tá đã cử một người trong chúng tôi ở đây để theo dõi ông. Nhưng bây giờ thì mọi chuyện đã ổn cả. Có vẻ như là tôi đã đến gặp ông trước ông ta".
    "Ồ tôi cũng không rõ…"
    Tiếp sau đó là một thoáng im lặng ngắn ngủi, đột nhiên cánh cửa vững chắc mà tôi đang tựa vào bật mở, rồi một bàn tay cứng như gọng kìm lôi tuột tôi vào phòng bằng cách kẹp chặt vào cổ tôi. Thật là một kiểu ra mắt đáng xấu hổ và tôi lấy làm hổ thẹn cho mình.
    "Chuyện quỷ quái gì thế…" Strickland kêu lên, nhưng sau khi nhìn thấy mặt kẻ gian thì anh ta trở lại bình tĩnh. Người Na Uy không còn kẹp lấy cố tôi một cách dữ tợn nữa mà đã buông ra và quay lại đóng cửa. Tiếp đó ông đi vòng ra sau một chiếc bàn giấy bằng gỗ gụ phủ khăn bằng vai len tuyết và đĩnh đạc ngồi xuống ghế, bắt đầu châm tẩu thuốc.
    "Tôi đã nghe thấy tiếng người này từ năm phút trước, nhưng không muốn cắt ngang câu chuyện thú vị của anh". Ông nói với Strickland rồi quay đầu về phía tôi và một lần nữa khuất phục tôi bằng cái nhìn soi thấu tâm can người khác. "Chỉ vài tiếng khò khè thôi, có phải không, thưa ngài? Hơi thở của ông có phần hơi nặng nề so với loại công việc này".
    "Tôi e rằng tất cả chỉ là một…" Strickland cố xen ngang vào câu chuyện.
    "Không cần phải giải thích, anh bạn Strickland thân mến," người Na Uy nói với một cái khoát tay thờ ơ. "Tất nhiên, mọi thứ đã rõ như ban ngày. Quý ông người địa phương to lớn đang tỏ vẻ bối rối kia chắc chắn là tay chân thân tín mà Đại tá Creighton đã phái đến theo dõi một tên Na Uy xấu xa. Ít nhất thì diện mạo và khả năng của ông ta cũng tạo được niềm tin theo cách đánh giá của Đại tá. Chà, một người thông minh, không còn nghi ngờ gì nữa, và là một học giả, hay ít nhất cũng là người quan tâm đến một vấn đề học thuật uyên thâm nào đó. Đồng thời cũng là một chuyên viên lập bản đồ địa chính kỳ cựu và một nhà thám hiểm đã dành nhiều thời gian du khảo trên dãy Himalaya. Và, vì tôi đã có hân hạnh được tiếp chuyện ông ta cách đây vài giờ nên tôi biết, đó là một người từng ở Afghanistan. Hơn nữa, tôi e là ông ta có quen biết anh, Strickland ạ, trong một mối quan hệ không trực tiếp đến Bộ của anh. Tôi có đúng không, nếu mạo muội cho rằng đó là mối quan hệ thông qua một hội kín"
    "Trời đất ơi!" Strickland kêu lên. "Làm thế quái nào ông đoán ra được tất cả những chuyện ấy?"
    "Tôi chưa bao giờ đoán cả," người Na Uy trả lời, giọng có vẻ hơi khó chịu, "phỏng đoán là một thói quen tai hại, nó phá hỏng khả năng suy luận lô-gíc".
    "Đây là điều tuyệt vời nhất," tôi bất giác thốt lên, trong khi bản thân vẫn bị chấn động bởi cú sốc trước những điều vừa được tiết lộ ngoài mong đợi như thế.
    "Chậc, chỉ là những chuyện tầm thường," người Na Uy nói. "Đó thuần tuý là vấn đề tự rèn luyện để thấy được những gì mà người khác bỏ sót". Ông ngả lưng vào thành ghế, duỗi thẳng đôi chân dài trong lúc chụm các đầu ngón tay vào với nhau.
    "Anh thấy đấy, Strickland thân mến," ông bắt đầu nói với một giọng điệu hồi tưởng của một giáo sư đang lên lớp. "Mặc dù khi ngồi, phần thân phía trên của quý ông này dễ làm cho người ta nhầm lẫn, nhưng bắp chân của ông ta, lồ lộ dưới ống quần may hằng vải dệt tay của người địa phương, cho thấy những mạch máu nổi rõ và một cơ bắp phát triển, điều này chỉ có thể được giải thích bằng việc đi bộ thưởng xuyên và tích cực, nhiều khả năng là ở những khu vực có nhiều núi đồi. Bàn chân phải ông ta, đang xỏ trong đôi xăng đan đục lỗ kia, thiếu mất ngón giữa. Nó không thề bị đứt lìa trong một tai nạn hay một cuộc đọ sức dữ dội nào vì những ngón chân bên cạnh có vẻ không hề hấn gì; ngoài ra chúng ta phải khẳng định rằng các ngón chân không thề bị tòe ra như những ngón tay dù có trải qua bất cứ thủ thuật cắt tiện tiên tiến nào di nữa. Bởi vì nhìn qua cũng biết, nước da nhuận sắc khỏe khoắn của quý ông này cho thấy ông ta đủ sức khỏe chống lại bất cứ loại bệnh tật nào, như bệnh phong chẳng hạn. Từ đó, tôi đi đến một kết luận hoàn toàn có cơ sở rằng việc bị mất một ngón chân của quý ông này là do bị lạnh quá mức, và còn có nơi nào khác trên đất nước này ngoài dãy Himalaya, nơi phải hứng chịu những cơn bão tuyết dữ dội nhất.
    "Tôi cũng nhận thấy rằng ông ta có tật máy mắt phải, đó là căn bệnh nghề nghiệp của các nhà thiên văn học, các nhà nghiên cứu làm việc trong phòng thí nghiệm và nhân viên lập bản đồ địa chính, những người thường xuyên phải nheo một con mắt nào đó khi nhìn quá lâu qua kính thiên văn, kính hiển vi hay máy kinh vĩ. Kết hợp với sự thật là ông ta thường đi dạo trên dãy Himalaya, thì công việc trắc địa là nghề nghiệp khả dĩ nhất trong trường hợp này. Tất nhiên nghề trắc địa cũng là một công việc vô hại, không hề có mối liên hệ thông thường nào với những người đang đóng vai một người khác. Vì thế trong trường hợp này, tôi đi đến kết luận rằng, ông ta đã thực hành những kỹ năng của mình tại những vùng lãnh thổ, nơi mà bản chất công việc và nhân thân thật sự của ông ta cần phải giữ trong vòng bí mật, nhất là trong những khu vực thù địch và cho đến nay vẫn chưa được khám phá.
    Thế đấy, nhà thám hiểm Himalaya của chúng ta. Voilà tout"(14).
    "Thế còn nhận định cho rằng tôi thông minh và có hứng thú đối với nghiên cứu khoa học?" Tôi kinh ngạc hỏi.
    "Điều đó rất đơn giản," ông cười lớn. "Mức độ thông minh có thể dễ dàng suy ra từ việc đầu ông có kích cỡ lớn hơn mức bình thường. Đó là một câu hỏi về công suất hình khối. Một bộ não lớn như thế hẳn phải có cái gì bên trong chứ. Xu hướng quan tâm đến khoa học của ông có thể dễ dàng được nhận biết từ mép cuốn tạp chí màu xanh mà tôi đã thoáng thấy từ túi chiếc áo choàng của ông. Màu và gáy của tờ Asiatic Quarterly Review rất dễ nhận ra".
    "Nhưng còn về Afghanistan? " tôi nói, giọng hơi the thé vì xúc động.
    "Điều đó chẳng quá rõ hay sao? Tôi sẽ không hạ thấp một trí tuệ mà tôi vừa mới tán dương bằng cách nói toạc ra rằng tôi biết được điều đó một cách dễ dàng như thế nào đâu".
    Có một tia sáng vụt long lanh trong mắt người Na Uy khi ông quay lại nói với Strickland.
    "Khi cổ áo sơ mi đồng phục của một viên cảnh sát người Anh thấp thoáng hình dáng đặc biệt của một lá bùa hộ mạng kỳ lạ của người bản xứ, cũng cái loại bùa được công khai quấn quanh cổ quý ông người địa phương đây, thì nhất định ta có thể cho rằng ắt hẳn giữa hai người phải có mối liên hệ nào đó. Trong khi cân nhắc các khả năng thì việc hai người các anh thuộc về một hội đoàn nào đó, có thể là một tổ chức bí mật, là khá cao.
    Hơn nữa, theo những gì đã đọc được về đề tài này, tôi được biết rằng nước Trung quốc láng giềng với đất nước các anh bị quấy phá khá nhiều bởi những tổ chức kín như vậy. Ryder, trong cuốn Lịch sử của những hệ thống thờ cúng tôn giáo bí mật, cung cấp rất nhiều thông tin về chủ đề đó".
    "Trời đất thánh thần ơi?" Strickland vừa kêu lên, vừa lắc đầu kinh ngạc. "May phước là chúng ta không sống ở thời Trung cổ, ngài Holmes ạ, nếu không thì chắc ngài sẽ bị chết cháy trên giàn hoả thiêu mất". Anh ta ngả lưng ra sau ghế và thở dài, "Saat Bhai hay Bầy huynh đệ là một tổ chức Mật giáo(15) đã tuyệt tích từ rất lâu rồi, nhưng ông Hurree Chunder Mookerjee đây đã có công khôi phục lại vì lợi ích của một số người trong Bộ chúng tôi. Lá bùa hộ mạng này còn gọi là hawa-dilli (có nghĩa là khuyến tâm) đã được bà phù thuỷ mù Huneefa trao cho tôi sau lễ kết nạp thành viên mới, gọi là dawat. Bà ta chỉ làm bùa cho chúng tôi mà thôi. Mụ phù thuỷ già hoàn toàn tin rằng mình đang làm bùa cho một hội kín thực sự và còn đính kèm miếng bùa một mảnh giấy trong đó có ghi tên các vị thần thánh và cả những thứ khác không thuộc về thần thánh nữa. Lá bùa giúp chúng tôi nhận ra một thành viên mà chúng tôi chưa gặp bao giờ hoặc giả người này đang cải trang làm một người nào đó. Tất nhiên toàn bộ chuyện này không hề chính tắc chút nào".
    Cách nói năng thân mật của Strickland khiến tôi hiểu rằng cái ông được gọi là "người Na Uy" này tuyệt đối không phải người ngoài, mà là một nhân vật có một mối liên hệ nào đó với Bộ và chắc chắn mối quan hệ ấy được thiết lập qua một kênh quan trọng và có ảnh hưởng lớn.
    "Ngài thấy đấy, thưa ngài," tôi giải thích thêm, "đó cũng là một hình thức để bảo đảm an toàn. Có một niềm tin đã tồn tại từ lâu giữa những người bản xứ, rằng Saat Bhai không chỉ đang tồn tại, mà còn là một hội kín hùng mạnh với rất nhiều thành viên. Và hầu hết những người dân bản địa chúng tôi, nếu không ở trong tình trạng quá kích động, bao giờ cũng dừng lại cân nhắc cẩn thận trước khi ra tay giết kẻ nào nói rằng anh ta thuộc về một tổ chức cụ thể nào đó. Vì thế trong những tình huống nguy hiểm - giả sử có ai đó kề dao vào cổ ngài hay làm một việc gì đại loại thế - ngài có thể nói, “Tôi là con trai của Bùa phép," điều đó có nghĩa rằng có thể ngài là thành viên của tổ chức Saat Bhai, nhờ vậy may ra ngài còn có thể thở được".
    "Tôi từng thuộc về nhiều môn phái tôn giáo khác nhau," Strickland nói, thở dài đầy nuối tiếc. "Các ông thần bà thánh ấy chắc cũng cảm thấy rằng tôi đang rời bỏ dần các tông phái với việc đi lang thang khắp chốn cùng nơi dưới nhiều vỏ bọc khác nhau, và tôi cũng được thần thánh chỉ dụ là phải rời bỏ các môn phái ấy(16). Hiện nay, tôi chỉ còn thuộc về Saat Bhai mà thôi, vì thế tôi hy vọng ông sẽ không tố cáo tôi".
    "Anh bạn thân mến của tôi," người Na Uy nói và lặng lẽ cười theo một kiểu rất riêng, "trong chừng mực các buổi đại yến tiệc của cái hội gì gì đó của các anh không khuấy động thiên hạ bằng việc lấy máu người hiến tế cho các vị thần thì tôi hứa sẽ mang bí mật này của các anh xuống mồ".
    "Ôi vậy thì tốt lắm," Strickland mừng rỡ reo lên. "Tốt hơn cả tôi nên đi đánh một bức điện báo cho Đại tá biết về chuyến đi an toàn của ông. Vào giờ này chắc người quản lý khách sạn đã chuẩn bị sẵn phòng cho ông rồi".
    "Tốt lắm, chỉ còn một vấn đề nho nhỏ cần nghĩ đến mà thôi," người Na Uy nói, nhìn thẳng vào tôi. "Ông Mookerjee à, bằng những nỗ lực của mình ông đã phát hiện ra ít nhiều về những việc có liên quan đến tôi, nên tôi cảm thấy thật không phải, thậm chí có lẽ còn không khôn ngoan nữa, nếu không cho ông ấy biết đầy đủ những chuyện bí mật giũa chúng ta. Phải không Strickland?"
    "Tất nhiên," Strickland đáp. "Ông Hurree đây là một người thận trọng và ông có thể hoàn toàn tin tưởng ông ấy trong việc giữ bí mật". Anh ta quay sang tôi với một nụ cười kẻ cả. "Này ỏng bạn Hurree, người đã tóm được ông chỉ vì ông tỏ ra thiếu khôn ngoan đến mức để cho sự tò mò trẻ con sai khiến, không ai khác chính là vị thám tử vĩ đại nhất thế giới, thám tử Sherlock Holmes".
    "Anh làm tôi xấu hổ đấy, Strickland ạ," Holmes nói với giọng khẩn khoản.
    Đúng lúc ấy, nghe vang lên một tiếng thét rùng rợn, kéo dài khắp các hành lang của khách sạn Taj Mahal.
    Chú thích:
    (1) Milton, Thiên đường đánh mất.
    (2) Ticca-ghari: xe ngựa chở thuê có bốn bánh.
    (3) Chalo: Đi thôi đi nào! (tiếng Hindu).
    (4) Babuji: Babu là từ chỉ người bàn xứ có học làm việc cho chính quyền nhà nước, ji là hậu tố thêm vào khi nói chuyện với người đối diện tỏ ýkính trọng. Babuji có thể hiểu là thưa ông (tiếng Hindu).
    (5) Jaldi: Nhanh lên (tiếng Hindu).
    (6) sub rosa: (tiếng Latinh): nghĩa là sự kín đáo.
    (7) Hai, rukho: họ, dừng lại.
    (8) Nguyên văn paan: tương tự như trầu không ở ta, nhai chung với hạt cau, vôi. cùng một vài loại gia vị khác. Paan làm cho môi và răng có màu đỏ. Nhiều người Ấn thời đó có thói quen nhai paan.
    (9) Pukka: quý ông sang trọng.
    (10) Kismet: số mệnh, số phận.
    (11) Kacha: một loại nhà ở tam bợ, xây bằng những vật liệu dễ hỏng, như loại nhà tranh của ta.
    (12) Sự thiếu thận trọng của Kipling liên quan đến Lực lượng bí mật Ấn Độ, dường như không chi giới hạn trong vấn đề về "Phà hệ của giống ngựa bạch". Độc giả đọc Kipling sẽ biết rằng Strickland và những hoạt động bí mật của ông được nhắc đến không chỉ trong cuốn truyện Kim mà còn trong một số truyện ngắn khác. Strickland được miêu tả như là một thanh tra tài giòi, cho dù chắc chắn không thể sánh được với Holmes. Ông là bậc thày về cải trang và có kiến thức sâu rộng về những phong tục và văn hoá dân gian Ấn Độ, đặc biệt là trong những hoạt động bí mật và ám muội.
    (13) Burra mem: quý bà.
    (14) Tiếng Pháp trong nguyên bản, nghĩa là "Chỉ có vậy thôi".
    (15) Mật giáo hay Mật tông: Một trong những tông phái của Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ rồi được truyền sang Trung Hoa Nhật Bản… và phát triển đặc biệt mạnh mẽ ở Tây Tạng. Ở đây. Mật tông còn được gọi là Kim Cương thừa với ýnghĩa biểu trưng về một con đường thẳng dốc đứng để đi lên dinh núi, điều đó nói lên tính siêu việt cũng như những khó khăn, nguy hiểm của đường lối tu Mật giáo.
    (16) Về những chuyện có liên quan đến nhân vật Strickland, mời các bạn đón đọc truyện ngắn Miss Yougal s Sais trong tập truyện Những chuyện kể chân thật vùng trung du của Kippling
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  6. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Nỗi kinh hoàng màu đỏ



    Chương 2
    Nỗi kinh hoàng màu đỏ

    Sự trùng hợp không ai đoán trước được giữa lời tuyên bố bất ngờ của Strickland với tiếng thét rợn gai ốc kia phần nào khiến cho đầu óc tôi trở nên rối bời. Riêng Strickland nhanh chóng đứng phắt dậy.
    "Chuyện quái quỷ gì thế!"
    Một tiếng rú khác vang lên trong không gian vừa yên ắng được vài giây.
    "Mau lên nào, các ông…" Sherlock Holmes kêu to. "Nó vọng đến từ tiền sảnh".
    Chúng tôi lao ra khỏi phòng viên quản lý khách sạn và đâm bổ xuống hành lang. Trong lúc chạy thục mạng như vậy, một ý nghĩ choáng váng vụt lên trong đầu tôi: Sherlock Holmes của chúng ta đã chết cách đây hai tháng rồi cơ mà. Tất cả những tờ báo lớn nhỏ trong Đế chế, nói rộng ra là khắp thế giới, đều tường thuật câu chuyện bi thảm về cuộc chạm trán định mệnh giữa nhà thám tử tài ba với tên giáo sư độc ác tinh quái Moriarty tại thác Reichenbach ở Thuỵ Sĩ. Vậy thì thế lực nào đã đưa ông ta quay trở lại cuộc sống? Nhưng ngay trước khi có thể định thần để đặt ra một câu hỏi rõ ràng trong đầu thì tôi đã đứng trước một cảnh tượng quái đản và khủng khiếp đến nỗi chắc chắn tôi sẽ đem theo ký ức đáng sợ này xuống tuyền đài.
    Trong gian tiền sảnh khách sạn được thắp sáng bởi ba ngọn đèn chùm kiểu thành Viên hết sức rực rỡ, tráng lệ, hiện có khá nhiều quý ông và quý bà ăn mặc trang trọng lịch lâm; mỗi người về phần mình đều chiếu ánh mắt vô cùng kinh hoàng lên đầu cái cầu thang ngăn đôi phần sau gian tiền sảnh. Tác giả của tiếng hét là một burra mem đứng tuổi, người mới đây, qua cái nhìn chê bai, đã từ chối sự hiện diện của tôi ở một nơi sang trọng đẹp đẽ như thế này. Còn bây giờ thì bà ta tách lên đứng trước nhóm người tụ tập ở chân cầu thang vài bước và dường như đang chuẩn bị lấy hết sức để phát ra thêm những tín hiệu của nỗi sợhãi tột cùng.
    Ở đầu cầu thang trên cùng, nơi thu hút tất cả những cái nhìn ngây dại của mọi người, là một hình ảnh biểu lộ nỗi kinh hoàng thuần tuý, đúng như cảnh địa ngục của người Hindu. Đó là một người đàn ông - hay ít nhất nó cũng có hình dáng của một người đàn ông - đỏ ối toàn máu là máu. Máu ở đâu ra mà nhiều thế, đến nỗi không ai có thể nhận ra một chi tiết nào về y phục hoặc hình thể học bên dưới lớp máu đỏ đang phát ra cái ánh mờ mờ ma quái. Cả cái thân hình nhuộm đỏ máu ấy đang rờ rẫm và loạng choạng như người mù tiến về phía trước. Trên hề mặt đỏ lòm của cái mặt ấy lộ ra một cái lỗ đen ngòm và từ đó phát ra tiếng tru hoang dại đau đớn của một con thú, tiếng kêu ấy tắt lịm đi trong tiếng ồng ộc chết người như thể còn bao nhiêu máu trong người đều theo đó ộc ra hết. Cả thân hình khuỵu xuống chậm rãi một cách lạ lùng rồi lăn tròn từng bậc cho đến tận chân cầu thang, đúng ngay dưới chân quý bà kia thì dừng lại làm máu vấy tung lên chiếc váy dài trắng muốt của bà ta.
    Quý bà lại hét lên một tiếng chói tai nữa và ngã lăn ra ngất xỉu.
    Strickland lao đến trước, tiếp theo là tôi, hai chúng tôi nâng bổng quý bà lớn tuổi kia lên, khiêng đến chỗ chiếc ghế dài nơi người quản lý khách sạn và mấy người đàn bà đang đúng rúm vào nhau với vẻ kinh hoàng; chúng tôi giao bà ta cho họ để họ chăm sóc.
    "Mọi người vui lòng tránh xa khỏi chỗ này," Strickland hét lên át cả những tiếng kêu náo loạn. "Tôi là sĩ quan cảnh sát và không có lý do gì phải sợ hãi quá đáng". Anh ra hiệu cho người quản lý, người này nhanh chóng tiến lại gần. "Nhờ ông cho chuyển ngay lá thư này cho thanh tra MacLeod tại đồn cảnh sát Horniman," anh ta ra lệnh, viết tháu vài dòng vào một mảnh giấy và trao ngay cho người quản lý đang run như cầy sấy.
    "Thật là một chuyện khủng khiếp nhất trên đời, thưa ngài, một việc như thế chưa bao giờ…"
    "Dẹp những chuyện ba láp đi ông bạn!" Strickland ngắt lời, vẻ sốt ruột. "Cử ngay ai đó đến đồn cảnh sát đi".
    Trong lúc ấy, Sherlock Holmes quỳ gối bên cạnh cái thân hình đẫm máu, chăm chú nhìn vào đồng tử nạn nhân mà ông đã vạch ra bằng cách kéo mí mắt lên. Khi Strickland quay lại, Holmes lắc đầu một cái rất dứt khoát.
    "Ông ta chết đứ đừ rồi". Sherlock Holmes vừa nói vừa lau các ngón tay vào một chiếc khăn mùi soa. "Bao nhiêu là máu chảy ở đây… Hừm… từ khắp mọi phần trên cơ thể".
    Mặc dù là một người có ăn có học và điều đó có nghĩa là tự trong bản chất tự nhiên, tôi đã dị ứng với máu me và bạo lực, nhưng vì tính chất nghề nghiệp của mình mà tôi đã tận mắt chứng kiến cái chết ở nhiều dạng thức và trong những cảnh huống khác nhau. Nhưng cái hình nhân đàn ông này, từ hình khối đến đường nét đều bị che phủ dưới tấm mền máu khủng khiếp này thì trông không có vẻ gì thuộc về con người mà giống như một con quỷ kỳ dị đỏ bầm, chỉ làm dậy lên trong lòng tôi một nỗi kinh hoàng mà tôi chưa từng nếm trải. Nhưng tất nhiên tôi không để lộ ra ngoài.
    Sherlock Holmes thì dường như bị kích động chứ không bị sốc trong tình huống khủng khiếp này. Trông ông không hề có một biểu hiện nào của nỗi kinh hoàng đang bóp nghẹt trái tim tôi khi đứng trước cảnh tượng ghê rợn; trái lại, ông có dáng vẻ điềm tĩnh và an lạc của một thánh nhân đang ngồi kiết già trên tấm thảm da hoàng, trầm tư mặc tưởng về cái lẽ bí ẩn thâm sâu của sự sống và cái chết.
    Ông nhanh chóng lau sạch khuôn mặt của người chết bằng khăn tay của mình. Tuyệt không thấy có bất cứ vết thương nào trên mặt nạn nhân, thế mà chỉ ít giây sau cả khuôn mặt kia, một lần nữa, lại phủ đầy máu.
    "Một trường hợp độc nhất vô nhị," đó là lời nhận xét duy nhất mà Sherlock Holmes thốt ra khi ném chiếc khăn tay đẫm máu đi. Ông quay sang Strickland: "Xin anh vui lòng ở lại đây và đảm bảo rằng không ai đến gần cái xác trong khi tôi lên lầu quan sát một chút, được không?"
    "Chắc chắn rồi. Tôi sẽ lên chỗ ông ngay khi MacLeod và người của ông ta đến đây".
    Sherlock Holmes quay sang phía tôi.
    "Ông có muốn đi cùng tôi không, ông Mookerjee? Có lẽ, có những câu hỏi cần lời giải đáp và sự dốt nát của tôi về người Hindu chắc chắn sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong vụ án này".
    "Thật là một vinh hạnh lớn cho tôi, thưa ngài, nếu tôi có bất cứ một tài mọn nào được chứng minh là có ích đối với ngài".
    Tôi đã hình dung trong đầu rằng Sherlock Holmes sẽ ngay lập tức lao vào điều tra những bí ẩn đằng sau vụ này, nhưng xem ra chẳng hề có chuyện như vậy. Với một dáng điệu dửng dưng, trong hoàn cảnh này thì gần như là kiểu cách, ông đủng đỉnh đi lên cầu thang. Lên đến đầu cầu thang, ông bình thản ném một cái nhìn lơ đãng khắp xung quanh trần nhà, sàn nhà và những hức tường vấy máu (toàn bộ khung cảnh trông giống như trong một lò mổ).Có vẻ như ông cho rằng thế là quá đủ cho phần khảo sát chiếu lệ của mình và với cái dáng hơi nhún nhảy nhẹ như mèo, Holmes tiếp tục rẽ vào hành lang bên trái, lần theo những vết chân màu đỏ rõ mồn một và những vũng máu không thể lẫn vào đâu.
    Dọc theo hành lang, kéo dài qua khoảng năm phòng thì vết chân dừng lại, chỉ còn một vài đốm máu nhỏ trên tấm thảm.
    Sherlock Holmes kiểm tra hai cái cửa nằm ở hai bên, nhưng chỉ có cánh cửa bên phải của phòng số 289 là mở được. Chìa khoá vẫn còn trong ổ. Holmes mở cửa bước vào.
    "Hừm, có vẻ như là không có ai ở đây thì phải".
    "Có phải ngài đang chờ gặp một ai đó?"
    "Sao ông lại hỏi thế?"
    "Vâng, thưa ngài, nếu có kẻ nào đó trong vụ án này toan tính bất cứ một hành động bạo lực không thích hợp nào thì tôi không muốn nó xảy ra như một tình tiết chưa được chúng ta tính toán. Thần kinh của tôi khó chấp nhận một cú sốc nào như thế".
    "Vậy, ông nghĩ nạn nhân của chúng ta đã bị giết".
    "Còn có lời giải thích nào khác chăng?"
    "Cả đống. Lại vẫn là sai lầm nghiêm trọng nhất khi đưa ra các giả thuyết trong lúc vẫn còn chưa có đủ các dữ kiện. Xin chào! Ai đó?"
    Ở cuối hành lang xuất hiện một bhangi(1) đứng tuổi, trên tay cầm một cái chổi cán ngắn.
    "Ông ta chỉ là một người quét dọn, thưa ngài, có thể khẳng định đó là một người lao công trong khách sạn".
    "Đưa ông ta đến đây khoảng một phút, được không?"
    "Chắc chắn là được, thưa ngài. Người hầu phòng! Đến đây, mau lên!
    Ông già lúp xúp tiến về phía trước trên đôi bàn chân trần không mang giày, khi tới gần chỗ chúng tôi, ông cúi chào Sherlock Holmes.
    "Namaste, sahib"(2)
    "Hỏi ông ta xem, vừa nãy ông ta có thấy bất cứ điều gì bất thường không?".
    "Nghe cho rõ đây, ông già," tôi nói với ông ta bằng tiếng bản xứ. Ông có thấy gì không bình thường cách đây ít lâu không?"
    "Babuji, tôi chẳng thấy gì suất, à nhưng mà có," khuôn mặt già nua của ông già chợt sáng lên, "tôi có nghe một tiếng hét lớn, giống hệt như tiếng một chural(3)".
    "Tất cả những ai được Thượng đế ban cho đôi tai đều nghe được tiếng đó," tôi ngắt lời một cách bực bội. "Giờ thì hãy nghe cho rõ, hỡi kẻ tôi tớ của Lal Beg(4). Sahib cao lớn này là một sakht burra atsar của cảnh sát. Có một người vừa mất mạng. Phải, đấy là tiếng thét mà lão vừa nghe thấy và sahib này có mặt ở đây là để điều tra. Nếu lão muốn giữ được chỗ làm của mình ở khách sạn này, hãy kể cho ta nghe tất cả mọi chuyện, không được giấu giếm bất cứ điều gì, nghe chưa?"
    "Hai mai" lão già cất tiếng than van. "Thật bất công. Tôi chẳng thấy gì cả, thưa ngài. Chẳng có ai đi qua lối này cả. Chỉ có một sahib người Angrezi khác rời khỏi đây bằng cầu thang phía sau".
    "Bình thường các quý khách có sử dụng cầu thang đó không?"
    "Không, thưa ngài. Nó chỉ dành cho những người phục vụ trong khách sạn mà thôi".
    "Gadha! Đồ con lừa! Tại sao lão không nói ngay từ đầu hả?"
    Tôi quay sang giải thích cho Sherlock Holmes nghe cuộc trao đổi qua lại giữa người quét dọn và tôi.
    "Nghe cho rõ đây, lão già," tôi nói, trừng mắt nhìn lão lần nũa với cái nhìn nghiêm khắc, sahibđó trông như thế nào và ông ta rời khỏi đây khi nào?"
    "Babuji," ông già lại rên lên một tiếng, "tất cả các sahib người Angrezi trông đều giống nhau cả".
    "Này, cẩn thận, không thì lão vào nizamut(7) đấy," tôi nghiêm giọng nói, "nếu lão không cố mà nhớ lại, nhanh lên".
    "Babuji, tất cả những gì mắt tôi thấy là một sahib mảnh khảnh, không còn quá trẻ, bộ ria mép trông rất buồn cười, mũi thì dài dài là. Ông ta có vẻ rất hoảng hốt lúc chạy ngang qua mặt tôi".
    Đôi môi mỏng của Sherlock Holmes mím lại khi tôi nói cho ông biết điều này.
    "Hãy bảo ông ta trả lời chính xác xem người đó rời khỏi đây vào lúc nào".
    "Ông ta nói, chỉ vừa mới đây thôi, thưa ngài, chỉ trước khi chúng ta gọi ông ta. "
    "Trời đất ơi! Vậy cái cầu thang đó ở đâu?"
    "Người lao công nói nó ở cuối hành lang, thưa ngài, nó dẫn xuống lối đi dành cho nhân viên tiếp phẩm".
    Holmes chạy nhanh qua hành lang, lao xuống một cái cầu thang hẹp, không cho tôi một sự lựa chọn nào khác ngoài việc hớt hải chạy theo ông. Chúng tôi vội vàng lao qua cửa sau, chạy vào một lối đi hẹp. Nhưng rô ràng con mồi đã chuồn ngay trước mũi chúng tôi, vì kia kìa, chỉ cách chúng tôi khoảng gần một trăm mét, một chiếc xe ngựa ào ào lao xuống con đường tối om vắng người qua lại. Đến ngã tư, chiếc xe đột ngột rẽ ngoặt vào con đường chính và chỉ trong tích tắc, nó hiện lên rất rõ trong vùng sáng của ngọn đèn đường. Đúng lúc đó, người hành khách trong xe nhổm dậy khỏi ghế ngồi quay đầu lại nhìn. Đó chính là khuôn mặt chồn sương của gã đàn ông hồi chiều!
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  7. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Nỗi kinh hoàng màu đỏ (2)



    "Tôi e là chúng ta đã chậm chân một chút," Sherlock Holmes vừa quan sát vừa nhét một khẩu súng lục có ổ quay lớn vào trong túi áo choàng. "Không biết liệu ông có nhìn được số đăng ký của chiếc xe ngựa không?"
    "Không, thưa ngài, nhưng tôi lại thấy một điều khác," tôi kể cho ông nghe về gã đàn ông mặt chồn sương khi chúng tôi leo lên cầu thang trở lại hiện trường.
    "Đúng thế, đúng thế. Hắn ta có thể là một trong những kè đồng mưu," ông nhận xét lúc chúng tôi quay lại hành lang. "Tôi nên lường trước một điều gì đó như thế này. Ô này, Strickland đang ở đây. Cảnh sát hẳn đã đến".
    "Thưa ngài Sherlock Holmes, ngài đã phát hiện được gì chưa?" Strickland sốt ruột hỏi.
    "Tôi mới chỉ kịp lướt một vòng qua hiện trường gây án, trước khi sự chú ý của tôi bị phân tán bởi một tình tiết khác".
    Sherlock Holmes bắt đầu kể cho Strickland nghe câu chuyện của ông già quét dọn trong khách sạn và cuộc chạm trán thoáng qua của chúng tôi với kẻ bí ẩn có mặt chồn sương. Ông kết luận.
    "Như vậy, bây giờ được sự cho phép của anh, tôi sẽ tiến hành điều tra".
    Nói xong, ông lấy từ trong túi áo ra một cái kính lúp cực mạnh và một thước dây. Với hai dụng cụ này, ông di chuyển dọc theo hành lang, không gây một tiếng động nào, đôi lúc dừng lại, có khi lại quỳ gối và có một lần nằm ép mặt xuống sàn nhà. Ông chăm chú quan sát một điểm, vẫy tay ra hiệu cho Strickland và tôi lại gần.
    "Các anh có nhận ra đây là cái gì không?" ông hỏi, chỉ vào vật gì đó trên sàn.
    "Nó trông như một cục máu lớn," Strickland trả lời.
    "Hừm… có khả năng; tuy nhiên, có ai trong các ông vui lòng cho tôi mượn chiếc khăn tay không?"
    Tôi móc túi chìa ra cái khăn mùi soacủa mình. Ông nhận lấy và lau cục máu đỏ. Bên dưới hiện ra một vật gì màu xam xám.
    "Sao cơ, đó là một mẩu cao su Ấn Độ?" tôi kêu lên.
    "Ông cho là thế ư?" Holmes nhận xét. "Tốt lắm, tôi nghĩ đó là tất cả những gì có thể tìm được ở đây. Nào, bây giờ chúng ta hãy di xa hơn nữa".
    Holmes hước hẳn vào trong phòng 289 và ở đó khoảng mười lăm phút để thực hiện một trong những cuộc điều tra công phu vốn là nền tảng vũng chắc cho những thành công vượt trội của ông. Thật là một kinh nghiệm để đời đối với tôi, khi lần đầu tiên được dịp tận mắt quan sát cách làm việc thực thụ của một chuyên gia đã đạt được những thành tựu vô tiền khoáng hậu và nhờ thế mà nổi tiếng khắp năm châu. Cái vẻ háo hức, thích thú trên khuôn mặt Strickland cho biết cảm nhận của anh ta cũng giống như của tôi: Vào lúc ấy tôi đã không ngăn được cảm giác vui sướng khi chứng kiến cảnh thám tử Sherlock Holmes vĩ đại lầm bẩm một mình suốt thời gian đó, liên tục thốt ra những thán từ và thỉnh thoảng lại huýt sáo miệng, dấu hiệu của sự phấn khích và hy vọng, nhưng đôi lúc ông lại cất tiếng rên rỉ và thở dài, cho thấy chắc chắn mọi việc không đơn giản.
    Dừng lại cạnh chiếc giường lớn, Sherlock Holmes kêu to, đồng thời chỉ tay xuống sàn.
    "Được lắm, được lắm. Xem chúng ta có gì ở đây nào?"
    "vẻ như đây là những dấu vết của mấy cái chân ghế," Strickland nhận xét.
    "Cái bàn, anh bạn Strickland thân mến ạ, đích thị là một cái bàn. Khoảng cách giữa các dấu vết này quá rộng so với một chiếc ghế. Nhưng thường thì nó không được kê ở đây, vì nếu vậy dấu vết do nó để lại sẽ phải sâu hơn và phải làm cho màu sắc trên thảm ở ngay chỗ đó khác với màu xung quanh. Vì vậy, cái bàn này chỉ vừa mới được đặt vào đây không lâu. Mọi người hây nhìn đây lông trên tấm thảm ở ngay chỗ đó đang từ từ trở về tư thế cũ kia kìa". Ông đứng thẳng lên, đưa mắt nhìn khắp phòng. "Và kia, chúng ta có một thứ ngay ở chỗ đó".
    "Nhưng còn có một cái khác giống nó ở đầu kia căn phòng," tôi xen vào.
    "À. Nhưng khả năng đây là một cái bàn thì cao hơn nhiều. Chỉ là vấn đề thuận tiện mà thôi. Con người thường có thói quen sư dụng những gì ở gần mình nhất". Ông đi quanh bàn để kiểm tra. "Tôi cho là mình đã đúng. Hãy quan sát những vết trầy xước khá sâu trên lớp vecni kia. Trời ơi, ai lại nỡ đối xử với một món đồ đẹp dường này một cách thô bạo đến thế chứ. Rõ ràng đã có ai đó đứng trên mặt bàn. Mà lại còn dận một đôi giày to tố chảng nữa chứ. Hừm. Giờ hãy xem chúng ta có thể ráp các mảnh lại với nhau được chưa. Ông có thể giúp tôi một tay chứ?"
    Sherlock Holmes và tôi nâng bổng cái bàn qua khỏi giường và cẩn thận đặt xuống sàn, sao cho chân bàn khít rịt với vết lõm để lại trên tấm thảm.
    "Một sự trùng hợp hoàn hảo, thưa ngài Sherlock Holmes," tôi nói, giọng thoả mãn. Nhưng Sherlock Holmes đã đứng lên trên bàn và đang giơ tay sờ vào một chiếc đèn bằng đồng thau, là đồ sản phẩm nội địa được treo vào một sợi dây mảnh ngay phía trên cái giường. Chiếc đèn, một tác phẩm thu công hiệu Benaras, rập theo hình dáng của một con voi, được chạm trổ công phu với nhiều đường nét phức tạp, hoàn hảo. Dùng chiếc khăn tay để cầm lấy chiếc đèn, ông kiểm tra nó thật kỹ lưỡng bằng cái kính lúp của ông. Cuối cùng, khoảng mười phút sau, ông để cho cái đèn đu đưa phía trên đầu, rồi nhảy xuống sàn.
    "Thật tài tình. Đúng là một âm mưu hiểm độc, khéo léo không chê vào đâu được. Lẽ ra tôi không nên để mất nhiều thời gian như thế…" ông cúi xuống nghiên cứu cẩn thận tấm khăn trải giường với chiếc kính lúp trên tay. "Bây giờ, nếu mọi việc hợp lô-gíc thì ở đây nên A! Đúng như tôi đã mong đợi".
    Dùng một con dao nhíp nhỏ, Sherlock Holmes tỉ mẩn cạo một mảng nhỏ màu nâu từ một vết gì đó trên tấm ga trải giường rồi đưa nó tới gần phía dưới ánh sáng đèn để kiểm tra.
    "Rành rành là một vết xi gắn. Các ông không nghĩ vậy ư, thưa quý ông?"
    "Thưa ngài Sherlock Holmes," Strickland đột nhiên kêu lên, giọng anh ta như đã mất hết cả kiên nhẫn, "phải có mối liên hệ nào đó giữa tất cả chuyện này với người vừa chết dưới kia chứ? Có phải người đàn ông kia bị giết không, nếu đúng như vậy thì việc đó đã xảy ra như thế nào? Và tại sao lại chay máu nhiều đến thế? Thật tình, tôi nghĩ ông nên đối xử với chúng tôi chân tình hơn một chút".
    "Trong mớ kinh nghiệm của mình, tôi không nhớ là còn có một nghiên cứu nào thú vị và khác thường hơn trường hợp này. Cuộc điều tra của tôi gần như đã hoàn tất, nhưng tôi cần phải xác minh lại một vài chi tiết trước khi có thể thông báo kết quả điều tra của tôi cho các vị. Tuy vậy, tôi đảm bảo với hai người rằng tôi sẽ chỉ hoãn việc trả lời những câu hỏi của các vị trong thời gian ngắn nhất. Trong lúc đó, tôi nghĩ quý vị nên biết rằng người đàn ông đã chết một cách tức tưởi dưới cầu thang kia là nạn nhân của một vụ giết người, đồng thời là một vụ tai nạn".
    "Thưa ngài, điều ngài nói xem ra rất mâu thuẫn," tôi xen vào.
    "Ông đang biến chúng tôi thành những kẻ ngốc đấy, thưa ông Sherlock Holmes," Strickland giận dỗi nói.
    "Chà, chà, anh bạn Strickland thân mến. Điểm đầu tiên mà tôi khám phá ở anh là việc anh dễ dàng nổi đoá. Dù sao thì đó cũng là lỗi của tôi. Tôi nên làm sáng tỏ mọi việc mới phải".
    "Sáng tỏ ư, ông Holmes?" Chúng ta thậm chí còn chưa biết người chết dưới kia là ai nữa".
    "Người chết là một người địa phương làm nghề bồi bàn ở ngay trong khách sạn này. Chẳng có gì phải nghi ngờ về việc anh ta bị ám sát. Nhưng cái chết của anh ta cũng lại là một tai nạn ngẫu nhiên, bởi anh ta, xui xẻo làm sao, lại chui đầu vào đúng cái bẫy chết người mà hung thủ giăng ra cho nạn nhân thực sự của hắn".
    "Vậy cái người mà kẻ sát nhân kia muốn ám sát là ai?"
    "Còn ai khác ngoài Sherlock Holmes này, theo cách hình dung của tôi".
    "Ông ư, ông Sherlock Holmes?"
    "Ồ, tôi phải thừa nhận có một mức độ xấu xa nào đó trong những vòng xoay tội ác này," Holmes mỉm cười lặng lẽ, "nhưng mà đó là cả một câu chuyện dài và…"
    Có một ký ức mơ hồ nãy giờ cứ luẩn quẩn trong đầu, đúng lúc này lại đột nhiên nảy ra trong óc tôi, trong vắt như pha lê.
    "Con tàu, ông Sherlock Holmes," tôi kêu lên.
    "Sao, lại có chuyện gì?" Strickland gắt lên.
    "Theo lịch trình, con tàu Kohinoor lẽ ra phải cập bến vào lúc giữa trưa, thế nhưng nó bị trễ, tận buổi chiều mới đến. Nếu mọi thứ diễn ra theo đúng lịch trình, ông Holmes không những có mặt ở khách sạn này vào buổi tối, mà thậm chí còn có thể đã ở trong phòng và rất có thể chính là căn phòng này, vào đúng lúc xảy ra tai nạn".
    "Như vậy, ông Holmes đây lẽ ra đã trở thành một cái xác đẫm máu, chứ không phải anh chàng xấu số kia?" Strickland hỏi.
    "Có thể lắm," Sherlock Holmes nhẹ nhàng nói. "Chỉ là có thể thôi. Tôi cả quyết với quý vị là tôi hoàn toàn không khoác lác về khả năng tiên liệu được vấn đề, khi tuyên bố rằng tôi đã lường trước được một cuộc tấn công nhắm vào cá nhân tôi. Từng có bốn vụ mưu sát nhắm vào tôi, chỉ tính riêng trong tháng này, dù vậy tôi vẫn phải thừa nhận âm mưu lần này là đáng quan tâm nhất".
    "Nhưng căn phòng," Strickland kêu lên. "Làm thế nào tên sát nhân biết được rằng…"
    Đúng lúc ấy một sĩ quan cảnh sát có vẻ mặt khắc khổ vận bộ đồ vải ka ki bước vào phòng. Ông ta xoắn xoắn bộ ria mép lởm chỏm ngả màu muối tiêu một cách lo lắng và nói.
    "Xác chết đâm được chuyển tới nhà xác, thưa ngài," ông ta nói với Strickland, giọng vùng Arbedonia khá nặng. "Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái xác nào nhiều máu đến vậy. Không hiểu trên đời này có cái gì mà lại gây nên một cái chết khủng khiếp, thương tâm đến như thế nhỉ?"
    "Ai cũng có một nhận định như thế, vào thời điểm này," Stnckland trả lời. "Nhưng mọi chuyện sẽ trở nên sáng tỏ hơn một khi cái xác được khám nghiệm kỹ càng. Hôm nay ai trực ở phòng xét nghiệm?"
    "Chắc là ông già Patterson, thưa ngài".
    "Hãy bảo ông ta rằng tôi muốn mổ xác khám nghiệm tử thi ngay lập tức. Tôi sẽ xuống hiện trường ngay khi kiểm tra xong một số điểm với ông Sigerson và người dẫn đường của ông ấy ở tại đây. Ông Sigerson đã kiểm tra kẻ xấu số vào phút cuối cùng, hẳn ông ấy đã nhìn thấy hoặc nghe được điều gì đó có liên quan đến vụ này".
    Một ngài sĩ quan chỉ huy, khi cần, cũng có thể nói dối trơn tru như một tên trộm cắp vặt.
    "Như vậy, mọi việc có ổn không nếu người của khách sạn dọn sạch cái đống lộn xộn dưới kia? Chúng ta đã rà soát tất cả mọi chi tiết, nhưng có lấy được thông tin gì đâu".
    "Thôi được. Ông có dám chắc là người của các ông không bỏ sót bất cứ điều gì không?"
    "Không một chút gì, thưa ngài. Tôi có thể đoan chắc là không có chuyện như vậy," viên thanh tra đáp rồi nở một nụ cười buồn bã. "Người ta đang có một cuộc họp mặt cựu học sinh ở dưới gác - trường Đại học United Services, tôi nghĩ thế - còn người quản lý khách sạn thì được một phen hồn xiêu phách lạc. Khiếp máu ở đâu mà lắm thế, khắp cầu thang, chỗ nào cũng có".
    Ông ta bước ra khỏi phòng, vừa đi vừa sửa lại chiếc mũ cát két. "Tôi sẽ bố trí Havildar Dilla Ram và hai cậu bé ở lại đây làm nhiệm vụ".
    "Cám ơn ông, MacLeod. Chúc ngủ ngon".
    Sau khi viên thanh tra đi khỏi, Holmes ngước mắt nhìn lên trần nhà và thở dài. "Có thể thấy rõ cung cách làm việc của cảnh sát thành phố Bombay này cũng không khác gì lắm với cách làm của Scotland Yard trước đây".
    "Quay vào việc đi, ông Sherlock Holmes," Strickland nói với giọng bị tổn thương. "Tôi thừa nhận là bọn chúng tôi hoàn toàn bất lực trong vụ án bí ẩn này và tôi cho là ông thì lại khác. Ông đã tung ra những gợi ý này khác ở chỗ này chỗ kia, nhưng tôi nghĩ chúng tôi có quyền hỏi thẳng, ông biết được bao nhiêu trong vụ này?"
    "Anh bạn thân mến, tôi không hề có ý làm tổn thương tình cảm của anh đâu. Chỉ còn vài chi tiết cần được kiềm chứng, sau đó tôi đảm bảo với anh, tất cả sẽ được công khai. Nào, tôi muốn anh có mặt tại chỗ khám nghiệm tử thi và ghi chép tất cả mọi chi tiết một cách cẩn thận. Tôi không do dự khi cho rằng kết quả khám nghiệm có thể sẽ là giải pháp sống còn cho vụ án này".
    "Được ông Holmes," Strickland nói, xem ra anh chàng đã được xoa dịu phần nào, "Ông có cách làm mọi chuyện trở nên phức tạp mới xong cơ, nhưng tôi đã biết cái tính kiệm lời của ông lâu đến nỗi tôi cho là mình có thể chịu đựng thêm một thời gian nữa".
    "Chà chà, anh bạn tốt của tôi," Sherlock Holmes cười lớn, vỗ vỗ vào vai anh chàng. "Còn đây là việc cuối cùng và có thể nó nằm trong lĩnh vực được ông Mookerjee quan tâm nhiều: chỗ nào có thể kiếm được một bộ sưu tập sách liên quan đến quần thề thực vật và động vật của đất nước này?"
    "À, thưa ngài," tôi đáp lời, có phần hơi hoang mang sau câu hỏi hoàn toàn không được chờ đợi này, "nơi khả dĩ nhất chắc là thư viện của Hội Lịch sử Tự nhiên Bombay. Tôi cũng có quen biết chút đỉnh viên thư ký Hội, ông ấy tên là Symington; tôi đã từng cung cấp (một cách bán chính thức) cho ông ta những mẫu vật quý hiếm về cây anh thảo Tây Tạng. Ngoài ra, các trang thiết bị trong thư viện của họ rất tốt. Nhưng tôi e rằng giờ này thư viện đã đóng cửa".
    "Ồ không sao, không sao, đợi đến mai cũng được," Sherlock Holmes nói giọng dễ dãi. "Tôi chờ ông ở đây, ông Mookerjee ạ, và sáng sớm ngày mai hãy đưa tôi đến thư viện ấy nhé. Giờ thì chúng ta hãy xuống dưới gác để thu xếp đồ đạc của tôi mang về phòng và cùng ăn lót dạ một chút".
    "Hẳn là ông rất đói," Strickland nói, giọng rầu rĩ. "Lẽ ra tôi nên…"
    "Chuyện không có gì mà ầm ĩ, anh bạn thân mến ạ," Sherlock Holmes cắt ngang, và là người đầu tiên rời khỏi phòng.
    "Thật là một buổi tối có nhiều chuyện đáng học hỏi nhất. Tôi sẽ không để lỡ mất một dịp như vậy. Anh vui lòng đóng cánh cửa sau lưng lại giùm tôi chứ? Không nên để mọi người biết chúng ta đang quanh quẩn ở đây".
    Có vẻ như viên quản lý khách sạn đã không mất nhiều thời gian để sắp xếp lại mọi thứ, bởi có một tốp nhân viên phục vụ đang bận rộn lau chùi cầu thang. Nhưng cho đến lúc ấy, họ vẫn chưa lau xong đầu cầu thang là nơi dẫm nhiều máu nhất.
    Sherlock Holmes đột nhiên dừng lại trước khi xuống cầu thang, trên mặt ông xuất hiện nét băn khoăn khi ông chăm chú quan sát sàn nhà.
    "Strickland, anh có nhận thấy bất cứ điều gì bất thường về những vết máu này không?"
    "Chuyện gì vậy, ờ không," Strickland trả lời. "Thì chỉ là có quá nhiều máu… Sao? Có gì bất thường ở đây ư?"
    "Ồ không có gì," Holmes phẩy tay đáp, tiếp tục đi xuống cầu thang, nhưng tôi loáng thoáng nghe ông lẩm bẩm một mình, "Thật xuất sắc, đúng là không chê vào đâu được".
    Chúng tôi đi ngang qua tiền sảnh, tiến lại gần quầy tiếp tân thì người quản lý vội vã rảo bước về phía chúng tôi.
    "Xin gửi tới ông nghìn lời tạ lỗi, thưa ông Sigerson. Tôi thật khiếm khuyết trong nhiệm vụ của một người chu nhà. Nhưng cái tai nạn khủng khiếp này…"
    "Hoàn toàn ổn cả mà. Tôi cũng vừa bỏ ra nửa giờ hũu ích đề lên một kế hoạch chi tiết cho chuyến đi thăm thú các địa điểm tham quan trong thành phố với người dẫn đường của tôi, ông Mookerjee, một người dân sở tại ở thành phố này. Giờ xin cảm phiền ông…"
    "Chắn chắn rồi, thưa ngài. Này ông Carvallo!" ông ta ra hiệu cho một nhân viên thư ký đứng sau quầy tiếp tân. "Một phòng dành cho quý ông đây".
    Ông Carvallo - một thanh niên trẻ, dáng người phục phịch béo tốt, chắc chắn là con cháu người Bồ Đào Nha - cúi xuống bàn nhón lên một chiếc chìa khoá và dùng ngón tay cái nhấn lên cái chuông. Ngay lập tức, một người bản xứ mặc đồng phục nhân viên phục vụ hành lý nhanh nhảu bước lại gần. Anh ta được giao chìa khoá phòng cùng với một số hướng dẫn, rồi đi lấy số hành lý ít ỏi của ông Holmes từ phòng người quản lý ra và chuẩn bị leo lên cầu thang. Sherlock Holmes đã toan đi theo người khuân vác, nhưng lại quay về phía chỗ chúng tôi.
    "Nếu các ông đợi tôi trong phòng ăn, tôi sẽ không bắt các ông phải đợi lâu đâu. Tôi muốn lấy một chiếc khăn tay sạch để trong va li".
    Strickland và tôi đến phòng ăn, chọn một cái bàn nhỏ kê ở một góc phòng. Rõ ràng, bữa tiệc họp mặt của các cựu nam sinh (có các quý bà đi kèm) trường Đại học United Services chưa kết thúc, vì ở giữa phòng ăn còn kê nhiều bàn tiệc cùng những quý ông và quý bà mặc đồ đại lễ, họ cũng chính là những người lúc chạng vạng tối đã được một phen sợ mất mật khi chứng kiến cái chết thê thảm của người bạn xấu số của chúng ta. Khỏi cần phải nói thêm rằng bữa tiệc đã không có được không khí vui vẻ như người ta mong đợi. Trong lúc người phục vụ bàn mặc chế phục trắng tinh, đầu quấn khăn im lặng rót nước cho chúng tôi thì nhà đại thám tử linh lợi bước vào phòng, lặng lẽ cười theo cái kiểu lạ lùng của riêng ông trong khi ngồi xuống ghế và trải khăn ăn ra.
    Thật là một điều hết sức thú vị! Các ông có thể đoán là tôi được người ta bố trí ở phòng nào không?"
    "Chắc không phải là…" tôi kêu lên một cách kinh ngạc, nhưng tôi đã đoán đúng.
    "Chính xác, phòng số 289".
    "Trời đất quỷ thần ơi!" Strickland kêu lên, "chắc chắn là do tên quản lý giả dối, trơn tuột như lươn đó. Để tôi lôi cố hắn đến đồn cảnh sát và tôi sẽ buộc hắn phải mở miệng, cũng nhanh như việc treo cổ Jack Ketch lên vậy".
    "Hãy bình tĩnh lại nào, anh bạn Strickland," Sherlock Holmes nói, đưa tay ra với một cử chỉ tỏ vẻ khẩn khoản. "Tôi đảm bảo với anh rằng tôi đã lường trước được những bước đi này. Dù sao đi nũa, chúng ta cũng đâu có bằng chứng gì về sự đồng loã của tay quản lý trong vụ này. Vả lại, dù hung thủ là ai thì chúng ta cũng không được rút dây động rừng, làm cho hắn sợ hãi ở ngay đoạn đầu của cuộc chơi".
    "Nhưng còn tính mạng của ông, thưa ông! Chắc là ông không định ngủ ở đó tối nay chứ?"
    "Đó chính là ý định của tôi đấy. Sẽ không có chuyện gì xảy ra trong căn phòng đó vào đêm nay đâu, anh bạn thân mến. Tôi đạt cược cái thứ còn lớn hơn cái danh tiếng tội nghiệp của tôi vào đấy cơ. Còn bây giờ chúng ta đừng tự làm phiền mình thêm nữa với những câu hỏi hóc búa này. Ái chà, cái món xúp Solferino và gà nướng Moghul quá lứa này chính là những đồ ăn có tác dụng giải toả tâm lý tốt nhất. Tôi có nên gọi một chai Montrachet để uống mừng việc của tôi… Hừm, một chuyến đi xem ra có biết bao nhiêu là biến cố quan trọng đến bờ biển của Đế quốc Ấn Độ không nhỉ?"
    Chú thích:
    (1) Bhangi: người hầu phòng. người dọn dẹp (tiếng Hindu).
    (2) Namaste, sahib: Xin chào Ngài. (Sahib là từ chỉ một người đàn ông da trắng sống ở Ấn Độ, theo cách nói tôn trọng tiếng Hindu).
    (3) Churail: ma quỳ (tiếng Hindu).
    (4) Lai Beg theo tín ngưỡng của người Hindu là vị thần bảo trợ cho những người đi ở.
    (5) Sakht burra atsar: lãnh đạo cao cấp.
    (6) Hai mai: Trời đất ơi.
    (7) Nizamut: nhà giam, nhà đá.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  8. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Sherlock Holmes nhớ lại



    Chương 3
    Sherlock Holmes nhớ lại

    Trong lúc nhâm nhi tách cà phê, Sherlock Holmes kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về cú lừa ngoạn mục mà ông vừa thực hiện đối với cả thế giới.
    "Chắc các ông có nghe nói về giáo sư Moriarty," Sherlock Holmes nói, đẩy ghế ra xa bàn nước và đuổi đôi chân dài ra, chọn một tư thế thoải mái.
    "Tờ The Ttmes of India có đăng một bài về đế chế tội ác của hắn, cùng một lúc với bản cáo phó về cái chết của ngài(1)," tôi đánh bạo nói.
    "Chúng tôi nhận được thông tin từ London về giáo sư và băng đảng của hắn ta," Strickland lên tiếng. "Tôi cũng đã đọc một câu chuyện vô cùng sống động về toàn bộ vụ này trên tờ Strand Magazine".
    "Đó có thể chỉ là bản miêu tả của ông bạn bác sĩ Watson về những gì mà ông ấy nghĩ là đã xảy ra," Holmes nhận xét với vẻ mặt trầm ngâm trong khi nhồi thuốc vào tẩu. "Trong toàn bộ vụ này, điều mà tôi lấy làm tiếc nhất là nỗi hoảng sợ và lo lắng không cần thiết mà tôi đã gây ra cho người bạn của tôi. Nhưng tôi cho rằng mình không còn cách nào khác. Tiền đặt cược thì quá cao, mà thuộc hạ của Moriarty lại quá ghê gớm".
    "Phải, hắn thật sự là một thiên tài," Sherlock Holmes nói tiếp, bập bập tẩu thuốc. "Một bộ óc độc ác xấu xa nhất thế kỷ, ấy vậy mà không ai nghe thấy gì về hắn cả. Điều đó vượt ra ngoài sự hình dung thông thường. Không còn nghi ngờ gì nũa, các ông hẳn đã được đọc những chi tiết khủng khiếp trong sự nghiệp tội ác của hắn ta. Vậy mà trong thực tế, con người xấu xa này lại thuộc về những dòng họ lâu đời và đáng kính trọng nhất. Khi còn bé xíu, hắn thề hiện những tư chất của một thần đồng toán học mà một nền giáo dục ưu tú đã phát triển lên đến đỉnh cao phi thường. Năm hai mươi mốt tuổi, hắn đã viết cả một luận án về Đinh lý nhị thức và được tán dương trên toàn châu Âu. Nhờ thành tích này, hắn được phong chức giáo sư toán học tại một trong những trường đại học nhỏ của chúng tôi. Hắn cũng là tác giả trứ danh của cuốn Động lực học của một hành tinh nhỏ, một cuốn sách đạt đến đình cao hiếm thấy của toán học thuần tuý và người ta dồn rằng không có một nhà khoa học nào có khả năng phê bình nó.
    Nhưng thật đáng tiếc, mầm mống xấu xa tuôn chảy trong dòng máu của hắn trở nên trầm trọng hơn, nguy hiểm hơn, đáng sợ hơn gấp bội cũng bởi năng lực tư duy phi thường của hắn. Những lời đồn đại về những việc làm ghê tởm của hắn đã tạo ra một đám mây đen vây bua hắn trong thời gian giảng dạy đại học, cuối cùng hắn bị buộc phải từ chức và chuyển xuống London(2).
    "Trong suốt những năm qua, tôi chưa bao giờ nguôi nghi ngờ về một tổ chức tội ác rất có thế lực, hành sự hết sức độc ác và có mặt khắp nơi trong thế giới ngầm ở London. Những năm tháng ấy tôi đã nỗ lực hết sức để phá vỡ mưu đồ đen tối này và cuối cùng cơ hội đó cũng đã tới khi các nghiên cứu của tôi dẫn đến - sau hàng nghìn những lối ngoặt hết sức ngoắt ngoéo, bất ngờ - chính vị cựu giáo sư toán học danh nổi như cồn Moriarty của chúng ta. Hắn ta chính là kẻ tổ chức hầu hết các vụ tội ác ở nước Anh, trong đó đa số các vụ còn chưa được điều tra và rất có thể còn nhiều vụ chưa được biết đến. Gã giáo sư ngồi đó, kiên nhẫn và bất động như con nhện giữa cái mạng của nó, một mạng lưới có đến hàng nghìn sợi dây chằng chịt mà chỉ hắn có khả năng nhận biết rõ từng rung động dù là nhỏ nhất. Vô cùng khôn ngoan, hắn hiếm khi ra tay. Hắn chỉ ngồi lập chương trình cho các kế hoạch tội ác. Đám thuộc hạ của hắn thì đông vô kể và là một tổ chức có quy củ hiếm thấy. Phải, đó là một lãnh địa đen mà tôi đã khám phá ra được và thưa quý ông, cũng là cái mà tôi nguyện dành hết thời gian để bóc trần và huỷ diệt. Nhưng tên giáo sư quỷ quyệt kia đã dựng lên một hàng rào bảo vệ xung quanh, khéo léo và thông minh đến nỗi vào cuối tháng thứ ba, tôi buộc phải đi đến chỗ thừa nhận rằng mình đã gặp phải một đối thủ ngang tài ngang sức, nếu không muốn nói là còn nhỉnh hơn nữa. Nhưng tôi vẫn kiên trì điều tra cho đến một ngày kia, tên giáo sư xấu xa đó phạm phải một sai lầm. Chỉ là một sai lầm nhỏ, tôi công nhận như thế, một sự sơ suất tí ti; nhưng nó đã cho tôi một cơ hội. Bắt đầu từ cái điểm ấy, tôi bắt đầu giăng lưới xung quanh hắn ta".
    Không cần thiết phải viết hết ra đây toàn bộ câu chuyện mà chúng tôi nghe được, về cách thức thông minh tuyệt đỉnh mà Sherlock Holmes đã sử dụng đề cố lôi ra ánh sáng và gài bẫy tên giáo sư xảo quyệt cùng toàn bộ tổ chức của hắn và việc làm thế nào mà Scotland Yard, với sự cẩu thả và bất cẩn của nó, đã tạo một khe hở giúp giáo sư và một số tay chân thân tín nhất lọt khỏi cái lưới đã giăng rất kỹ của thám tử Sherlock Holmes tài danh. Không còn nghi ngờ gì nữa, độc giả đã được đọc về câu chuyện ly kỳ này trên tờ Strand Magazine, trong đó toàn bộ câu chuyện, bao gồm cả cuộc gặp gỡ tiền định giữa giáo sư Moriarty và Sherlock Holmes đã được kể lại với những cao trào đầy kịch tính; và cũng trong bài báo đó, như một cái tang lớn của cả Đế quốc Anh, người ta đã rút ra kết luận sai lầm chết người rằng vị thám tử vĩ đại đã bị chôn vùi trong dòng nước khủng khiếp của thác Reichenbach.
    Strickland và tôi lắng nghe như bị thôi miên khi Sherlock Holmes kể cho chúng tôi nghe về những giây phút đối đầu cuối cùng của ông với tên giáo sư độc ác.
    "Tôi đã ít nhiều nghi ngờ, thưa các quý ông," Sherlock Holmes tiếp tục sau khi hớp một ngụm rượu mạnh, "khi cái hình vóc đầy nham hiểm của tên cựu giáo sư lù lù hiện ra trước mặt, ở đoạn cuối con đường duy nhất chỉ đủ một người đi, dẫn đến nơi thoát hiểm, phải, tôi đã nghi ngại rằng có lẽ mình đã đi đến giới hạn tận cùng trong cái sự nghiệp có thể gọi là thành công của mình. Đôi mắt xám của hắn lóe lên một ý định quỷ quyệt đầy hận thù. Nhưng hắn ta đã chào đón tôi theo khuôn phép lịch sự. Giữa chúng tôi đã có một cuộc trao đổi thú vị nhưng ngắn gọn, trong đó hắn ta tiết lộ cho tôi biết mấy điểm cơ bản nhất trong những phương pháp mà hắn đã sử dụng khiến cho lực lượng cảnh sát chuốc lấy những thất bại ê chề. Đề đáp lại, tôi cũng hé cho hắn biết một vài chi tiết về việc làm thế nào tôi phát hiện ra tổ chức ngầm và những hoạt động được che đậy dưới nhiều vỏ bọc của hắn. Sau đó tôi được tên tội phạm lịch lãm cho phép viết một bức thư ngắn gửi cho bác si Watson mà tôi đã để lại cùng với hộp xì gà và cây gậy. Tôi đi dọc con đường mòn, Moriarty theo bén gót cho đến khi tới đoạn cuối cùng. Ngay trước mặt tôi là một thác nước, hàng nghìn khối nước hung hãn đố xuống một cái hồ kêu sùng sục như một vạc dầu sôi khủng khiếp với những vực xoáy tít mù và lớp bọt tung trắng xoá. Tôi quay đầu nhìn hắn. Moriarty không rút vũ khí, nhưng tôi có thể nhận thấy cái mặt nạ bình tĩnh bề ngoài của hắn từ từ bở ra từng mảng. Cái trán cao gồ hắn lên của hắn giật giật như một con vật sống. Đôi mắt hắn lóe lên tia nhìn của một lòng thù hận cực độ, là một điều mà tôi chưa từng chứng kiến trong đời. Đôi môi hắn mấp máy, vặn vẹo liên tục và không còn gì phải nghi ngờ nữa, hắn đang thốt ra những lời nguyền rủa tôi một cách độc địa nhất, một điều mà, may mắn thay, tôi không phải nghe nhờ có tiếng thác nước đổ ào ào sôi sục.
    Rồi, thật bất ngờ, hắn gầm lên một tiếng và cắm đầu lao thẳng vào tôi. Hành động và dáng vẻ của hắn giống hệt như một người điên và đúng là hắn có sức mạnh của một kẻ mất trí. Về mặt thể chất mà nói, tôi cũng khỏe mạnh chẳng kém gì hắn, nếu không muốn nói là còn có phần hơn, nhưng cơn cuồng nộ và điên loạn của tên giáo sư toán học thoạt đầu khiến tôi luống cuống, mất tự chủ. Những ngón tay tái dại của hắn bấu chặt quanh cổ họng tôi và với tất cả sức mạnh của kẻ loạn trí, hắn bắt đầu bóp cổ tôi với một diệu bộ đáng sợ nhất. Miệng hắn, méo xẹo di trong sự hận thù cùng cực, nhểu ra những giọt nước dãi trông như một con chó dại.
    "Chết đi, Holmes. Đồ khốn kiếp! Chết đi!” Cuối cùng, hắn hét lên, phun phì phì thứ nước bọt kinh tởm vào mặt tôi. Thân hình của cả hai chúng tôi xô vào nhau, cùng lảo đảo, nghiêng ngả ngay trước vực thẳm. Tuy nhiên, tôi có được học ít nhiều về môn đấu vật bujitsu(3) của Nhật Bản, một môn võ không ít lần đã cứu tôi thoát chết. Túm chặt cổ áo Moriarty rồi tấn một bàn chân vào bụng hắn, tôi dùng sức hất mạnh cả thân hình hắn ra sau vai(4).
    Với một tiếng thét kéo dài rợn gai ốc, hắn ta rơi xuống vách núi.
    Nhưng có lẽ khát vọng sống là một trong những mong muốn mạnh mẽ và dữ dội nhất của con người. Sau khi gượng đứng lên, phần nào vẫn còn run rẩy, tôi nhận ra tên giáo sư đang cố bám vào một cái gờ trên vách đá đã chặn được cú rơi của hắn. Lúc này hắn ta đang lung lẳng treo người trên cái vực thẳm tối om, sùng sục giận dữ phía dưới, những ngón tay hắn cào bới một cách tuyệt vọng để bám víu vào vách đá. Đôi mắt trợn trừng lên vì kinh hãi của hắn bắt gặp cái nhìn của tôi.
    "Làm ơn cứu tôi… cứu với…" hắn cất tiếng van xin.
    Trong tích tắc, cái cảm giác ghê tởm tự nhiên trong tôi đối với gã đàn ông khốn khổ này tan biến. Tôi bước lên trước một bước, không mảy may nghi ngờ về động cơ tráo trở thấp hèn đang ẩn giấu tận đáy lòng hắn, như một con rắn núp trong búi cỏ. Bàn tay phải của hắn vung lên cố chộp lấy chân tôi và thiếu chút nữa thì nắm chặt được nó. Nhưng hắn đã thất bại. Bàn tay kia, không chịu nổi sức nặng của cả cơ thể, đã để tuột khỏi điểm bấu víu cuối cùng. Sau một cố gắng ngắn ngủi toan bám lại vào vách đá, hắn rơi tuột xuống vực như một hòn đá nhỏ. Tôi đứng đấy, chứng kiến cảnh cả thân hình hắn buông rơi một quãng dài.
    Cuối cùng, người hắn đập vào một tảng đá, nảy lên rồi chìm nghỉm trong làn nước sủi bọt trắng xoá.
    Tôi đứng chôn chân bên mép vực, không sao nhúc nhích được trong vài phút. Có không ít kẻ căm ghét tôi, nhưng sự thù hằn sôi sùng sục như cái thác nước kia mà Moriarty bộc lộ ra cho tôi thấy thì tôi chưa từng được biết và lúc ấy, biết rõ hắn đã chết rồi mà hệ thống thần kinh bình thường vốn khá mạnh mẽ của tôi vẫn còn bị chấn động.
    Tôi chỉ vừa mới bắt đầu quay lại con đường mòn thì chợt hiểu ra rằng đây là một may mắn vô cùng hi hữu mà số mệnh đã đặt ra trên đường đời của tôi. Moriarty không phải là kẻ thù duy nhất. Còn ít nhất ba tên trợ thủ đắc lực của hắn đã trốn khỏi vòng vây của cảnh sát và chúng sẽ không để mất một giây tìm đến tôi báo thù. Chúng đều là những kẻ giết người không ghê tay và không từ một thủ đoạn nào, vì thế sẽ chỉ là tự lừa dối mình nếu cho rằng tôi có thể tránh được chúng mãi mãi. Đáng sợ nhất trong số này là phó tướng của Moriarty. Một kẻ mà trong đời không có một tội ác nào hắn chưa nhúng tay vào, nhưng với một bộ óc thông minh tuyệt đỉnh, cũng bí ẩn và vô danh với hầu hết mọi người như chính mồ ma ông chủ của hắn. Việc làm xấu xa của những tên kia được nhiều người biết đến hơn. Có thể các ông còn nhớ vụ L oiseau, một tên diễn viên nhào lộn ở thác Niagara nổi tiếng, kẻ đã ám sát thủ tướng Hy Lạp ngay tại giường ngủ của ông ta và thoát khỏi nhà tù của cảnh sát mà không đề lại phía sau một dấu vết gì. Tên còn lại là Luff, với biệt danh "quả bom điên" là một nhân vật với những kỳ tích về chất nổ đã làm tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực của giới báo chí cách đây ít năm. Các ông thấy đấy, Moriarty tin vào các nguyên tắc kinh doanh của người Mỹ trong việc dãi ngộ những kẻ đạt đến tuyệt chiêu trong ngón nghề hẹp của mình. Dĩ nhiên, những kẻ này đều là những nhân vật xuất sắc nhất. Một trong ba tên kể trên, không đứa này thì đứa khác, sớm muộn gì cũng sẽ tìm đến tôi.
    Tất cả những điều này dẫn đến một tiền đề, nếu cả thế giới này bị thuyết phục rằng tôi đã chết thì chúng có thể sẽ mất cảnh giác, sẽ khinh nhờn mà hoạt động công khai, thế thì chẳng chóng thì chầy tôi sẽ cho chúng vào bẫy.
    Vì vậy mà tôi cố náu mình thật kỹ sau một vách đá cao trong khi nhóm cứu nạn, do bác sĩ Watson tổ chức, đến hiện trường.
    Cuối cùng, sau khi họ đã tiến hành xong tất cả các thủ tục điều tra và đi đến một kết luận hoàn toàn sai lầm, họ rút khỏi, chỉ còn lại một mình tôi.
    Bất thình lình, một tảng đá khống lồ rơi từ trên cao xuống, sượt qua người tôi và lao xuống vực thẳm. Trong tích tắc đầu tiên, tôi nghĩ rằng đó thuần tuý là một tai nạn, nhưng khi ngước lên nhìn theo hướng rơi của tảng đá, tôi thấy đầu một gã đàn ông in trên nền trời tôi tối. Một tảng đá khác rơi trúng vào cái gờ mà tôi đang nằm nép vào, cách đầu tôi khoảng ba mươi xăngtimét.
    Tất nhiên, ý nghĩa của những việc này rõ như ban ngày. Moriarty không chỉ đến đây một mình. Hắn có trợ thủ, và chỉ cần nhìn thoáng qua tôi đã đánh giá được mức độ cực kỳ nguy hiểm của kẻ đồng mưu giấu mặt này. Chính hắn đã canh chừng khi tên giáo sư toán học tấn công tôi. Giấu mình từ một khoảng cách mà tôi không thể nhìn thấy được, hắn đã chứng kiến cái chết của thủ lĩnh và việc tôi chủ tâm trốn tránh đội cứu nạn. Hắn kiên nhẫn chờ đợi và sau đó, vòng lên đỉnh núi đá, cố gắng thực hiện nốt cái việc mà ông chủ của hắn đã thất bại.
    Tôi không mất nhiều thời gian để đi đến một quyết định, thưa quý ông. Tôi tìm cách bò xuống con đường độc đạo, có lúc tưởng chừng như đã ngã xuống vực thẳm, khi một tảng đá khác rơi sượt qua tôi. Đi xuống được nửa dường, tôi lại bị trượt chân, nhưng nhờ Chúa phù hộ mà tôi bám lại được vào vách núi cheo leo, nhưng toàn thân thì bầm dập và chảy máu suốt đoạn dường đó.
    Tôi cố thoát khỏi cái nơi khủng khiếp ấy và không hiểu sức mạnh ở đâu ra mà cũng đi hết mười dặm dường chỉ toàn dốc núi trong đêm tối. Cuối cùng, tôi cũng tìm đến được một trong những túp lều của những người chăn cừu mà các ông có thể gặp trên dãy Alps. Một căn lều trống hoác, chỉ có một thanh gỗ ngắn dùng đề chặn cái cửa gỗ chắc chắn. Tôi ngã lăn ra sàn, dò dẫm trong bóng tối như bưng, cuối cùng cũng tìm được một chiếc đèn lồng bằng thiếc méo mó. Dưới cái ánh sáng vui tươi của nó, có lẽ tôi đã tìm được cho mình một mái nhà. Vật dụng trong lều cổ phần thô sơ, chỉ ở mức phục vụ cho những nhu cầu tối thiểu nhưng còn dồi dào chán so với yêu cầu ít ỏi của tôi, thật ra còn được còn là xa hoa nếu căn cứ vào tình huống gay go của một kẻ vừa thoát khỏi cái chết trong gang tấc. Tôi rửa ráy, tự băng bó những vết thương; thật cám ơn ông Trời vì đó chỉ là những vết thương ở phần mềm.
    Sáng hôm sau, tôi lại một mình sải bước trên những đồng cỏ của dãy Alps với một tâm trạng lâng lâng nhẹ nhõm. Mặc đù không một phút lơ là cảnh giác, nhưng tôi đã gạt sang một bên hầu hết những suy nghĩ về Moriarty và băng đảng của hắn.
    Dù sao mặt trời cũng chẳng mọc lên rực rỡ, những đỉnh núi kia chẳng khoác một chiếc áo choàng trắng muốt tinh khôi như buổi khai thiên lập địa và những khu rừng anh đào cổ xưa tồn tại từ thời cha ông tôi chẳng tạo thành một bức tranh tuyệt đẹp đó sao? Vậy thì việc gì phải băn khoăn về một tên giết người đáng ghê tởm đã chết. Chiều tối hôm đó tôi đến thị trấn Hospenthal. Với sự giúp đỡ của một người dẫn đường, tôi đã vượt qua đèo St. Gotthard ngập sâu trong tuyết và cứ tiếp tục hướng về phía Nam đến thị trấn biên giới ở Como. Mười ngày sau, tôi đến được Florence, thành phố của Dante - người có nhận xét chí lý cách đây vài thế kỷ, "Nel mezzo del cammin di nostra vita" (5) có thể dùng để miêu tả tình trạng hiện tại của tôi.
    Tôi đánh đi một bức điện cho một người thân ở London đã lâu năm, hỏi mượn tiền(6). Ông là người bạn duy nhất mà tôi có thể tin tưởng và trông cậy, ông cũng chính là người đã đánh điện cho Đại tá Creighton đề nghị giúp đỡ tôi trong lúc tôi ở đây, tại Ấn Độ này. Như các ông thấy đấy, ít lâu sau mọi việc trở nên rõ như han ngày, rằng tôi có thể yêu cầu được trợ giúp một cách tích cực, nhất là khi tôi đến những vùng đất xa lạ, trong trường hợp những kẻ báo thù cho Moriarty không thể mò đến được. Bốn âm mưu khác nhau đã được thực hiện nhằm lấy mạng tôi: vụ gần đây nhất xảy ra ngay trước Khách sạn Gezirah Palace ở thủ đô Cai-ro, nơi tôi bị tấn công bởi hai tên hắc y sử dụng điều luyện những thanh mã tấu ngoại cỡ. May mắn sao, tôi đã lường trước bằng cách mua một khẩu súng rất nhạy và một trăm viên đạn Boxer, vì vậy mà lợi thế nghiêng hẳn về phía tôi.
    Còn bây giờ đến vụ giết người quái đản này, và nếu các giả thuyết của tôi là đúng, thì đây sẽ là vụ cuối cùng và đáng quan tâm nhất trong đời tôi. Nhưng sức cám dỗ của việc đưa ra những giả thuyết vội vã dựa trên những cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ chính là tai hoạ tiềm tàng trong nghề của chúng ta. Không nên vội đưa ra một kết luận trước khi kết quả xét nghiệm tử thi được công bố. Tôi hy vọng rằng anh, Strickland ạ, là người sẽ ráp cái mảnh ghép cuối cùng của trò chơi ghép hình này vào ngày mai. Còn bây giờ thì xin chúc các vị ngủ ngon".
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  9. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Sherlock Holmes nhớ lại (2)



    Trên chiếc xe ngựa lóc cóc chạy dọc theo những con phố tối tăm của Bombay trên đường về nhà trọ, tôi cố gắng sắp xếp lại trong đầu những sự kiện xảy ra trong ngày. Người đàn ông tội nghiệp đó đã bị giết như thế nào? Lý do gì khiến tất cả lượng máu trong người đều chảy ra hết? Giữa người quản lý khách sạn, tên Moriarty và cái gã có khuôn mặt chồn sương ấy có mối liên hệ với nhau như thế nào? Nhưng vấn đề này vượt quá khả năng giải quyết cửa tôi. Tôi biết rằng mình phải đợi cho tới ngày mai để có được câu trả lời.
    Đêm hôm đó, tôi có những giấc mơ thật hãi hùng.

    Chú thích:
    (1) Gần như chắc chắn bản thông diệp của Reuter đã xuất hiện trên tất cả báo chí Anh vào ngày 7-5-1881, đã được bác sĩ Watson nhắc tới trong truyện Bí mật trong ngôi nhà trống.
    (2) Một bản tiểu sử ngắn gọn về giáo sư Moriarty gần giống như thế nàyđã được Holmes cung cấp cho bác sĩ Watson trong Điệp vụ cuối cùng Thung lũng khủng khiếp.
    (3) Một trong những sai lầm nhỏ ít được hoan nghênh của bác sĩ Watson, với tư cách là nhà báo, đã thể hiện rõ ở đây. Trong Bí mật trong ngôi nhà trống, Watson viết rằng Shertock Holmes đánh bại Moriarty là nhờ hiểu biết về "… boritsu hoặc môn đấu vật Nhật Bân…" Trong thực tế, từ boritsu không hề tồn tại trong ngôn ngữ Nhật Bản. Thuật ngữ thật sự đã được Holmes sử dụng và Hurree sửa lại cho chính xác là bujitsu, từ thông dụng của Nhật Bản để nói về một môn võ thuật trong hệ thống dấu vật Nhật Bản (Jujitsu) Cùng với những nội dung khác như đấu kiếm, bắn cung v.v… Học giả trứ danh người Nhật, Bá tước Makino, cũng đã đưa ra lời giải thích tương tự về lỗi viết của Watson trong một bài đọc tại cuộc gặp mặt những người sáng lập Hội Baritsu của Baker Street Irregulars tại Tokyo vào ngày 12 tháng Mười năm 1948. (Xin tham khảo Foreign Devil. Thirty Years of reporting in the Far East, Richard Hughes, Andre Deutsch, Anh Quốc, 1972).
    (4) Rất giống thế ném "hy sinh" trong Judo có tên là Tomoe-nage.
    (5) "Đến nửa đường đời": câu mở đầu phần 1 "Địa ngục" (Interno) của Dante Alighieri (1265-1321).
    (6) Người này là anh trai của Sherlock Holmes, tên là Mycroft, như Sherlock Holmes giới thiệu thiệu với bác sĩ Watson sau này, lúc ông đã quay lại London (Xem Bí mật trong ngôi nhà trống). Trước đó, Holmes cũng đã kể cho bác sĩ Watson nghe, mác dù hơi quanh co, úp mở rằng Mycroft thật ra là người lãnh đạo Cơ quan tình báo Anh. Trong Người phiên dịch Hy Lạp, Holmes cho biết Mycroft làm chủ "một số văn phòng nhỏ dưới quyền Chính phủ Anh", mặc dù trên thực tế ông là một người "giả sử nếu đất nước cần một ai đó không thể thiếu được thì đó chính là ông ấy". Trong Những kế hoạch của Bruce Partington, Sherlock Holmes tiết lộ nhiều hơn với Watson rằng. vị trí độc nhất vô nhị của Mycroft trong chính phủ là ở "trung tâm trao đổi dữ liệu đáng tin cậy" và nhiều lần lời nói của anh ấy đã quyết định đến chính sách quốc gia".
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  10. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Quần thể thực vật và động vật



    Chương 4
    Quần thể thực vật và động vật

    Mặc dù trải qua một đêm chập chờn đầy mộng mị và thao thức không yên, tôi vẫn có mặt ở khách sạn vào tờ mờ sáng hỏm sau. Một lần nữa tôi lại trở thành mục tiêu cho cái nhìn thù địch của viên gác cửa người Sikh, nhưng tôi tìm cách tránh mặt người quản lý cũng như viên thư ký trong tiền sanh và nhanh chóng đến phòng Sherlock Holmes.
    "Mời vào, mời vào," một giọng nói lanh lảnh kêu lên khi tôi gõ cửa phòng số 289.
    Trong phòng mù mịt khói thuốc, nhưng một tấm sáo duy nhất hé mở cho phép một chút ánh nắng ban mai rọi vào phòng.
    Sherlock Holmes đang ngồi vắt chân theo kiểu một rajah(1) xứ Ấn Độ trên một kiểu trường kỷ Đông phương mà ông tự tạo ra trên sàn bằng mấy cái gối lấy từ trên giường cùng với các tấm đệm lót lưng ở sofa và ghế bành. Ấn tượng về nét lộng lẫy phương Đông được tăng thêm bởi bộ áo choàng màu đỏ tía rực rỡ, màu của hoàng tộc mà ông khoác trên người cùng cái tẩu thuốc sang trọng trước mặt, một loại tẩu có lớp da bóng mướt như lụa quý với cái tay cầm hết sức tao nhã tạc bằng hổ phách mà ông kẹp một cách trầm ngâm giữa các ngón tay dài, mảnh. Đôi mắt phiêu du của ông lơ đãng nhìn lên một góc trần nhà. Làn khói xanh lững lờ bốc lên từ nõ điếu, trong lúc ông ngồi, dáng trầm tư, bất động thì một tia nắng ban mai chiếu sáng những dường nét mạnh mẽ như chim ưng trên khuôn mặt ông.
    "Chào buổi sáng, thưa tôn ông Sherlock Holmes. Tôi nhận thấy hôm nay ông ủng hộ cho các nhà sản xuất tẩu thuốc nội địa".
    "Nó có nhiều ưu điểm," ông uể oải trả lời, "nhất là vào những khoảnh khắc tĩnh tại như thế này. Cũng lại là một phát hiện gần đây nhất của tôi, rằng cái mùi thơm dìu dịu của thuốc lá nội địa đặc hiện có lợi cho việc duy trì trạng thái thiền định kéo dài".
    Ông rít một hơi thuốc dài vẫn với vẻ trầm tư mặc tương như thế. Khói thuốc dậy lên nồng nồng thơm thơm quyện trong mùi nước hoa hồng.
    "Ngài không ngu được ư, thưa ngài?" tôi lo lắng hỏi.
    "Không, không. Tôi cứ lật đi lật lại một vấn đề nhỏ của chúng ta cho tới khi có thể tường tận về nó, cùng với một vài điểm khác. Ông có thể nói cho tôi biết…" ông đột ngột chuyển một đề tài khác, "ý nghĩa của cuộc đời, của vòng xoay vô tận của đau khổ, nỗi sợ hãi và bạo lực là gì không?"(2)
    "Ồ thưa ngài," tôi nói, có phần bối rối trong việc chọn từ. "Tôi chỉ xin ngài thứ lỗi cho cách diễn đạt này, một nhà khoa học và như vậy sẽ không có đủ hiểu biết để phát biểu ý kiến về… những vấn đề tâm linh như vậy. Nhưng theo một Lạt Ma người Tây Tạng mà tôi đã có vinh hạnh được trao đổi với mục đích dân tộc học thuần tuý, xung quanh những vấn đề tín ngưỡng và lễ nghi của Phật giáo Đại thừa thì có quan điểm nêu lên rằng đời là bể khổ. Quả thật, đó là điều quan yếu nhất chi phối cách nghĩ của ông ta".
    "Một người khôn ngoan," Holmes lẩm bẩm, "thật là một người thông tuệ". Ông im lặng một lúc, đôi mắt đăm đăm nhìn vào khoảng không với một vẻ vừa lơ đãng vừa mãnh liệt, trông rất lạ lùng. Trong khoảnh khắc ấy, dường như đối với tôi, bên dưới cái vẻ ngoài điềm tĩnh, lý trí và trịch thượng kia là một tâm hồn khác mãnh liệt, gần gũi, luôn thao thức trước cuộc đời - tuyệt đối không phải là của người phương Tây thuần tuý - mà chỉ có thể bắt gặp ở phương Đông trong một "hành giả" thật sự. Sau đó, với một nỗ lực của sự bừng tỉnh, ông thoát ra khỏi trạng thái mơ màng kỳ lạ của mình và trở lại với những vấn đề của đời thường.
    "Ông đã ăn sáng chưa?" ông hỏi. Tôi nhìn thấy một khay điểm tâm đã dùng rồi được đẩy qua một bên. "Một tách cà phê nhé? Không ư? Tốt lắm, vậy thì nếu không quá sớm, phiền ông hãy đi cùng tôi đến Hội Lịch sử Tự nhiên Bombay mà ông đã nhắc tới tối qua".
    "Ông Symington thư ký tại toà nhà đó dậy rất sớm, thưa ngài. Ông ấy tiến hành nghiên cứu ở đó khi trời dịu mát, thường là vào các buổi sáng sớm".
    "Tốt quá. Thế thì chúng ta không nên lãng phí thời gian nữa".
    Ông cẩn thận cuộn cái tẩu lại, cởi áo choàng phương Đông ra, khoác lên người chiếc áo Jacket bằng vải lanh xám mà ông đã mặc hôm trước. Không như hầu hết những người châu Âu khác ở Ấn Độ, ông không dội mũ bấc hay mũ cát, mà đội một chiếc mũ lưỡi trai nhẹ, loại mà tôi nghĩ được gọi là mũ săn.
    Chúng tôi nhanh chóng xuống cầu thang. Trước khi rời khỏi khách sạn, Sherlock Holmes đến quầy tiếp tân và ông viết tháu một lời nhắn, rồi bỏ vào bao thư và trao cho một trong những người tiếp tân đứng sau quầy. Tôi đoán là nó được gửi cho Strickland. Sau đó, Sherlock Holmes và tôi rời khỏi khách sạn, trong một chiếc xe ngựa.
    Không khí se lạnh buổi ban mai thoang thoảng mùi i-ốt tràn vào trong xe giữa lúc nó bon bon chạy xuống con đường song song với bãi biển, nơi các cậu bé gần như trần như nhộng đang rao bán dừa nước với lớp vỏ còn tươi nguyên. Gần đó có hai sadhu(3) toàn thân phủ đầy tro đang thực hiện nghi thức thờ phụng mặt trời trên biển. Không khí không còn được thanh bình như thế khi xe chạy đến chợ trời Borah, nơi các chủ tiệm, những người bán dạo, người đánh xe ngựa, các tay cu li và đủ loại khách bộ hành đang ồn ào và hối hả bắt đầu một ngày mới. Cuối cùng chúng tôi cũng đến toả nhà xây bằng gạch của Hội Lịch sử Tự nhiên Bombay.
    Chúng tôi đứng chờ trong đại sảnh lớn trong lúc một chaprasi(4) đi tìm ông Symington. Toàn bộ không gian nơi đây được lấp đầy bởi vô số các mẫu vật phong phú về chim và động vật lâu đời bên trong các tủ kính có dán nhãn. Ít phút sau, chaprasi kia quay trở lại.
    "Sahib đang đợi các ông. Xin vui lòng theo lối này".
    Cẩn thận lách người qua những mẫu vật cá sấu và các loài vật có móng guốc khác đặt trên tấm thảm trải sàn, chúng tôi theo anh ta qua một hành lang, tới một căn phòng dài với vô số chai lọ hoá chất khác nhau được sắp thành dãy hoặc để bừa bãi trên bàn. Những cái bàn rộng và thấp chất đầy những chiếc bình cố cong, ống nghiệm và nhiều đèn Bunsen nhỏ với những ngọn lửa riu riu, xanh biếc lung linh. Trong phòng nồng nặc mùi khí focmandehyt át tất cả các mùi khác. Tuy vậy, nó dường như không làm phiền Symington, người đang ngồi phía sau một cái bàn bằng đá cẩm thạch rất dài, dùng một cái kẹp đề phân loại thứ gì đó mà theo tôi thì trông rất giống với một loại bèo tấm dơ bẩn. Đó là một người đàn ông nhỏ bé, dáng vẻ hơi luộm thuộm với cái đầu hói bóng loáng chỉ còn vài chòm tóc lơ thơ ở hai bên thái dương và sau gáy. Ngẩng mặt lên một chút, ông nhìn khách một cách săm soi qua cặp kính dày với cặp mắt đùng đục có những bọng mỡ nhỏ quanh mắt.
    "Xin chào, có phải ông Mookerjee đó không?"
    "Phải, chào ông Symington. Ông khỏe chứ?"
    "Khỏe, đúng như ta mong muốn. Tốt quá, tôi chưa bao giờ có được cơ hội cám ơn ông vì mẫu vật Primula glacialis(5). Nó là niềm tự hào thực sự của tôi, ông ạ. Thậm chí cả đến Hooker(6) cũng chưa bao giờ có được cái thứ ấy".
    "Phải, thưa ngài, loài hoa đó chỉ phát triển ở độ cao trên sáu nghìn mét. Con người khó mà thích ứng được khi ở trên một độ cao như thế".
    "Vậy thì làm thế nào mà ông lên được tới tận đó hả đồ quỳ già," ông ta cười khùng khục trong cổ, đẩy cặp kính luôn có xu hướng trễ xuống dưới tinh mũi lên. "Nào, người bạn đi cùng ông tôi đây là ai thế?"
    "À, ông Sigerson đây đến từ Na Uy, thưa ngài. Ông ấy là một… một… nhà thám hiểm".
    "Một nhà thám hiểm ư? Thật thú vị. Rất vui được gặp ngài, thưa ngài. Tôi có thể giúp gì cho ngài đây?"
    "Nếu không quá phiền phức cho ông," Sherlock Holmes đáp vắn tắt, "tôi muốn tham khảo bất cứ tài liệu nào mà ông có trong tay về Hirudenia"
    "Htrudenia ư? Vậy thì ngài gõ đúng cửa rồi đấy. Chúng tôi có tất cả những văn bản chính thống về đề tài này, bao gồm cả một số báo cáo quan trọng và rất đặc biệt mà tôi có thể mạnh miệng nói rằng ông không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào tại châu Âu ít nhất là cho đến thời điểm này. Xin vui lòng theo tôi".
    Ông đi trước, dẫn chúng tôi vào một căn phòng hẹp kê những tủ sách cao, màu gỗ gụ được sắp thành hàng ở tất cả các phía. Ông mở một trong những cánh cửa kính và chăm chú nhìn ngó hồi lâu vào các bộ sưu tập sách bên trong.
    "Tôi có thể phiền ông lấy giùm cái thang đó không?" ông ta xoay lại, chỉ vào một chiếc thang gấp thấp để gần đó. Tôi mang thang lại cho ông ta.
    "Cám ơn". Ông leo lên ba bậc thang đầu tiên và săm soi kỹ lưỡng một hàng sách trên nóc kệ, lầm rầm đọc tên các tác giả mà tôi cho rằng tất cả đều là các chuyên gia về "Hirudenia", bất kể họ viết gì đi nữa.
    "Fowler… Merridew… Konrad… Hackett, hừm… Hacketl. Đừng nghĩ rằng ông ta có ích cho ngài; người này chỉ nói về về động vật không xương sống nói chung. Konrad và Merridew đặc biệt giỏi về Hirudeniađất nước này". Ông rút ra hai cuốn sách mỏng, thổi bụi khỏi bề mặt rồi trao cho Holmes. "Hy vọng ngài tìm thấy những gì mình cần ở đây, bắn thân tôi không quan tâm tới chúng lắm. Tôi chỉ thuần tuý là một nhà thực vật học thôi. Còn những con quỷ khát máu này đã giết một nửa vật thồ của tôi trong một lần thám hiểm. Vâng, tôi sẽ để ngài lại một mình để nghiên cứu".
    Holmes ngồi ngay trên cái thang gấp bắt đầu đọc. Ông lật từng trang trong cuốn sách đầu tiên một cách thiếu kiên nhẫn, khi lật đến cuối sách thì đặt nó qua một bên với một tiếng khịt mũi ghê tởm. Hẳn ông phải tìm thấy những điều cần thiết trong cuốn sách thứ hai vì tiếng sột soạt của những trang sách ngừng lại và ông kêu lên một tiếng nho nhỏ đầy vẻ đắc thắng.
    "Ha! Ha! Thật tuyệt diệu!" ông cười, vẫn với cái vẻ lặng lẽ rất riêng của mình một cách thoả mãn, đọc trang đó hết sức cẩn thận, ngón tay bồn chồn vạch theo từng câu một. Thỉnh thoảng, ông ngừng lại hí hoáy viết cái gì đó lên cổ tay. Một lúc sau, ông quay về phía tôi, lắc lắc đầu làm bộ đang đau khổ ghê gớm. "Ôi trời! Một thế giới xấu xa; chà, khi một người thông minh dành tất cả trí tuệ mình vào việc trả thù thì đó là điều tồi tệ nhất trong tất cả những điều tồi tệ. Bây giờ, tôi nghĩ mình đâu có đủ thông tin…"
    "Sherlock Holmes! Ngài đã giải quyết…"
    "Đúng là như vậy, ông Mookerjee ạ. Chả là tôi đã đi đến cùng một kết luận như tối hôm qua, tất nhiên một phần là nhờ sự giúp đỡ của vài gam thứ thuốc lá nội địa. Cái này…" ông nói tiếp vừa nói, vừa gấp cuốn sách lại bằng một ngón tay cái, "… chỉ là để củng cố những kết luận của tôi mà thôi".
    "Nhưng tôi không hiểu làm thế nào mà…"
    "Hãy kiên nhẫn một chút," ông trả lời. "Tất cả sẽ được tiết lộ vào đúng thời điểm, tôi xin đảm bảo với ông đấy. Quả là, tôi có cách làm việc hơi khác người và ông cũng phải tha thứ cho tôi thôi. Còn bây giờ cần phải nghĩ đến những trò giải khuây một chút. Tôi muốn tận dụng cái cơ hội mà ông đã đề nghị trong cuộc gặp đầu tiên của chúng ta ở bến tàu, phải, tôi muốn được ông hướng dẫn đi thăm thú phong cảnh xứ này".
    Chúng tôi rời khỏi thư viện và đi đến phòng thí nghiệm để chào tạm biệt ông Symington. Nhà thực vật học già bắt tay Holmes và, với một cố gắng không lấy gì làm tế nhị lắm, cố moi thông tin về những khao sát chuyên sâu từ Sherlock Holmes, người mà ông nghĩ là một nhà thám hiểm.
    "Tốt lắm, ông Sigerson, tôi chúc ông thật may mắn trong những cuộc chinh phục mạo hiểm của mình. Ông Mookerjee đây đúng là thổ công và có thể hướng dẫn ông an toàn đến… À mà ông đã nói là ông định theo đuối những khao sát khoa học của mình ở đâu ấy nhỉ?"
    "Tôi còn chưa nói ra mà," Holmes trả lời, nghe như có âm điệu vui sướng trong giọng nói. "Nhưng sự hợp tác của ông quả là vô giá, vì vậy sẽ là không công bằng nếu như tôi không nói ra. Với tất cả lòng tin tưởng, tôi muốn nói cho ông biết rằng dự định của tôi là đến Tây Tạng và thăm thành phố huyền thoại Lhassa".
    Như tôi thầm lo ngại, trên mặt Symington xuất hiện một vẻ tham lam và ông lập tức kể ra một danh sách dài những mẫu vật cây cỏ trên cao nguyên Tây Tạng mà chúng tôi dù thế nào đi nữa cũng phải thu thập cho ông ta.
    "Ông nhớ kỹ nhé, tôi muốn mẫu cây anh túc xanh và steleria decumbens, rễ và tất cả… và đừng ngại ngần với các loại cây có gai… Gentiana depressa hẳn phải ở trong hệ cây lùn đa dạng khác"
    Vừa đưa ra vài câu trả lời nước đôi, vừa tìm cách đi giật lùi, cuối cùng tôi cố gắng giải thoát bản thân và Sherlock Holmes khỏi sự đeo bám của Symington, thậm chí tôi dám đánh cuộc là ông ta sẽ lẵng nhẵng bám theo chúng tôi xuống tận đường với bản danh sách cây cỏ dài vô tận nếu chúng tôi không may mắn đón được một chiếc xe ngựa ngay tại cổng toà nhà. Chúng tôi vội vã nhảy lên xe và lập tức rời khỏi đó.
    Sherlock Holmes tựa lưng vào chiếc ghế bọc da bị rạn, mủm mỉm cười.
    "Từ gốc của từ "nhiệt tình" có thể truy nguyên từ tính từ enthousia của Hy Lạp, có nghĩa là bị ám ảnh bởi một vị thần hay ma quỷ. Nhưng đến nay tôi vẫn chưa bao giờ nghĩ đến việc làm thế nào mà từ nguyên của nó vẫn còn giữ lại nguyên cái nghĩa ban đầu".
    "Tôi e là mình đã đặt ông vào một hoàn cảnh khó xử, ông Sherlock Holmes ạ," tôi nói với giọng có lỗi, "với việc tuyên bố rằng ông là nhà thám hiểm".
    "Vô lý Hurree. Lời giải thích của ông, mặc dù bộc phát, hoàn toàn có thể đoán trước được. Sau khi kết thúc vụ này, tôi dự định sẽ thực hiện một cuộc thám hiểm và đóng góp một phần bé nhỏ của mình vào việc giúp đỡ những người ở biên giới".
    "Nhưng sao lại là Tây Tạng chứ, ông Holmes?"
    "Điều đó không rõ ràng sao? Đó là một trong những nơi bí ẩn cuối cùng trên trái đất, nơi thách thức hầu hết các nhà phiêu lưu mạo hiểm trong việc mở những cánh cửa đang đóng chặt của nó".
    "Ông sẽ không bao giờ đến được đó đâu," tôi thầm nghĩ.
    Sherlock Holmes ạ, ông có thể là vị thám tử vĩ đại nhất trên thế giới, nhưng giới lãnh đạo ở Tây Tạng đâu có thiện cảm gì với người ngoại quốc, đặc biệt là người châu Âu. Thậm chí chưa từng có người nào được phép đến gần Linh Thành mà không có chiếu khán của chính quyền, mà nó thì chưa từng được cấp cho một người da trắng nào cả. Cả đến bản thân tôi cũng chỉ đi được nửa đường đến Lhassa mà đã bị nhà cầm quyền phát hiện ra danh tính và thiếu chút nữa thì đến cái đầu chết tiệt này tôi cũng còn không giữ nổi nũa là".
    "Trước đây," Sherlock Holmes nói tiếp, "tôi đã từng bị lôi cuốn vào những nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề có sẵn trong thiên nhiên hơn là những vấn đề hời hợt, do tình trạng tồn tại nhân tạo của chúng ta tạo ra. Một trong những vấn đề căn bản này là ý nghĩa cuộc sống của chúng ta. Chính hy vọng có thể tìm được câu trả lời cho những vấn đề này đã khiến tôi muốn cất công đến Tây Tạng một phen. Dù đúng hay sai, thì nơi đây cũng được xem là sợi dây liên lạc sống cuối cùng nối kết chúng ta với những nền văn minh xa xưa, nơi chứa đựng kho tàng kiến thức về những năng lực còn giấu kín của tâm linh con người". Ông đốt tẩu thuốc và rít một hơi với dáng điệu trầm tư. "Không có địa hạt nào cần đến phép diễn dịch nhiều hơn như trong tôn giáo cả. Nó có thể được xây dựng như một ngành khoa học chính xác bởi các nhà lý luận"(7).
    Chiếc xe lăn bánh xuống dường Hornby đến Đền Mumba Devi và tôi thực hiện trách nhiệm của một hướng dẫn viên du lịch trong việc giải thích rõ cho Sherlock Holmes hệ thống thờ cúng nữ thần Mumba (một hiện thân của Parvati, vợ của Shiva) trong cái thành phố mang tên bà. Sherlock Holmes, cũng giống như Strickland (bởi vậy không giống phần lớn những người Anh khác) là một người biết lắng nghe; sự quan tâm của ông là chân thật và rất khoa học. Chắc bạn hiểu rõ, thật là một niềm vui lớn cho tôi khi có dịp giải thích cho vị khách đặc biệt này những thông tin có liên quan đến những thắng cảnh trong thành phố, đồng thời không quên chua thêm vào bài thuyết trình đầy cảm hứng của mình những giai thoại thú vị và đúng chỗ. Chẳng hạn, không phải ai cũng biết được, thậm chí cả những công dân ở thủ phủ xình đẹp này, rằng con người đã xuất hiện ở khu vực này từ thời kỳ Đồ đá. Mới gần đây thôi, các đồ dùng bằng đá thuộc thời kỳ Đồ đá cũ đã được phát hiện ở Kandixxi thuộc Greater Bombay bởi một nhà khoa học quen biết với tôi, ông Cunningham thuộc Hiệp hội Hoàng gia châu Á.
    Phía Bắc của Greater Bombay là những hang động của người Kanheri (đã biến thành một điểm du lịch rất thu hút khách) cũng là nơi toạ lạc của một trường đại học Phật giáo thuộc loại cổ xưa nhất. Hơn một trăm hang động đã được phát hiện với một lượng lớn các tác phẩm điều khắc khổng lồ về Phật giáo.
    Người Bồ Đào Nha chinh phục các đảo vào năm 1534 đã đưa những tác phẩm này về Anh vào năm 1661 như một phần trong số của hồi môn của công chúa Catherine xứ Braganza - em gái của đức vua Bồ Đào Nha - khi bà kết hôn với vua Charles đệ nhị.
    Từ đó về sau, dưới sự che chở của Tổng trấn Ấn Độ, Tổng quản của Nữ hoàng Anh, Bombay đã phát triền vượt bậc, trở thành một thành phố lớn của mọi lớp người cả về phương diện công nghiệp, xây dựng, giáo dục, vân vân và không nghi ngờ gì nữa, chính là đô thị lớn nhất của Đế chế, tất nhiên chỉ xếp sau London, nơi tôi chưa có vinh hạnh đặt chân đến.
    Holmes và tôi đã trải qua một ngày vui vẻ thú vị trong khi đi du ngoạn khắp thành phố và chỉ đến cuối giờ chiều, sau khi đã xem xét một cách thích thú các hiện vật tại Bảo tàng Victoria và Alhert, Sherlock Holmes mới quay lại vụ án giết người một lần nữa.
    "À tôi nghĩ hôm nay chúng ta thư giãn thế là đủ rồi đấy," ông nói khi ngồi lên chiếc xe ngựa đậu ngoài cổng viện bảo tàng. "Vào giờ này, chắc Strickland đã chuẩn bị sẵn sàng giải pháp cuối cùng cho vấn đề của chúng ta. Xin vui lòng bảo người đánh xe đi thẳng về khách sạn".
    Ông Holmes thả một đồng tiền vào tay một dứa bé xin bố thí, dựa lưng ra sau ghế rồi đốt một điếu thuốc. Sau đó ông hướng dẫn tôi một cách chi tiết, cụ thể.
    "Này, Hurree, một điều có tính nguyên tắc là ông phải nhất nhất làm theo chỉ dẫn của tôi, chính xác đến từng điểm một. Khi chúng ta đến khách sạn, ông sẽ đi cùng tôi vào tiền sảnh, chúc tôi ngủ ngon rồi đàng hoàng đi ra, sao cho tất cả mọi người đều nhìn thấy. Sau đó, ông vòng ra phía sau khách sạn, sử dụng lối đi dành cho người tiếp phẩm rồi cố lẻn vào phòng tôi mà không để cho ai nhìn thấy. Gõ cửa nhẹ nhàng ba tiếng, Strickland sẽ để cho ông vào. Từ lúc đó ông sẽ làm theo mọi chỉ thị của anh ta. Về phần mình, tôi sẽ thông báo cho người quản lý khách sạn hay nhân viên trực ở quầy tiếp tân rằng tôi hết sức mỏi mệt sau chuyến tham quan suốt cả ngày hôm nay, rằng tôi muốn đi ngủ sớm sau khi ăn qua loa một bữa tối vội vàng tại phòng ăn. Như vậy sẽ tạo cho người hạn của chúng ta, bất kể hắn là ai đi chăng nữa, cớ đủ thời gian để sắp xếp kế hoạch của hắn".
    Tất nhiên, tôi lạnh cả sống lưng khi biết sắp đến hồi kết của vụ này, nhưng tôi cũng được an ủi phần nào vì tâm trạng trầm mặc dễ sợ của ông Holmes về vụ án. Xe chúng tôi đến khách sạn.
    Một lần nữa, trong gian tiền sảnh, tôi chào Sherlock Holmes, chúc ông ngủ ngon và rời khỏi khách sạn bằng cửa trước, dĩ nhiên là vẫn dưới cái nhìn soi mói khinh khỉnh của tay gác cửa.
    Khi xe ngựa của tôi chạy qua lối đánh xe vào khách sạn, tôi thoáng thấy cảnh Sherlock Holmes đang nói gì đó với tay thư ký người Bồ Đào Nha, gã này đứng trước mặt ông với điệu bộ khúm núm, đầu hơi cúi như thường lệ.
    Chú thích:
    (1) Raiah: tiểu vương.
    (2) Holmes đã diễn đạt một ý tưởng tương tự trong phần kết của tác phẩm Cuộc phiêu lưu của chiếc hộp các tông.
    (3) sadhu: đạo sĩ hoặc ẩn sĩ theo trường phái khổ hạnh phương Đông, chủ trương rằng thân xác con người ta có khổ thì người ấy mới có được tâm thanh tịnh.
    (4) chaprasi: người hầu, người giúp việc.
    (5) Có một tài liệu tham khảo duy nhất của Peter Coullart trong Hoàng tử xương đen. Nhà xuất bản John Murray 1959, mà tôi khám phá ra được có nói về loài cây độc nhất này. Cullart viết: "Tôi được một nhà thực vật học xuất chúng kể rằng cao cao trên sườn ngọn núi Minya Konkka, mọc lên dưới lớp tuyết là một loài hoa anh thảo rất đặc biệt có tên là Primula Glacialis, một trong những loài hoa quý hiếm nhất thế giới đã được một linh mục Công giáo phát hiện. Thậm chí nó khiến cho trời xanh cũng phải phát ghen bởi cái màu xanh tinh khiết và những đường nét tao nhã của nó. Tại sao những loài hoa đẹp nhất, đem lại những ấn tượng thị giác hài hoà nhất và thanh nhã nhất trên trái đất lại thường nằm ở quá cao và trong những hoàn cảnh môi sinh quá khác nghiệt, hầu như không có những điều kiện tối thiểu cho sự sống, như thách thức của sương giá, mưa đá, lở đất và những cơn gió dữ dội, nằm ngoài ảnh hưởng của con người?"
    (6) Sir Joseph Dalton Hooker đã đi khắp Ấn Độ (1848-1850) đặc biệt là vùng Sikkim Himalaya để nghiên cứu về sự phân bổ và phát triển của giới thực vật. Ông là một trong những nhà khoa học lỗi lạc nhất thế kỷ 19 và là bạn tri kỷ của Darwin.
    (7) Sherlock Holmes đã có những phát biểu tương tự trong Điệp vụ cuối cùng và vụ án trước đó, Hợp đồng hải quân. Điều thú vị là chiều hướng siêu hình trong ông đã xuất hiện quá rõ ràng trong hai vụ án này, ngay trước cuộc chạm trán cuối cùng của ông với giáo sư Moriarty và chắc chắn đó là khoảnh khắc đáng sợ nhất nhưng có ý nghĩa nhất trong đời ông từ trước đến nay.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/4
1 2 3 ... cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Chủ đề giống nhau

  1. Sherlock Holmes (Audio) - Công Việc Sau Cùng Của Holmes
    By ladloveluffy in forum ♪Nghe đọc truyện.
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 02-04-2012, 07:29 AM
  2. Sherlock Holmes Toàn Tập
    By jan031985 in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 17
    Bài mới gởi: 03-03-2012, 05:15 PM
  3. Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 22-01-2012, 05:58 PM
  4. Trả lời: 12
    Bài mới gởi: 22-01-2012, 05:53 PM
  5. Sherlock Holmes (Audio) - Sherlock Holmes hấp hối
    By ladloveluffy in forum ♪Nghe đọc truyện.
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 04-10-2008, 09:25 AM

Visitors found this page by searching for:

Jamyang*Norbu

Dien Dan

Members who have read this thread : 7

Bookmarks

Quuyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời bài viết
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết