+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 4/4
đầuđầu ... 2 3 4
kết quả từ 31 tới 38 trên 38

Ðề tài: Sherlock Holmes mất tích- Jamyang Norbu

  1. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Đến vùng Trans-Himalaya (2)

    Share/Bookmark



    Nhưng tất nhiên, mọi chuyện vẫn diễn ra như Holmes mong muốn.
    Ngày hôm sau, vào lúc nhá nhem tối, một tốp nhỏ kỵ sĩ bí mật rời khỏi cổng hậu của Châu Viên, gần bờ sông Kyichu vắng ver. Chỉ có vài con gà nước Tây Tạng là nhìn rõ hình dáng đoàn người và ngựa. Tôi cưỡi ngựa đi cạnh Sherlock Holmes, ngay sau Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi và Lạt Ma Yonten. Tsering, Kintup và mười lính Tây Tạng khác cưỡi ngựa đi phía trước. Chúng tôi làm thành một tốp nhỏ theo sự chỉ đạo cương quyết của Holmes, ông đã có dự cảm chính xác rằng nếu đông người hơn thì sẽ di chuyển chậm hơn và nhất là rất nguy hiểm vì dễ gây chú ý và dễ bị lộ. Vị Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi không hề phản đối quyết định cứng rắn của Holmes, trái lại còn nhiệt tình ủng hộ và không chú ý đến thái độ do dự của Thư ký thứ nhất của mình. Lạt Ma Yonten, công bằng mà nói, chẳng mấy chốc lại tươi tỉnh và phấn chấn sau những lo lắng ban đầu và nhanh chóng bắt tay chuẩn bị tất cả những thứ cần thiết cho chuyến đi - sự đóng góp của ông vốn dĩ rất đáng kể. Chúng tôi không thể sống cảnh "ăn xổi ở thì" khi có Đạt Lai Lạt Ma cùng đi, nên lều chõng, lương thực và đồ đạc cần phải được chuẩn bị ở mức độ chu đáo nhất. Nhưng rồi, tất cả cũng đã được hoàn tất trước giờ khởi hành.
    Ngôi đền băng Shambala nằm cách Lhassa khoảng 100 dặm về hướng Bắc - mất khoảng ba ngày đường cưỡi ngựa nhọc nhằn. Nó toạ lạc - theo cách có một không hai - dưới một tảng băng khổng lồ rắn như đá nằm giữa một khe nứt sâu trong vùng Trans-Himalaya(5). Người Tây Tạng gọi dãy núi này là Nyenchen-thang-lha sau khi vị thần núi cổ xưa (trước thời Phật giáo) tổ chức thiết triều ở đó. Thông thường, ngôi đền này bị chôn sâu dưới dòng sông băng, thậm chí lối vào cũng bị che khuất hoàn toàn bởi một bức tường băng khổng lồ. Nhưng vì một lý do cho tới nay vẫn chưa được khám phá, phần vách băng phía trước này cứ khoảng năm mươi năm một lần lại tan và mở ra cho phép người ta đi vào ngôi đền. Dân Tây Tạng thì tin rằng bức tường đá mở ra, vào đúng thời điểm các thần thánh của Tây Tạng cho rằng đã đến lúc thích hợp để một Đạt Lai Lạt Ma đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đất nước, và trên thực tế, nó bao giờ cũng mở ra (mặc dù không có những bằng chứng khoa học về hiện tượng này cho mỗi hoá thân của Đạt Lai Lạt Ma, tuy ba đời Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm đã bị ngăn cản không đến được ngôi đền trong thời gian ấn định. Cũng vì thế mà các vị đều yếu mệnh một cách bi thảm, còn đất nước rơi vào những thời kỳ điêu đứng vì cái ác.
    Tuy vậy người ta cũng chỉ vào được Ngôi đền băng trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng từ ba đến bốn tuần lễ sau khi bức tường đá mở ra sông băng bắt đầu dịch chuyển một lần nữa và dần dần lấp kín lối đi vào Đền, biến nó trở thành nơi bất khả xâm phạm cho tới lúc một hoá thân khác của Đạt Lai Lạt Ma lại sẵn sàng ngồi vào Ngai sư tử của Tây Tạng”.
    Không có những căn cứ khoa học mang tính thuyết phục đưa ra giải thích cho trò chơi của thiên nhiên(6) này, mặc dù sự tồn tại của nó đã được thừa nhận bởi một số nhà thám hiểm người Nga. Tôi tin rằng quan điểm của mình về đề tài này là khá độc đáo - xin bạn đọc rộng lòng tha thứ cho cách nói đó - mặc dù tôi không khăng khăng khẳng định, đó là quan điểm duy nhất “Đúng" Độc giả có thể coi nó hoàn toàn là một giá thuyết, nhưng là một giả thuyết được trình bày bằng một người quan sát thông minh và có kinh nghiệm.
    Ở đây có hai điểm nổi bật cần được chú ý thích đáng.
    1. Dòng sông băng buộc phầi di chuyển vào một hẻm núi sâu.
    2. Mặt đá phía trước hẻm núi - dọc theo bức tường băng - được tạo thành từ loại đá granit có kết cấu rất cứng, trong khi những bức vách của hẻm núi lại được tạo thành bởi loại đá vôi mềm hơn. Vì vậy cứ sau một chu kỳ nhất định, mặt trong hẻm núi lại bị bào mòn nhiều hơn so với ngoài miệng hẻm núi, tạo ra một điểm cực mỏng và có sức nén khủng khiếp ở đằng trước sông băng. Giả thuyết của tôi là, áp lực lớn do toàn bộ khối băng dồn lên khe hở nhỏ này đã làm giầm đáng kể nhiệt độ của băng tại điểm này khiến cho băng rắn hẳn lại (một hiện tượng tự nhiên có thể quan sát được khá rõ khi tuyết được nén lại tạo thành những cục tuyết) Cứ như vậy một bức tường băng lạnh và cứng bất thường đã được tạo ra ở phía trước, có khả năng ngăn chặn hữu hiệu sự tan chảy và dịch chuyển dần dần của toàn bộ khối băng, một điều vẫn xảy ra trong tất cả hoạt động sông băng khác.
    Tuy rằng theo lẽ thường, một quá trình như vậy có thể bị ngăn trở, nhưng nó không bao giờ có thể ngừng lại hoàn toàn. Năm này qua năm khác, áp lực được tích tú lại phía sau bức tường băng, cho tới khi đạt đến một điểm tới hạn ở mặt trước, khi nhiệt độ không thể giảm thêm được nửa hoặc băng cứng lại. Áp lực được tích luỹ một cách tiệm tiến như thế có thế diễn ra trong năm mươi năm, vì vậy mà trùng hợp với sự xuất hiện của một Đạt Lai Lạt Ma mới. Một khi thời điểm quan trọng này đến gần, toàn bộ mặt trước của bức tường băng hẹp sẽ vỡ ra để lộ lối vào ngôi đền được che giấu bên trong. Sự sụt giảm đột ngột của áp lực và nhiệt độ ở mặt ngoài khiến toàn bộ hiện tượng này khởi động lại một chu kỳ mới cũng từ từ như vậy sau khoảng vài tuần, lối đi vào đền một lần nữa lại bị đóng kín bởi một bức tường băng vững chắc.
    Ngày thứ hai, vào lúc sâm sẩm tối, chúng tôi hạ trại tại chân ngọn đèo dẫn đến một dãy núi cao sừng sững. Đâm thẳng lên bầu trời u ám đày mây trên đầu đoàn lữ hành là những đỉnh núi hình răng cưa phủ trắng tuyết của một dãy núi dài chạy mãi đến tận chân trời. Ngay liền dưới những chỏm núi phủ tuyết, các dốc núi khoác một màu xám xịt bởi các tảng đá trơ trụi, chỉ thỉnh thoảng mới mọc lên một cây thòng còi cọc xác xơ và những bụi kim tước bất khuất đơn độc mà sự xuất hiện của chúng làm dịu đi cái khung cảnh dữ dội có phần nghiệt ngã này. Vị Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi dường như không hề bị tác động bởi cuộc hành trình gian khổ hay khung cảnh tiêu điều xung quanh. Thật ra cậu còn tỏ vẻ hào hứng nữa là khác. Xét cho cùng cậu cũng chỉ là một đứa trẻ, mà lại là một đứa trẻ bị thiệt thòi khi suốt cả đời bị đóng khung một cách phi tự nhiên trong mối quan hệ buồn tẻ chán ngắt với những ông thầy mô phạm, bọn tùy tùng lớn tuổi và những tên lính gác, không có cơ hội thưởng thức sự tự do của một chuyến đi như thế này – dẫu nó có nhọc nhằn đi chăng nữa. Cậu chạy nhảy tung tăng quanh khu vực cắm trại, dùng những hòn đá nhỏ chơi trò ném thia lia vào các bụi cây như một chú bé nông thôn hoặc chạy đến chỗ Holmes đặt ra vô số câu hỏi về cuộc đời ông, về nước Anh và thế giới. Tôi thật kinh ngạc khi thấy Sherlock Holmes chăm chú lắng nghe và trả lời một cách kiên nhẫn tất cả những thắc mắc của cậu bé. Như tôi đã có lần lưu ý, mặc dù luôn phô ra ngoài về mặt khô khan lý trí và tự cao tự đại khiến nhiều người mới gặp cảm thấy khó chịu, ông lại đặc biệt dịu dàng, nhẫn nại và lịch sự khi tiếp xúc với phụ nữ và trẻ con.
    Ngày hôm sau chúng tôi tìm đường vượt qua nhưng ngọn núi cao chông chênh và nhọc nhằn kinh khủng. Con đường mòn toàn nhưng đá và băng tuyết, lên cao hơn nữa thì chỉ có tuyết mà thôi. Những con ngựa lùn nặng nhọc và cần mẫn cất bước suốt buổi sáng, len lỏi tìm đường đi qua nhưng mê lộ hoang vu trên các chỏm núi dòng băng, trong khi chúng tôi ra sức bám lấy lên ngựa cố chống chọi với cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Tôi có mưu toan che chở mình trước những cơn mưa đá bất ngờ bằng chiếc dù đáng tin cậy, nhưng nó đã bị cuốn đi ngay sau khi tôi có ý định, trước những lặng gió lạnh cóng thổi rất rát trên một địa hình vừa cao vừa trống trải. Sau một cuộc vật lộn dữ dội, cuối cùng tôi đành bỏ cuộc, cố gắng xếp dù lại cất đi.
    Tsering và đám lính Tây Tạng đều để tóc dài, vì vậy họ gặp rắc rối với những ngọn gió tai quái, họ phải tìm cách "giải quyết” những lọn tóc rủ trước mặt nếu không tuyết sẽ bám vào tóc, che mất tầm nhìn. Những người còn lại trong chúng tôi thì giải quyết rắc rối này bằng những mảnh sa nhiều màu. Vào thoảng hai giờ chiều hôm sau, chúng tôi đi qua một thung lũng gió thổi rất rát, nằm giữa hai quả núi lớn, sau khi vượt qua đoạn đường này, cuối cùng chúng tôi lần đầu tiên có thể nhìn thấy mục tiêu ở trước mắt.
    Rặng núi đột ngột mở ra trước mặt đoàn lữ hành một cánh đồng tuyết trắng lấp lánh, kéo dài khoảng một dặm và kết thúc cũng đột ngột như vậy trong một hẻm núi rộng từ bên phải cắt ngang qua một cách đầy kịch tính như ở vùng Grand Canyon ở Bắc Mỹ. Một chiếc cầu băng thiên nhiên bắc qua hẻm núi này, dường như đó là con đường duy nhất để vượt qua nó. Ở phía bên kia cầu, cánh đồng tuyết trắng tinh khôi lại tiếp tục trải dài (nằm vương vãi khắp cánh đồng là những tảng băng lớn) rồi từ từ bị quây lại giữa những vách đá thẳng đứng, xòe ra ngoài theo hình giẻ quạt từ bức tường băng cao và hẹp phía trước. Bức tường băng này cao ít nhất cũng 100 mét, rộng khoảng 30 mét, trơn bóng và thẳng đứng như một tấm kính khổng lồ. Ngay dưới chân bức tường là một lỗ hổng cân đối, tối om và tôi nhận ra, đó là lối vào Ngôi đền băng Shambala. Khu vực phía trước bức tường lổn nhổn hàng nghìn tảng băng vỡ, gây ra ấn tượng về một mặt biển nổi sóng cồn dữ dội thình lình bị đóng băng ngay lập tức.
    Đứng run rẩy phía sau mấy con ngựa, chúng tôi quan sát khung cảnh uy linh đáng sợ này. Tôi cũng thận trọng kiểm tra những chi tiết khác nhau của vùng địa hình xung quanh bằng chiếc ống nhòm nhỏ.
    "Tốt lắm, ông Holmes," tôi vui vẻ nói sau khi bỏ ống nhòm xuống "dường như chủ trương kiên quyết của ông, bằng mọi giá phải đảm bảo tốc độ cao nhất, đã được đền đáp. Chắc chắn chúng ta đã đến trước giáo sư Moriarty và những người bạn Trung quốc của hắn ta. Tôi không thấy dấu hiệu nào cho thấy sự hiện diện của con người xung quanh đây cả”.
    "Nhưng điều đó không thể xảy ra” Lạt Ma Yonten lo lắng, nói.
    "Ý ngài là gì, thưa ngài?” Sherlock Holmes hỏi.
    “Có hai cao tăng làm nhiệm vụ canh giữ Ngôi đền băng, họ sống ở đây, tại một hang động ở bên hông ngọn núi kia". Lạt Ma chỉ về phía ngọn núi bên phải. “Ngoài nhiệm vụ chính là theo dõi thường trực lối đi vào đền, họ còn có trách nhiệm ngăn không cho các du khách vượt qua cây cầu băng mà vô tình làm ô uế vùng đất thánh. Nhưng sao không thấy họ nhỉ?”
    “Có lẽ họ ở trong hang động nên không nghe thấy tiếng chúng ta đang đến chăng?”
    "Không thể có chuyện đó. Địa hình khu vực này có cấu tạo hình phễu nên mọi âm thanh đều được truyền đến hang động. Đó là lý do tại sao nó được chọn. Đáng lẽ họ phải nghe được tiếng vó ngựa của chúng ta cách đây ít nhất một giờ đồng hồ và chuẩn bị nghênh đón chúng ta mới phải".
    "Hừm. Chúng ta cẩn thận đề phòng thì tốt hơn," Holmes nói giọng nghiêm nghị, đôi lông mày chau lại với vẻ quan tâm “Vui lòng cho tôi mượn cái kính thiên văn nhỏ của ông một phút Hurree".
    "Sẵn sàng, thưa ngài".
    Sherlock Holmes đưa ống nhòm lên mắt và tiến hành một trong những cuộc điều tra có phương pháp quanh khu vực lân cận. Tất cả chúng tôi im lặng chờ đợi. Một cảm giác ớn lạnh đầy sợ hãi lướt trên đã khi tôi nhận ra có lẽ mình đã quá vội nói ra những nhận định lạc quan.
    "Cánh cửa gỗ nhỏ trong hang động nơi các cao tăng trân giữ ngôi đền đang mở toang, bị ngọn gió núi quạt qua quật lại," Sherlock Holmes nói, giọng lo âu. “Trên đỉnh núi đối diện, một đàn bồ câu tuyết đang lượn những vòng tròn gấp gáp, đầy bồn chồn ngay phía trên tổ của chúng. Dù họ ở đâu đi nữa, họ cũng đã ẩn mình khá kỹ đấy.
    “Chúng ta phải đi giữa hai ngọn núi này để đến chiếc cầu băng thôi” Tsering cương quyết. "Tôi nghĩ chắc họ đang nấp đợi bên kia cầu”.
    “Anh nghĩ khi nào họ sẽ tấn công?”
    "Chắc là khi chúng ta đến gần chiếc cầu băng và xuống ngựa đế qua cầu. Đó sẽ là thời khắc nguy hiểm nhất. Chúng ta sẽ bị lọt vào bẫy giống như lũ rệp giữa cái càng bò cạp vậy”.
    "Thôi được, chúng ta hay nghiên cứu xem sao," Holmes điềm nhiên nói. Quay sang chung tôi, ông nói bằng một giọng cương quyết, thận trọng. “Chúng ta sẽ cưỡi ngựa đi hàng một, Đạt Lai Lạt Ma và Lạt Ma Yonten đi giữa. Tsering và tôi sẽ đi trước cùng với năm người lính. Kintup và năm người còn lại sẽ đi ngay sau các Lạt Ma. Ông Hurree thì đi tập hậu. Khi có dấu hiệu đầu tiên của cuộc tấn công chúng ta sẽ chạy thẳng tới chiếc cầu và cưỡi ngựa vượt qua cầu. Có vẻ như đó là một việc làm khá liều lĩnh, nhưng lại là cơ hội duy nhất mà chúng ta có trước một đối thủ mạnh hơn về quân số và lợi thế. Chúng ta đang ở một địa hình quá bằng phẳng và trống trải. Một khi chúng ta băng qua cầu, anh - Tsering ạ - hãy cắt cử lính trấn giữ phía sau những tảng đá kia và cầm chân những kẻ đuổi theo đoàn. Cũng không phải là việc quá khó, vì chúng chỉ có thể băng qua cầu theo hàng một. Lạt Ma Yonten và tôi sẽ đưa Đạt Lai Lạt Ma vào trong đền. Nào, hãy nhớ rằng tuyệt đối không được lưỡng lự ở khu vực cây cầu. Hãy phóng ngựa vượt qua. Bọn chúng sẽ không ngờ là chúng ta làm vậy, vì thế chính yếu tố bất ngờ gây sốc với đối phương lại là cái cần thiết cho một kế hoạch thành công. Chúc may mắn”.
    Đó là cách tính toán đo lường trong khi vạch kế hoạch của một nhân cách lớn, kết hợp với sự tự tin minh triết và một sức mạnh điềm tĩnh nên không ai trong chúng tôi nảy ra ý phản đối hai đặt câu hỏi mà chỉ răm rắp làm theo mệnh lệnh của ông.
    Chúng tôi đi thành hàng một băng qua thung lũng. Tôi cưỡi ngựa đi cuối, chẳng vui vẻ gì với vị trí này nhưng tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần chấp nhận điều tồi tệ nhất. Tôi rút từ bên trong áo choàng ra một khẩu súng lục nhận được từ kho vũ khí ở Châu Viên, và sau khi mở chốt an toàn, tôi giắt nó vào thắt lưng ngay gần bụng. Khi đi ngang qua giữa khúc quanh cuối cùng giữa hai chỏm núi, tôi trông thấy một đám bồ câu tuyết dáo dác bay lượn phía trên tổ, đúng như Sherlock Holmes đã miêu tả; nhưng tôi không thấy bất cứ dấu hiệu nào của kẻ thù. Có lẽ chỉ là một con báo tuyết vừa khuấy động không gian yên bình của bầy chim, tôi nghĩ vậy. Cũng có thể rốt cuộc chẳng có kẻ tấn công nào cả. Ý nghĩ bất chợt khá vui vẻ này làm cho tinh thần tôi phấn chấn lên một chút, bởi vì tôi đã không nhìn về phía trước trong lúc phóng ngựa vượt qua cây cầu băng, rộng lắm cũng chỉ khoảng hai mét và chắc chắn là trơn như bôi mỡ. Vừa khi cảm thảy có thể thở phào được thì tôi nghe Holmes hét lên một tiếng báo động.
    “Chúng đang đến đấy! Chạy đi nào".
    Tôi không dám nhìn quanh mà vung roi quất lên mình ngựa, buộc nó chuyển sang phi nước kiệu thật nhanh. Tôi chỉ vừa phóng đi được khoảng 30 mét, thì thấy một toán lính kẻ nào kẻ nấy đen thui từ đầu đến chân đang phóng ngựa lao nhanh về phía chúng tôi, từ phía sau chỏm núi nơi những con bồ câu tuyết vừa bay dáo dác. Tôi ngẩng đầu nhìn lên chỏm núi đối diện, lòng khấp khởi hy vọng sẽ không thấy cái cảnh mà tôi vừa nhìn thấy. Nhưng ngược lại với mong muốn của tôi, một toán kỵ sĩ khác lao ra từ phía sau sườn núi, phi thẳng về phía chúng tôi.
    Trong một giây, cả hai nhóm tản công ghìm cương ngựa và nhìn quanh bối rối. Rõ ràng chúng rất sốc vì cách hành sự của chúng tôi, không hề lưỡng lự cứ thế phi thẳng lên cầu. Nhưng bọn chúng lập tức trấn tĩnh lại, đồng thanh hò lên những tiếng thét xung trận khát máu bằng tiếng Trung quốc: "Sát! Sát!”(7).
    Đoàn người ngựa chúng tôi bùng lên, phóng hết tốc lực về phía trước, nhưng đám người đằng đằng sát khí kia cũng phi nhanh không kém và mỗi lúc một thu hẹp khoảng cách. Tệ hơn nữa chúng đuổi sát theo chúng tôi, mà người cuối cùng lại là tôi. Tôi thúc mạnh vào hông ngựa buộc nó phi tăng tốc hơn nữa.
    Trong khi con vật phi nhanh hơn về phía trước, tôi quay lại trông chừng những kẻ truy đuổi. Cái đám đông ấy ít nhất có sáu mươi người. Chúng đều mặc trang phục màu đen và đội kiểu khăn của người Trung Quốc: băng đạn quấn quanh ngực, trên lưng lủng lẳng những khẩu súng tự động hiện đại và những thanh gươm đao phủ lớn - hay đại đao như người Trung quốc thường gọi - cũng những đặc điểm nổi bật của đám người thiếu chút nữa đã chặn đầu tôi ở Shigatse, trong cái lần tôi đến Tây Tạng trước đây. Trời đất ơi. Rõ ràng, bọn này là những tên lính thiện chiến của quân đội Mãn Thanh, chứ không phải bọn vệ sĩ của Amban.
    Phóng tầm mắt về phía trước, tôi thấy Tsering đã đến cây cầu đá. Anh ta không hề do dự - thật là một chàng trai dũng cảm - thúc ngựa phóng qua. Cây cầu băng cong cong như hình chiếc cầu vồng, vì thế tôi có thể thấy rõ kỵ sĩ cùng con ngựa lao qua cầu. Con ngựa cào móng điên cuồng để bám lên mặt băng cho khỏi trượt, bằng cách nào đó nó cố gắng trụ vững và nhanh chóng vượt qua được bờ bên kia. Năm người lính trong đoàn đi theo sau mà không gặp vấn đề gì, sau đó là Sherlock Holmes, Đạt Lai Lạt Ma và Lạt Ma Yonten. Những người còn lại cũng đi qua trót lọt cho tới khi người lính Tây Tạng cuối cùng phóng đến cây cầu.
    Con ngựa xấu số của người này chạy đến giữa cầu mà không có chuyện gì, nhưng đúng lúc nó bắt đầu phi xuống phía bên kia cầu vó sau của nó trượt dài trên băng và cả thân hình nó nặng nề đổ xuống một bên. Bốn vó của nó ngửa lên quơ quơ dữ dội trong cố gắng tuyệt vọng đề đứng thẳng lên, nhưng nỗ lực điên cuồng đó chỉ làm con vật trượt dài rời mép cầu. Rồi với một tiếng hí thảm thiết, nó rơi xuống vực thẳm bên dưới. Người kỵ sĩ cố gắng giải thoát mình khỏi con ngựa bị ngã, nhưng bàn chân lại mắc vào bàn đạp, thế là anh cũng bị kéo theo. Anh lính thét lên không kém phần ai oán so với con vật trong khi bị hút vào cái hẻm núi băng không đáy và tiếng kêu đồng thanh khủng khiếp của cả người lẫn ngựa dội ngược qua nhưng ngọn núi như một lời phán quyết của định mệnh.
    Tôi liều lĩnh thúc ngựa tiến lên, nhưng chỉ vừa mới đến được đầu cầu đã nghe những tiếng thét điên cuồng phía sau nên bèn quay đầu lại. Sát ngay sau tôi là đội quân áo đen của Hoàng đế Mãn Thanh đang vung vẩy nhưng thanh đại đao dễ sợ với một thái độ cực kỳ hung hăng, khát máu. Một tên lính mặt rỗ, da vàng ệch đã ở sát ngay sau lưng tôi. Hắn giơ thanh đại đao lên. Tôi thì ngây người nao núng. Bỗng “đoàng, đoàng, đoành". Một vệt màu đỏ giống như một bông cẩm chướng xòe cánh mỗi lúc một to xuất hiện ngay giới trán hắn; và với một vẻ đờ đẫn như được dán lên mặt, hắn ngã vật về phía sau.
    Người của chúng tôi đã chiếm cứ các vị trí phòng thú phía sau những lối băng, đang nã súng về phía kẻ thù và dù với số lượng áp đảo bọn chúng rơi vào một tình huống bất lợi hơn. Tôi vội vã băng qua cầu trong lúc kẻ địch còn đang bối rối chưa kịp crở tay. Vượt qua cây cầu tôi thúc ngựa chảy đến bức tường băng và nhanh chóng nhảy xuống ngựa, tìm một chỗ nấp phía sau những tảng băng lớn nằm rải rác khắp thung lũng. Tsering. Kintup và những người lính thiện chiến đã trấn giữ vị trí của họ một cách an toàn, hiểu qua và rõ ràng không cần tới sự giúp dỡ kém cỏi của tôi, vì vậy tôi tìm cách vượt qua những ụ băng theo Sherlock Holmes và các Lạt Ma vào ngôi đền.
    Tại chân bức tường băng khổng lồ là một lối vào, hơi giống miệng của một cái động lớn, nhưng được cắt xẻ một cách cân đối tạo thành hình chữ nhật vuông vức và cao ít nhất là mười ba mét.
    Ở bên kia lối vào, bên trên những chiếc cột đá bazan khổng lồ sẫm màu là các bức tượng hùng vĩ của những con sư tứ có cánh đang ở tư thế nằm, khoảng cách từ chân cột tính đến vương miện trên đầu chúng vào khoảng tám mét. Không hề giống một bức tượng sư tử nào mà tôi từng thấy trước đó. Chắc chắn, đó không phải là cách tái hiện sư tử của người Ấn Độ.
    Thấp thoáng có dấu vết ảnh hưởng của người Babilon trên đôi cánh sư tưe, ngoài ra tất cả các chi tiết khác: cái đầu, nét mặt vóc dáng và tư thế rõ ràng không phải của người vùng Lưỡng Hà, thậm chí cũng chẳng có nguồn gốc châu Á hay Trung quốc.
    Có thể nào, đó là tác phẩm của một nền văn minh đã biến mất sau khi đã tồn tại hàng nghìn năm trước khi những người Tây Tạng hiện đại cư ngụ trên vùng đất này? Những bức tượng gần như còn mới nguyên, hầu như không có một vết xước hay dấu vết hư hại nào, hiện tượng này cũng không có gì là phức tạp có thể được giải thích bởi thực tế chúng hầu như được chôn vùi dưới băng đá và chỉ phơi ra trong không khí hai lần trong vòng một thế kỷ, mà cũng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Có lẽ cũng giống như Herr Schelieman, người đã phát hiện ra tàn tích của thành Troy cách đây vài năm, tôi đã khám phá ra một nền văn minh cổ xưa chưa được bất kỳ ai trên thế giới biết tới. Tôi quyết định gọi nó là nền văn minh Tethys bởi vì vùng biển tiền sử của Tethys - mà từ đó cao nguyên Tây Tạng và dãy Himalaya mọc lên - đã xuất hiện cách đây hàng triệu năm.
    Tiếng rít của một viên đạn bay sượt qua đầu tôi chấm dứt những suy tư khoa học và sau khi chộp vội lấy cây dù, tôi nhanh chóng chạm qua cánh cửa ngôi đền rộng mênh mông.

    Chú thích:
    (1) xúp yak-tail: món xúp của người Tây Tạng nấu với đuôi bò yak là loại động vật "biểu tượng" của Tây Tạng. Momos: bánh bao nhân thịt được hấp chín bằng hơi nước.
    (2) Watson cũng đã nhắc tới thói quen này của Holmes. Xin đọc Hòn đá Mazarin.
    (3) Trận Marengo diễn ra gần thành phế Alessandria vùng Tây Bắc nước Italia vào ngày 14 tháng 7 năm 1800, thắng lợi thuộc về quân Pháp dưới sự lãnh đạo của Napoleon Bonaparte, cho dù lúc đầu thế trận nghiêng hẳn về phía quân Áo
    (4) Kalachakra: Bánh xe thời gian
    (5) Trans-Hymalaya: tên gọi khu vực nằm xa hơn về phía bắc của dãy Himalayay nói cụ thể hơn về mặt địa chất là khối đá lớn Ladakh.
    (6) Nguyên văn: Iusus naturae
    (7) Nguyên văn: Sha. (sát) có nghĩa là giết, giết!
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  2. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Ngôi đền băng Shambala



    Chương 21
    Ngôi đền băng Shambala

    Khi mắt đã quen với cái cảnh lờ mờ tranh tối tranh sáng bên trong, tôi nhận thấy với đôi chút thất vọng, rằng ngôi đền thật ra chỉ là một căn phòng vuông vức nhưng khá nhỏ, mỗi chiều khoảng mười ba hoặc mười bốn mét. Những bức tường được chạm khắc nhiều hình ảnh và các mẫu tự, gợi nhớ chữ tượng hình của người Ai cập, nhưng trừu tượng và kỳ dị hơn. Căn phòng lạnh thấu xương với nhiều dải băng rủ xuống từ góc nhà che lấp từng mảng tường. Một tấm thảm tuyết hơi mịn như bột rải trên sàn, kêu lạo xạo mỗi khi có bước chân ai đạp lên.
    Lạt Ma Yonten đang giúp Đạt Lai Lạt Ma ngồi nghỉ ở một góc đền và nhanh nhẹn trải áo choàng của ông ra cho cậu nằm.
    Cậu bé, nên nhớ chỉ vừa hồi phục sau một cơn bệnh thập cứ nhất sinh, và cuộc chạy đua liều mạng vượt qua cầu khi nãy đã vượt quá sức chịu đựng của thân hình gầy gò yếu đuổi tuổi thiếu niên. Tôi rút ra một chai Brandy nhỏ (mà tôi mang theo chỉ để dành cho những trường hợp cấp cứu, vì tôi là một người chủ trương bài rượu), mở nút, đổ một ít chất lỏng vào miệng cậu bé.
    Cậu ho lên vài tiếng và thở gấp, tuy vậy màu hồng đã bắt đầu ửng lên trên đôi má tái nhợt.
    Sherlock Holmes cố dành diêm thắp lửa cho ngọn đèn lồng đặc biệt của chúng tôi, nhưng mâi không được. Chẳng là diêm của ông bị ẩm không bắt lửa, vì thế tôi lại gần, chìa cho ông một hộp diêm khô mà tôi may mắn mang theo người. Ông vội vã thắp đèn. Sau khi ông thận trọng điều chỉnh một chúc, ngọn đèn phóng ra một chùm tia sáng rực rỡ về phía bức tưởng đối diện.
    Ông giơ cao đèn lên, lia ánh sáng ra khắp nơi trong phòng, soi rõ nhưng bức tường hoàn toàn trơ trụi trừ những hình khắc nhỏ trên tường, nhưng khi đi đến giữa phòng, ánh sáng rực rỡ chiếu lên một cấu trúc nhiều tầng, lạ kỳ, nằm trên một bệ đá. Những lớp bột tuyệt trắng ngần che phủ lên toàn bộ vật này làm cho nó giống như một cái bánh cưới cực lớn.
    “Đó là mandala vĩ đại,” Lạt Ma Yonten giải thích. "Chính là cái đã qua bàn tay sử dụng của Sứ giả Shambala khi ông ta làm lễ nhập môn đầu tiên cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất”
    Sherlock Holmes đi quanh mandala và bắt đầu phủi tuyết khỏi bề mặt của nó bằng một chiếc găng tay. Tôi cũng phụ một tay và chẳng mấy chốc chúng tôi đã phủi sạch lớp tuyết. Mandala cao khoảng hai mét, trong khi chân đế của nó, một phiến đá hình đĩa, dày khoảng 30 phân, lại có đường kính tới gần 2,5 mét”.
    Những chiếc đĩa đá nhỏ hơn, hình vuông và tam giác, được sắp xếp một cách thứ tự trên bề mặt, cái này chồng lên trên cái kia, tạo nên một thể trung gian kỳ lạ giữa hình nón thấp tè và hình kim tự tháp. Nằm ở vị trí trên cùng là mô hình một ngôi chùa nhỏ bé tinh xảo với cái mái cong cong thanh nhã. Mặc dù những đường thẳng và các vòng tròn cơ bản của mandala này gần như tương tự với mandala trong bức tranh cuộn, nhưng mandala bằng đá thiếu những gam màu và hoạ tiết trang trí của bức tranh. Nó như bị mất đi cái hồn, trông khá ảm đạm và trần trụi. Giống một biểu đồ hiển chị hoá một công thức toán học phức tạp hơn là một vật biểu trưng tôn giáo.
    Trong khi tôi giơ ngọn đèn lên cao, chiếu luồng ánh sáng vào bất cứ nơi nào được yêu cầu, Sherlock Holmes cúi xuống kiểm tra mẫu vật lạ lùng này với chiếc kính lúp phóng đại. Năm phút là đủ làm ông thoả mãn trí tò mò, vì ông đã đứng dậy cất kính lúp đi. Sau đó, đặt hai tay một cách cả quyết vào hai bên cạnh chiếc đĩa đá dày ông bắt đầu người hơi nghiêng về một phía, vận hết sức bình sinh - đẩy vào cái vật nặng đó. Tôi không phát hiện có gì khác, nhưng hẳn có một điều gì đó đã xảy ra với Holmes, vì ông dừng lại và làu bàu một cách thoả mãn.
    “Nó dịch chuyển," ông nói, giọng đắc thắng.
    “Điều đó có ý nghĩa gì chứ?” tôi hỏi.
    “Nó có nghĩa là bí mật nhỏ của chúng ta - câu đố trong bài thơ với những lời lẽ kỳ bí kia - gần như đã được giải quyết xong".
    "Tôi không hiểu, ông Holmes à".
    "Ông còn nhớ chúng ta đã đồng ý với nhau rằng bài thơ là một kiểu chỉ dẫn, chắc chắn là để khai quật cái gì đó đã được giấu kín - mà phải là một cái gì thật quý báu. Vì tính tượng trưng của cấu trúc mandala đã được dùng trong bài thơ, sẽ lô-gíc hơn nếu ta đi tới kết luận rằng lời chỉ dẫn ám chỉ về một mandala thật sự - nhưng là một cái mà ta có thể sờ mó được và theo chiều thẳng đứng”.
    “Nhờ vậy mà chúng ta có thể đi quanh nó theo những vòng tròn nhất định, giống như lời chỉ dẫn đã nói sao tôi hỏi không khỏi hoang mang. “Nhưng…"
    "Không, không, Hurree thân mến. Không phải đi quanh nó mà là dí chuyển nó. Cuộc kiểm tra sơ bộ của tôi cho biết mẫu vật này không phải được đẽo từ một tảng đá duy nhất mà đã được lắp ráp lại - theo từng tầng bậc - từ những mảnh được gia công riêng biệt, có thể di chuyển được, hay đúng hơn là xoay quanh một trục trung tâm”.
    “Giống như cái lẫy trong ổ khoá?”
    "Chính xác. Ông đã đưa ra một so sánh rất khéo về sự giống nhau giữa hai vật, vì mandala này - nếu lý giải của tôi là đúng - là một ổ khoá, mặc dù đó là một ổ khoá không bình thường và đáng quan tâm".
    "Nhưng như vậy thì chìa khoá đâu, ông Holmes? Chúng ta đâu có chìa khoá".
    "Ồ, chắc chắc, ông bạn. Không nên hiểu theo nghĩa đen như vậy Có thể nói bài thơ kia chính là chìa khoá".
    "Tôi thật là kẻ chậm hiểu…” tôi lúng túng, nhưng Holmes không dành thời gian để tôi có thể tự trách mình mà sốt sắng bắt tay ngay vào việc kiểm tra giả thuyết vừa nêu.
    "Nào, Hurree, nếu ông có thể giúp một tay ở đây, và… xin lỗi, thưa Lạt Ma đáng kính," ông quay sang Lạt Ma Yonten, "ngài vui lòng đọc lại bài thơ cho chúng tôi nghe, được không?”
    Đạt Lai Lạt Ma lúc này đã khỏe lại, muốn tự tay cầm chiếc đèn chiếu sáng cho chúng tôi, trong khi Lạt Ma Yonten mở bức vẽ mandala và đọc những dòng chữ ghi phía sau.
    "Om Svasti. Xin dâng lòng tôn kính lên người…"
    “Chúng ta có thể bỏ qua những dòng chúc tụng," Holmes ngắt lời, "mà bắt đầu với những lời chỉ dẫn thực sự”.
    "Sẽ làm theo ý ông, ông Holmes," Lạt Ma trả lời, nhanh chóng lướt qua những dòng thơ và gạch dưới những từ ngữ quan trọng hằng ngón tay trỏ xương xẩu. “Để tôi xem nào. Hừm… A, đúng… nhưng lời chỉ dẫn nằm ở đây. “Hãy hướng mặt về hướng thiêng liêng…”.
    "Tức là hướng nào?”
    "Hướng Bắc, ông Holmes. Shambala được nói tới như là Shambala ở Bắc Ấn"
    "Như vậy, chúng ta cần phải quay lưng lại lối vào và nhìn thẳng vào mandala từ hướng đó. Để tôi xem nào…"
    "Tôi biết rồi, ông Holmes?" tôi hớn hở kêu lên, phủi đi lớp tuyết tại chân đế mandala hướng thẳng về lối đi vào. "Có một vajra hình chữ thập được khắc trên chân đế ở đây. Cái này chắc chắn là để đánh dấu hướng mà chúng ta phải bắt đầu".

    Đó cũng chính là nơi mà Đạt Lai Lạt Ma phải ngồi khi nhập định trên mandala” Lạt Ma Yonten giải thích.
    "Như vậy chúng ta có thể lấy nó làm mốc khởi đầu,” Holmes nói giọng cả quyết. “Này, xin hay đọc câu thơ thứ hai”
    "Bao giờ cũng rẽ vào con đường của Pháp luân…”
    "Cần phải biết, Hurree, rằng tất cả hành động của chúng ta đều phải thực hiện theo chiều kim đồng hồ. Làm ơn tiếp tục đi, thưa ngài".
    "Xoay ba lần quanh Hoả Sơn”.
    “Đó là chân đế của mandala. Hãy nhìn dấu hiệu những ngọn lửa được khắc vào đá. Nào Hurree, chúng ta hãy quan tâm đến nó một chút nào".
    Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Cả hai chúng tôi đều rên è è vì cố quá sức, nhưng cuối cùng cái đĩa đá khổng lồ cũng từ từ di chuyển. Theo lời hướng dẫn, chúng tôi đã xoay cái cục đá nặng như cùm đó ba lần quanh cái trục, trả nó đúng vào nơi khởi đầu, cạnh dấu hiệu vajra hình chữ thập trên sàn. Tôi gục xuống vì kiệt sức.
    “Hai lần nơi Kim Cương trung thành". Lạt Ma Yonten đọc tiếp.
    “Tiếp tục nào, Hurree," Holmes động viên tôi. “Lần này sẽ dễ dàng hơn. Nó nhỏ hơn nhiều".
    Sherlock Holmes nói đúng. Cái đĩa "Kim Cương tường thành" không nặng như cái đĩa "Hoả Sơn", và chúng tôi chỉ phải xoay hai lần. Dĩa “Tám nghĩa trang” thậm chí còn dễ dàng hơn, trong khi cái cuối cùng, "Toà Sen", tôi chỉ cần làm một mình.
    Đến tầng thứ năm, mandala đã thay đổi hình dạng; từ những chiếc đĩa hình tròn về núi, tường và hàng rào, nó chuyển thành một cột hình vuông với những chỗ phồng lên ở mỗi cạnh - bốn bức tường của Linh Thành và bốn cánh cổng của nó.
    "Rồi từ hướng Nam rẽ sang Đông…"
    Theo chỉ dẫn chúng tôi quay chiếc cột vuông ba phần tư vòng. Giờ đến vật cuối cùng trong bài thơ. "Cung điện sâu kín nhất" chính là ngôi chùa có mái cong nằm trên đỉnh mandala”.
    Thật là một khoảnh khắc cực kỳ hồi hộp. Trong khi Holmes xoay ngôi chùa nhỏ nửa vòng từ Nam sang Bắc - như lời hướng dẫn đã ghi rõ - chúng tôi nín thở chở kết quả.
    Chẳng có gì xảy ra cả.
    Một cảm giác thất vọng lạnh lùng chạy suốt châu thân. Đối với tôi hình như ở phương diện này hay phương diện khác, Sherlock Holmes hẳn đã phạm phải một sai lầm cơ bản nào đó trong chuỗi lập luận của mình.
    "Chúng ta chưa làm được, Hurree ạ,” ông nói, với nét mặt đau đớn. Ông quay đi, vừa cắn mạnh vào tẩu thuốc, vừa bồn chồn đi lại khắp phòng, làm tung lên một cơn bụi tuyết dưới mỗi bước chân. Ông cứ đi đi lại lại trong tâm trạng cáu kỉnh như thế khoảng mười phút thì đột nhiên dừng lại như thể đã có giải pháp. Vẻ mặt vụt trở nên tươi tinh, ông vừa nhìn chúng tôi vừa búng những ngón tay tanh tách. “Ngai vajra” ông kêu lên. “Chúng ta đã quên một điểm… và ngồi khái hoàn trên ngai vajra
    “Nhưng dường như đó chỉ là một két luận có tính chất tượng trưng thuần tuý mà thôi, ông Holmes ạ,” Lạt Ma Yonten góp ý
    "Chúng ta đã dịch chuyển tất cả những thứ có thể chuyển động được ở mandala” tôi chán nán. “Chẳng còn lại gì để mà xoay chuyển nữa".
    “Cứ thử xem, cứ thử xem," Holmes trả lời và đi vòng quanh mandala, ông cẩn thận quan sát ngôi chùa bằng kính lúp sau đó dùng cái lưỡi mảnh của con dao nhíp nhẹ nhàng bẩy cánh cửa bé tí tẹo của ngôi chùa nhỏ. Bên trong ngôi chùa là một chiếc ngai bằng pha lê bé xíu có khắc một vajra chữ thập. Đó là một vật xinh tuyệt. Trong khi Đạt Lai Lạt Ma chiếu đèn soi rõ vật đó, thì thám tử Sherlock Holmes thận trọng nghiên cứu món đồ mỹ nghệ bé xíu này một cách kỹ lưỡng bằng chiếc kính lúp.
    "Nhưng chúng ta biết làm gì bây giờ đây, ông Holmes?” Tôi hỏi. “chẳng hề có hướng dẫn về việc phải làm gì với nó”.
    “À, nhưng chúng ta sẽ làm, Hurree ạ!” Ông vui vé nói, rồi dừng lại. "Chúng ta sẽ "ngồi” lên nó”.
    Ông đặt đầu ngón tay trỏ lên chiếc ngai pha lê và khẽ ấn xuống. Nghe cách một tiếng rất rõ ràng - như thể một loại đòn bẩy nào đó đã hoạt động. Chiếc ngai pha lê bắt đầu hắt ra một làn ánh sáng xanh kỳ lạ rực rớ. Mỗi lúc luồng sáng đó càng trở nên sáng hơn mạnh hơn, cho tới khi vầng hào quang của nó trùm lên bức tường phía Bắc với một thứ ánh sáng lành lạnh lấp lánh như ánh trăng rằm vào một đêm hè. Cùng lúc đó, mandala bắt đầu rung lên từng đợt, những đợt rung động của nó tăng dần cường độ cho tới khi cả ngôi đền rung lên bần bật một cách thật đáng sợ.
    Trước đôi mắt kinh hoàng của chúng tôi, một số nhũ băng trên trần gẫy khúc, lanh canh rơi xuống sàn, hất tung lên một đám bụi tuyết. Sherlock Holmes nhanh nhẹn ôm lấy Đạt Lai Lạt Ma, như người mẹ ôm con, cố dùng tấm thân cao lớn của mình che chở cho cậu bé và khéo léo di chuyển để rút vào một góc phòng.
    Lạt Ma Yonten và tôi cũng vội vã tránh xa mandala hình như nó chính là mạch nguồn của tất cả sức mạnh khủng khiếp này Trong khi rút về bức tường phía sau, tôi vấp phải một miếng băng vỡ và loạng quạng ngã dúi về phía sau. Tưởng đâu mình sẽ ngả người vào bức tường tôi bèn choài tay ra đằng sau chống đỡ, nhưng thật ngạc nhiên, cơ thể tôi chẳng đụng vào vật gì cả mà từ từ rơi xuống. Điều này thậm chí còn đáng báo động hơn: tôi không ngã phịch xuống sàn hang mà tiếp tục lao xuống, theo một cách nào đó rất khó hiểu, cho tới lúc rơi oạch đau điếng xuống một mặt phẳng trong một vùng tối như bưng.
    “Ô, này, Hurreel ông có nghe thấy tôi nói không?” Giọng nói của Holmes, vang lên từ một nơi rất xa, bằng cách nào đó cũng len được vào tâm trí tôi. Tôi lắc lắc đầu để nghe cho rõ hơn.
    “Tôi ở đây, ông Holmes?” Tôi hét lên đáp lại.
    “Ông ổn chứ?”
    Trong bóng tối dày đặc, tôi đưa tay sờ soạng khắp người.
    "Tôi nghĩ vậy, thưa ngài. Dù sao thì cũng chẳng bị gãy cái xương nào cả.
    “Tốt lắm. Vậy chính xác là ông đang ở đâu?”
    "Dường như tôi đang ở dưới đáy một vực thẳm đáng sợ, thưa ngài. Tôi nghĩ rằng lối vào nằm ở đâu đó giữa bức tường đối diện với lối đi vào đền".
    “Tốt lắm. Chờ một phút. Tôi sẽ đưa đèn xuống đó ngay thôi”.
    Ít giây sau, một luồng ánh sáng rực rỡ xiết bao mong đợi xuất hiện phía trên đầu tôi. Dần dần, trong lúc nguồn ánh sáng đi xuống thấp và mồi lúc một sáng hơn, tôi có thể phân biệt được hình dáng cao cao quen thuộc của Sherlock Holmes - ông đang cầm chiếc đèn lồng sẫm màu và bước xuống từng bậc của cái cầu thang dài bằng đá - hằn là cái cầu thang mà tôi đã lăn xuống lúc nãy. Đi sau là hai vị Lạt Ma.
    “Xin được chúc mừng ông, Huree ạ," Holmes vui vẻ tiến đến gần tôi. “Vinh dự khám phá ra bí mật của mandala thuộc về ông".
    "Chỉ thế này thôi ư, ông Holmes?” Tôi thất vọng não nề. “Tất cả nhưng điều bí ẩn, những vụ ồn ào và lộn xộn xung quanh nó chỉ là để che giấu một lối đi ư?"
    "Hãy kiên nhẫn. Chúng ta sẽ biết khi đến chỗ tận cùng của nó”. Ông rọi đèn về phía đối diện, chúng tôi thấy một chiếc cầu thang. "Hãy xem kìa nó không kết thúc ở đây mà tiếp tục kéo dài hơn nữa". “Lạt Ma Yonten và Đạt Lai Lạt Ma ân cần hỏi thăm tình trạng sức khỏe của tôi sau cú ngã đột ngột đó, rồi lớn tiếng cám ơn "Tam Bảo Ba Ngôi” của Đạo Phật vì đã phù hộ độ trì cho tôi.
    Chúng tôi thận trọng đi dọc lối đi, Sherlock Holmes cầm đèn đi trước, những người còn lại bám sát đằng sau. Mặc dù lối đi rất dài nhưng nó thẳng tắp và bằng phẳng thậm chí không có lẩy một chỗ rẽ, một chỗ lồi lõm mấp mô trong suốt quãng đường.
    Các bức tường được xây dựng với một độ chuẩn xác chắc chắn sẽ khiến một kỹ sư hiện đại phải ganh tị. Trong khi chúng tôi tiếp tục đi tới, ánh sáng từ chiếc đèn lồng phản chiếu lung linh như hồ quang trên bề mặt bức tường. Tôi tiến đến gần chạm thử tay vào bức tường và vô cùng kinh ngạc khi phát hiện nó nhẵn nhụi và bằng phẳng như thế nào - phẳng hơn cẩm thạch, thậm chí hơn cả thuỷ tinh. Không hề có một vét nối hay khe nứt, không có một sự đứt quãng nào trên bề mặt đều đặn một cách rất không bình thường của nó. Rõ ràng đó là tác phẩm của một người có kiến thức uyên thâm về kỹ thuật. Tôi bắt đầu nhẩm tính trong đầu tất cả những thông tin cho tới nay tôi đã thu được về nền văn minh Tethyia, và cố sắp xếp lại theo một trật tự có tính hệ thống.
    Đột nhiên Sherlock Holmes dừng lại và ra hiệu cho chúng tôi giữ im lặng. Rồi ông chiếu ánh sáng xuống sàn, cũng như ngôi đền bên trên, nó được phủ một tấm mền tuyết mịn và mỏng. Chắc chắn là chúng tôi đang ở một nơi mà những đống tuyết bị cuốn đi, rồi bằng cách nào đó lại tìm đường ùa vào hành lang bí mật này.
    "Ông nghĩ gì về điều này?” Holmes hỏi, chỉ vào những dấu chán khác nhau in trên lớp tuyết mỏng.
    "Chắc chắn có ai đó đã đi trước chúng ta rồi," tôi lo lắng.
    “Tôi e là không chỉ một người. Có ba loại dấu chân khác nhau. Tôi cũng chỉ nhìn thấy chúng cách đây một lúc thôi. Một trong số này rõ ràng là một người què. Xem này dấu chân phải bị lệch và cũng mờ hơn bởi vì hắn kéo lê cái chân đó".
    "Moriarty?” tôi thốt lên, kinh hoàng.
    "Chính thế. Như tôi đã đoán trước, Tên ác ma đã nhanh hơn chúng ta. Một trong những kẻ đồng hành đi trước dẫn đường, hắn theo sau, còn kẻ thứ ba tập hậu. Không hề có dấu chân nào khác".
    "Ông có nghĩ Amban đi cùng hắn không?” Lạt Ma Yonten hỏi.
    “Có thể nói chắc là không. Hai dấu chân kia mang cùng loại giày - loại giày ống đế vải rẻ tiền của Trung quốc, tôi nghĩ thế; mà lại mòn vẹt cả. Tôi đã thấy binh lính Trung quốc mang loại này rồi”.
    Tôi chẳng còn hồn vía gì khi nghĩ tdi mối nguy hiểm đáng sợ đang rình rập phía trước, nhất là khi những kẻ bất lương đã chuẩn bị tất cả những phương tiện để ra tay độc ác chống lại chúng tôi lại đang luẩn quất đâu đày trong đường hầm.
    “Liệu có hay hơn không nếu chúng ta…" tôi bắt đầu đưa ra đề nghị.
    “Chúng ta đang làm thế đấy," Holmes ngắt lời có phần cộc cằn. Ông rút súng lục từ trong áo choàng ra rồi lên đạn. “Tốt nhất chúng ta cứ tiến lên một cách thận trọng. Hurree à, ông có vũ khí chưa?”
    "Rồi, thưa ngài," tôi nhẫn nhục đáp, lôi khẩu súng lố bịch ra khỏi thắt lưng và bắt đầu kiểm tra máy móc để chuẩn bị cho cuộc chạm trán sắp tới.
    "Hurree, ông hãy bảo vệ phía sau. Nếu có chuyện gì đó xảy ra với tôi, ông phải ngay lập tức đưa Đức Đạt Lai Lạt Ma và Lạt Ma Yonten rời khỏi nơi này. Nào hãy đóng nắp đèn lại. Chúng ta sẽ phải mò mẫm đi trong bóng tối thôi".
    Chúng tôi thận trọng di chuyển dọc theo cái hành lang đang dần dần - hầu như không thể nhận thấy được - trở nên rộng rãi hơn và sáng hơn một cách khó hiểu hoặc chỉ là do tôi tưởng tượng ra. Chúng tôi càng tiến về trước, cảm nhận này càng rõ rệt hơn. Không tin vào thị giác của mình, tôi ngập ngừng nói cho ông Holmes biết nhận xét của mình về ánh sáng trong đường hầm. Ông cũng đã chú ý đến điều đó.
    "Ông nói đúng, Hurree ạ, và nó đang dần sáng hơn ở hành lang phía trước. Chúng ta phải đề phòng gấp đôi. Ánh sáng sẽ khiến chúng ta dễ để lộ mình hơn và dễ bị tấn công hơn”
    Chúng tôi dò dẫm tiến lên trong khoảng nửa giờ. Đến đây hành lang trở nên rộng đến nỗi có kích thước của một thánh đường lớn. Vào lúc này, việc xác định nguồn sáng từ đâu tới thật dễ dàng. Cao đến trăm mét trên đầu chúng tôi là một mái vòm bằng băng khổng lồ, trong suốt; ánh nắng mặt trời xa xăm trên trần xuyên qua nó, tạo ra một thứ ánh sáng nhạt nhoà trong cái hang động khoét sâu trong lòng đất này Chúng tôi rón rén tiến dọc bức tường bên trái của hành lang khổng lồ, ánh mắt căng thẳng chốc chốc lại nhìn lên tạo tác tự nhiên dị thường này, cái ý nghĩ rằng có hàng triệu tấn băng đá dễ vỡ đang treo lơ lửng trên đầu, bất cứ lúc nào cũng có thể đổ xuống khiến tôi đâm ra nghi ngờ về tính hợp lý trong việc chúng tôi đang làm. Lối đi dẫn đến một lỗ hổng hẹp trổ vào bức tường - có vẻ như đó là một khe nứt trên đá - nhưng với những nét cắt đều đặn của một kiểu cửa ra vào nào đó. Có lẽ nó là điểm bắt đầu của một lối rẽ, hoặc là cửa dẫn đến một căn phòng.
    Sherlock Holmes dừng lại ở lối đi nhỏ trước lỗ hổng rồi quỳ một chân xuống, cẩn thận kiểm tra lớp tuyết trên sàn nhà.
    “Tôi không thích điều này chút nào. Đến đây các dấu chân không còn tiến thẳng về phía trước như trước nữa mà nối theo nhau theo một vòng tròn. Rõ ràng bọn chúng dừng lại ở đâu để hội ý”.
    Trong khi ấy, tôi mon men tiến đến gần lối đi trổ ở bên hông, thử nhìn vào bên trong. Tôi chí vừa toan bước qua cái cửa trổ thì Sherlock Holmes đã hét lên cảnh báo:
    "Dừng lại, Hurree! Đó là một cái bẫy!”
    Theo bản năng tôi giật lùi về phía sau, thật vô cùng may mắn. Vì có hai phát súng vang đinh tai nhức óc, những viên đạn rít lên xèo xèo, sượt qua tấm thân bồ tượng của tôi. Tôi nặng nề ngả lưng vào tường, cố điều hoà hơi thở và nhịp tim đang đập như phát rồ.
    Nép sát người vào bức tường, Holmes rón rén đến cạnh tôi.
    “Moriarty và người của hắn ta đã hội ý ở đây để đặt bẫy chúng ta," ông thì thầm. “Nhưng khi đặt miếng phó mát vào cái bẫy chuột thì cũng chừa lại chỗ cho con chuột. Lối vào kia có dụng ý "nhử" quá rõ ràng. Các dấu chân cũng cung cấp thêm một bằng chứng hữu ích nữa".
    "Nhưng lúc này chúng ta còn có thể làm gì được, thưa ông Holmes?" tôi hỏi. “chỉ là chui đầu vào rọ và dẫn xác đến chỗ nguy hiểm chết người mà thôi".
    “Đừng dễ dàng chịu thua với những dự liệu tiêu cực như thể trước khi cạn kiệt hết sức lực” Holmes nghiêm nghị nói. "Trước tiên chúng ta phải xác định vị trí chính xác của kẻ thù. Hurree à, nếu có thể cúi rạp người xuống đất, ông hãy nhanh chóng ló ra từ một góc và bắn vài phát theo hướng của chúng, việc này sẽ tạo cho tôi cơ hội thực hiện một cuộc khảo sát nhanh. Sẵn sàng chưa? Nào!"
    Tôi nổ liên tiếp ba phát súng vào một góc phòng và lùi về phía sau cho an toàn, chỉ vừa kịp, một loạt đạn súng trường sượt qua tôi, rền vang trong cái hang trống trải kéo dài đến hàng dặm trong lòng băng tuyết. Sherlock Holmes cũng kịp cúi xuống một cách an toàn và hiện ông đứng ép lưng vào tường, đôi mắt tràn ngập nỗi thất vọng.
    “Quỷ tha ma bắt nó đi!" ông kêu lên giận dữ. Không thể tấn công chúng được!”
    “Có chuyện gì thế, chính xác là chuyện gì? Tôi chưa kịp nhìn thấy gì cả”.
    "Nhưng khối băng lớn mà hai tên lính kia đang núp đã bảo vệ chúng an toàn trước những loạt đạn của chúng ta. Không có cách nào tấn công vào bên sườn chúng được, trong khi bọn chúng lại có lợi thế nhằm thẳng mà bắn về phía lối vào. Chúng ta đã bị kẹt cứng ở đâu rồi".
    "Nhưng chúng ta cũng có thể rút lui vào bất cứ lúc nào, chưa ngài,” tôi thốt lên điều nực cười này bất giác giơ tay lên phản đối trong một phản ứng xốc nổi. Tôi phải thừa nhận với bạn rằng chỉ một kẻ thiếu kinh nghiệm như tôi mới có một hành động bất cẩn và ngu ngốc đến thế. Một tiếng nổ rất đanh vang lên, cùng một lúc với cảm giác nóng rát, như thể mu bàn tay trái của tôi bị một thanh sắt nung đỏ dùi vào. Tôi đã bị trúng đạn.
    Trời đất ơi! Tôi nhanh chóng rút cánh tay bị thương về, cái tay còn lại - đang giữ khẩu súng lục, trong một phản ứng cấp kỳ - vội chóp lấy tay kia. Không may trong lúc đau đớn và bấn loạn tôi đánh rơi khẩu súng xuống sàn. Còn không may hơn nữa, món đồ chơi chết tiệt đó đã lên cò và sẵn sàng nhả đạn, vì thế mà không gian khép kín trong hang rung chuyển dữ dội vì một tràng súng nữa.
    "Chuyện quái gì.”. Ông Holmes giạt mình, nép sát vào tường khi loạt đạn rít qua mũi ông và bay vào không trung.
    Vô cùng bối rối và khổ sở gì sự cố không may này tôi cúi đầu thật thấp, giả bộ chú mục vào việc kiểm tra vết thương.
    Nhưng trước sự tuyệt vọng của tôi, phản ứng của Sherlock Holmes đối với sai lầm hậu đậu và hoàn toàn vô tình này của tôi có phần hơi gay gắt, khiến tôi phải ngỡ ngàng. Ông chộp lấy cố áo sềnh xệch lôi tôi một cách dữ tợn qua một bên. Khi đã trấn tĩnh lại vì lối cư xử thô bạo cả về mặt thể chất lẫn tinh thần của bạn, tôi lên tiếng trách móc.
    "Ồ, thưa ngài Sherlock Holmes. Cách cư xử của ông thật không đúng với tính cách của một quý ông người Anh…”
    Tôi còn chưa kịp nói xong thì một tảng băng lớn với hình thù đáng sợ đã đổ ụp xuống ngay tại chỗ tôi vừa đứng. Loạt đạn vô tình kia đã bắn trúng vào mái băng và làm rớt xuống một mảng lớn. Holmes hắn đã thấy trước điều này và cố cứu mạng bạn đồng hành. Tôi chỉ còn biết tự trách bản thân vì thiếu niềm tin vào bạn bè. Làm sao mà tôi có thể, dù trong chốc lát, đem lòng nghi ngờ nhân cách chính trực và đứng đắn của người bạn cao thượng và dũng cảm này
    “Tôi… tôi…" tôi khổ sở lắp bắp một lời xin lỗi.
    Nhưng Holmes chỉ cười ha hả và xoa xoa bàn tay vào nhau.
    “Ha! Ha! Thật xuất sắc! Tôi chưa bao giờ biết đến giới hạn của ông, Hurree ạ".
    "Nhưng…" Tôi ấp úng một câu hỏi. Ông chìa tay ra.
    “Lại một lần nữa, Hurree ạ,” bằng cung cách không ai bắt chước được của mình, ông đã đưa ra một giải pháp, le mot de i’énigme(2).
    "Nhưng.…”
    "Vết thương của ông thế nào, Babuji?” Lạt Ma Yonten ân cần hỏi, cầm lấy cánh tay bị thương của tôi. “Nếu tôi có thể…"
    May mắn thay đó chỉ là một vết thương ngoài da. Lớp da ở mu bàn tay bị xây xát nhưng không chảy nhiều máu. Lạt Ma Yonten bôi lên đó một chút thuốc thảo mộc rồi băng lại bằng chiếc khăn tay của tôi.
    "Nào Hurree," Holmes nạp lại đạn vào khẩu súng cho tôi, “Khi tôi hô lên, cả hai chúng ta sẽ chĩa vũ khí về phía lối ra vào và bắn vài loạt đạn - không phải về phía bọn lính mà lên mái băng trên đầu chúng - sau đó rút lui ngay lập tức".
    Ông đưa cho tôi khẩu súng lục. Tôi quỳ trên sàn ngay gần lối vào. Sherlock Holmes lom khom phía trên tôi, vũ khí nâng sát cằm.
    "Sẵn sàng chưa? Nào!"
    Cả hai chúng tôi thình lình thò đầu ra, mau chóng xả hết nữa băng đạn và vội thụt vào, đúng lúc hai tên lính Trung quốc khạc một tràng đáp trả. Dựa lưng vào bức tường đá lạnh cóng, chúng tôi nín thở chờ đợi.
    Ít giây sau, một tiếng gầm như sấm rền dội qua lối vào, kéo theo sau cả một trận bão tuyết thực sự, bụi tuyết bay lên mờ mịt không trung và trong khoảng một phút chúng tôi không thể thấy gì trước mắt.
    Khi bụi tuyết đã lắng xuống hết, Holmes và tôi, súng lăm lăm trên tay thận trọng đi qua lối vào. Kế hoạch của Holmes đã thành công vượt quá sức mong đợi, hai tay súng người Trung quốc xấu số đã bị chôn vùi trong ngôi mộ băng khổng lồ. Hiệu quả còn lớn hơn nhiều trong căn phòng này, không chỉ vì chúng tôi bắn đi một lượng đạn lớn hơn nhiều mà còn bởi trần hang ở chỗ này cũng thấp hơn nhiều, với những nhũ băng lớn lởm chởm treo lung lẳng bên trên.
    Chúng tôi đi vòng qua nấm mồ băng. Lạt Ma Yonten lẩm bẩm vài lời cầu nguyện, hình như dành cho hai linh hồn đáng thương bị chôn sống trong đó. Ở đầu phía bên kia, cách chỗ chúng tôi khoảng 13 mét là một cái cửa khác, như vậy cái mà chúng tôi tưởng là một căn phòng thật ra chỉ là một kiểu tiền sảnh. Chúng tôi vượt qua tiền sảnh bước vào lối đi mới.
    Lúc này thì chúng tôi đứng trong một vùng không gian kín khổng lồ hình tròn kiểu như đại sảnh, đường kính dễ đến vài nghìn mét, phủ một mái vòm bằng băng vĩ đại, mà ở trung tâm có thể cao đến cả nghìn mét. Đó đây trong căn phòng hình vòm rộng mênh mông này là nhưng bức tượng vĩ đại - có khoảng hai mươi cái - tạc hình những chiến binh dữ tợn trong bộ giáp phục lạ lùng. Những bức tượng khổng lồ này có đường nét rất cân đối ngang tầm với những tượng Phật vĩ đại mà tôi đã thấy ở thung lũng Bamiyan tại Afghanistan. Trong khi chúng tôi ngây người quan sát cảnh tượng kỳ vĩ mà vẻ hoành tráng của nó có thể khiến cho mái vòm xinh đẹp và tráng lệ của Hốt Tất Liệt trông như một cái bánh pudding úp ngược thì Lạt Ma Yonten phát hiện ra một cái gì đó.
    “Có một ngọn đèn đang cháy sáng ở chính giữa".
    Tôi áp cái ống nhòm lên mắt nhưng không thể nhìn mọi vật cho rõ ràng. Không khí lạnh và ẩm ướt trong hang đã tạo ra một lớp băng đông cứng nơi thấu kính. Vả lại, nó củng không phải là loại kính có công dụng mạnh cho lắm.
    "Rõ ràng có một luồng phát sáng lấp lánh rất bất thường ở quanh đây” tôi lên tiếng. “Nhưng tôi không thể xác định rõ cái gì gây ra hiện tượng đó”.
    “Chúng ta sẽ sớm biết thôi” Holmes nói vắn tắt, “bằng cách cứ việc thẳng tiến".
    Sau thoáng hai mươi phút đi bộ, chúng tôi đến trước một cột băng lớn - một măng đá bị cụt, cao khoảng hai mét - nằm trên một bục đá vuông vức cách mặt đất chừng 60 cm. Chiếc cột dường như được tạo ra từ một loại băng không bình thường nào đó, có vẻ ngoài rất giống kim loại và có màu tối, nhưng lại hơi có ánh bạc giống như bầu trời sáng ánh trăng. Cái ánh lấp lánh lạ lùng trên bề mặt cột gây ra ảo giác rằng nó không hẳn là chất rắn mà chỉ là một lối đi dẫn đến một không gian sâu thẳm nào đó. Những đốm sáng nhỏ lấp lánh như sao từ vòm băng phản chiếu lên bề mặt của nó càng củng cố thêm ảo giác đó. Nhưng có một thứ thậm chí còn tuyệt vời hơn đó là cái vật tựa vào nó - hoặc nói chính xác hơn - vật gì đó treo lơ lửng cách đinh cột vài phân. Một khối pha lê toàn bích có kích thước bằng một trái dưa lê đang phát ra luồng sáng rực rỡ từ một ngọn lửa bên trong, cùng với vô số mặt cắt hoàn hảo trên bề mặt, nó phân bố ánh sáng thành vô vàn những dạng hình huyên ảo.
    “Đó chính là Nobru Rimpoche (Skt. Chintamani)” Lạt Ma Yonten thì thào, giọng như nghẹn lại vì một xúc cảm thiêng liêng. "Hòn đá quyền năng vĩ đại của Shambala”
    “Nhưng đó chỉ là một truyền thuyết mà thôi," tôi nói, giọng hoài nghi, bởi đó là một câu chuyện hoang đường tôi thường được nghe trong thời gian lưu lại ở dãy Himalaya và vùng Trung Á”(3)
    “Không, Babuji ạ". Lạt Ma Yonten ngắt lời. “Tôi nhận ra hòn đá này từ bản miêu tá trong cuốn Đại pháp thời luân. Nó miêu tả việc sứ giả từ Shambala đã đặt hai Hòn đá như thế này mỗi hòn ở mỗi cực siêu linh trong hành tinh chúng ta. Hòn thứ nhất đã bị mất khi lục địa linh thiêng Ata-Ling bị những ngọn sóng thần nuốt chửng. Hòn thứ hai được mang đến Tây Tạng nhưng người ta tin răng nó đã được đưa trở lại Shambala khi thế lực ác ma giành được quyền lực trên mảnh đất của chúng tôi".
    “Từ trước đến nay bao giờ nó cũng ở đây cả,” Holmes trầm ngâm đáp. “Giấu kín mình trong hang động mênh mông này và đây mới là Ngôi Đền Băng xứ Shambala đích thực. Hầu như có thể đoan chắc rằng vị trí và sự bí mật về ngôi đền đã bị mất đi cùng với cái chết của Đạt Lai Lạt Ma thứ chín; và từ đó về sau, căn phòng bên ngoài đã bị hiểu sai là ngôi đền thật”.
    “Có quả nhiều thứ đã mất đi cùng với sự băng hà của Đức Đạt Lai Lạt Ma thiêng liêng đời thứ chín” Lạt Ma Yonten lắc đầu buồn bã. “Nhưng hiện giờ việc phát hiện ra Ngôi đền Thật và Hòn đá quyền năng là một bảo đảm bằng vàng cho quyền lực của Đức Đạt Lai Lạt Ma và hạnh phúc tương lai của đất nước chúng tôi. Đó là nhờ công của ông, ông Holmes ạ, Ông và người bạn đồng hành dũng cảm của ông".
    “Vậy không có lời cám ơn nào dành cho ta sao?” - Một tiếng cười khàn khàn, giễu cợt cất lên, phá vỡ không khí thiêng liêng của ngôi đền. “Cho ta, người đầu tiên phát hiện Hòn đá quyền năng Vĩ đại”

    Chú thích:
    (1) Vajra ban đầu là vũ khí ám sát của Indra, vị chúa thần của người Ấn Độ tương tự như thần Zeus trong thần thoại Hy Lạp. Các tín đồ phật giáo đã biến đổi nó thành biểu tượng về sức mạnh tâm linh cao nhất “Quyền trượng kim cương" vũ khí vô địch không gì có thể chống lại được. Vajra gấp đôi hay chữ thập (tiếng phạn: visva-vajra) là biểu trưng cho tính bất biến, vì vây thường được dùng trong các thiết kế ngai vàng và ghế ngồi được chạm khắc trên đế tượng, cột, nền nhà, bất cứ nơi nào mà người ta muốn nó tồn tại vĩnh viễn với thời gian
    (2) le mot de i’énigme (tiếng Pháp): lời giải câu đố
    (3) Những huyền thoại về hòn đá Chintamani thịnh hành, thậm chí vượt ra ngoài bờ cõi những nơi này. Người ta tin rằng Tamerlane và Akbar sở hữu những mảnh vỡ của một hòn đá như thế, cả hòn đá gắn trên chiếc nhẫn pháp thuật của Salomon cũng là một mảnh của Chintamani. Nicholas Roerich, một nhà du hành đồng thời là họa sĩ và nhà thần bí nổi tiếng vùng Bạch Nga đã tin rằng Chintamani là Lapis Exilis “Hòn đá lang thang của những danh ca thời xưa.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  3. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Khai tuệ nhãn (1)



    Chương 22
    Khai Tuệ Nhãn

    Cả Sherlock Holmes và tôi đều nâng súng lên khi cái dáng còng queo, nhợt nhạt của Giáo sư Moriarty - một Napoleon của Tội ác hay Tên ác ma - từ sau chỗ cột đá mà hắn ta đang nấp tập tễnh lê bước ra giữa như một diễn viên tiến ra sân khấu.
    "Các cuộc hành trình thường kết thúc trong cuộc gặp gỡ giữa những người yêu nhau” Moriarty nói, với một niềm vui giả tạo. "Tuyệt lắm. Một cuộc họp mặt hoàn hảo như thế này hiếm ai có thể mong đợi, kể cả khi ta có gửi lời mời đến mọi người đi chăng nữa. Thành phần ư, trước tiên phải kể đến Sherlock Holmes, hiệp sĩ Don Quijote - lúc nào cũng lăng xăng hối hả trong sứ mệnh cứu rỗi nhân loại và tên giám ma Sancho Panza người Hindu béo phục phịch của hắn - một kẻ mà ta có nợ một món nho nhỏ nào đó - và a… phải ngoài ra còn Lạt Ma Yonten, con khỉ khéo bày trò của thằng nhóc hỗn xược kia… chậc chậc. Đạt Lai Lạt Ma cuối cùng của Tây Tạng”
    “Hurree, nếu thấy hắn nhúc nhích một ngón tay thì cứ nổ súng nhé," Sherlock Holmes nói dứt khoát, nâng khẩu súng lên và dùng thân mình che chở cho Đạt Lai Lạt Ma.
    "Rất vui lòng, thưa ngài,” tôi đáp giọng cương quyết, chĩa khẩu súng thẳng về phía Moriarty.
    Nhưng hắn nhìn chúng tôi, khinh bỉ. Dưới ánh sáng của Hòn đá quyền năng, trông hắn thậm chí còn xấu xí kinh tởm hơn so với lần chạm trán mới rồi với chúng tôi ở toà công sứ, cả thân hình méo mó của hắn đầy những vết thương và vết cháy rọp.
    "Bọn bay nghĩ ta cần phải thực hiện nhưng hành động ngu ngốc và ấu trĩ như thế ư? Không tin ta à. Hay xem đây!”
    Nghe có tiếng rì rầm chuyển động trong khoảng không giữa cặp mắt hắn và Hòn đá quyền năng; và rồi tử Hòn đá một làn sóng mãnh liệt của một loại năng lượng nào đó bắn ra, giáng thẳng vào tay chúng tôi. Súng ống của chúng tôi biến mất trong nháy mắt.
    “Ta đảm bao, thưa quý ông," Moriarty nói với vẻ lịch sự giả tạo “Các nguyên tử tạo thành kim loại trong vũ khí sơ đẳng của các ngươi đã bị cắt vụn và phát tán đến những chỗ xa xôi nhất của vũ trụ. Nếu nói đây là một kiểu biểu dương lực lượng thì hơi quá. Các ngươi phải tha thứ cho ta vì sự phô diễn trẻ con này. Không phải ngày nào người ta cũng phát hiện được luồng năng lượng quyền lực nhất thế giới đâu.
    "Mặc dù thiên hạ thường cho rằng Hòn đá quyền năng Vĩ đại của Shambala đã mất tích hoặc đã trở lại Shambala, nhưng ta, sau một thời gian dài nghiên cứu gian khổ, đã biết rõ nó vẫn đang tồn tại. Trong những nghiên cứu độc đáo của mình, ta cũng phát hiện ra rằng mấu chốt để biết được vị trí của nó nằm ở trong cuộn giấy vẽ treo trong điện thờ của Đạt Lai Lạt Ma tại Cháu Viên. Trong nỗ lực giành lấy mandala, ta bắt buộc phải loại bỏ Đạt Lai Lạt Ma - tiền bối của thằng nhóc con này - kẻ xấu số mà lúc ấy đang ở trong gian điện thờ, cầu nguyện cho tất cả những sinh linh trong cái cõi ta bà đau khổ này. Ta cũng ra tay hạ độc thủ cái tên xuẩn ngốc – Gangsar trulku - bạn đồng môn của ta, kẻ đã dại dột đi vào điện thờ và vì ông chủ đáng thương của hắn mà không quản tài hèn sức mọn xả thân cứu chúa.
    “Thật không may, vào phút cuối, ta vẫn bị ngăn cản không đoạt được bức tranh cuốn, chỉ tại tên Đại pháp sư của Viện Khoa học Thần bí – quỷ tha ma bắt lão đi! Lão già nhân lúc ta sơ ý đã huỷ đi ký ức và sức mạnh của ta. Thật may cho lão già lẩm cẩm vì lao đã ngủm rồi, bởi vì ta còn nhiều ân oán với lão lắm. Nhưng cho dù một phần ký ức của ta bị phân tán khắp nơi, ý niệm mơ hồ về cuộc tìm kiếm trước đây vẫn như ánh hào quang yếu ớt trong trí nhớ của ta. Sau đó ta đào thoát đến Trung quốc và ổn định dần cuộc sống ở Anh, nhưng như một ám ảnh, ta phải chịu một sức hút không sao cưỡng được buộc ta dấn thân vào nghiên cứu một cách khoa học về pha lê và những hòn đá kỳ lạ - thậm chí cả những mẩu đá ngoài trái đất(1) - nó đã mang lại cho ta chút thú vui nho nhỏ. Rồi ngươi, Sherlock Holmes ạ, ngươi đã phục hồi quyền lực cho ta, giúp ta một lần nữa lại có thể bắt tay vào cuộc tìm kiếm thật sự - và đi đến hồi chung cuộc".
    Moriarty cà nhắc lết đến chỗ cột đá nguyên khối, vươn tay nhấc khối pha lê lên.
    "Dừng lại! Nó thuộc về Shambala” Lạt Ma Yonten kêu to. “Ngươi không được mạo phạm nó bằng đôi bàn tay ô uế của mình”.
    "Lão già ngu ngốc!" Moriarty hét lên, giọng nghiệt ngã, mặt hắn méo xệch đi trong cơn cuồng nộ cùng với sự đề phòng độc địa, bộ mặt lịch sự giả tạo đang tróc ra từng lớp. “Chính ngươi và lòng mộ đạo chó chết của ngươi đã ngồi chồm hỗm trên một sức mạnh lớn nhất địa cầu và lãng phí nó. Lòng từ bi ư! Niết bàn cho cõi thế ư. Úi chà! Toàn những điều nhảm nhí. Với tài năng và nỗ lực của riêng mình, ta đã phát hiện Hòn đá quyền năng và chỉ mình ta có quyền sở hữu nó. Nó sẽ được sử dụng như nó ra đời để phục vụ cho mục đích đó - vì quyền lực tối thượng”.
    Nâng Hòn đá bằng cả hai tay, Moriarty giơ cao nó trên đầu, cho tới khi toàn bộ thân hình hắn tắm trong luồng sáng huyền ao rực rỡ của nó. Trước mắt tôi dường như cái thân hình méo mó dị dạng đó đang bốc cháy trên một giàn thiêu dữ dội, nhưng những ngọn lửa này không phá huỷ - mà chữa lành, chúng hồi phục lại những gì méo mó, bất toàn, không trọn vẹn. Tôi không thể tin vào mắt mình nữa, nhưng những gì đang diễn ra trước những cặp mắt sửng sốt của chúng tôi là thật. Từng giây từng giây trôi qua, cái lưng gù gập của Moriarty dần dần vươn thẳng ra cho đến khi thân hình hắn đứng đó, cao, thẳng tắp. Những thớ thịt mềm nhẽo, tái nhợt của hắn nở đều, căng ra với những bắp thịt săn chắc và lẳn đã ửng lên một màu hồng thanh tân; vai và bắp tay nở rộng, bộ ngực hom hem của một tên nghiện căng lên như một cánh buồm no gió. Nhưng nếp nhăn, vết sẹo và đường nét dị dạng khác biến mất trên khuôn mặt hắn, và giờ đây nó đã trở thành một khuôn mặt trẻ trung, đẹp đẽ và bừng sáng.
    Duy chỉ có đôi mắt là vẫn lưu lại cái về tối tăm và hiểm độc như cũ, giọng nói y vẫn cay nghiệt và nhạo báng.
    “Này, trước khi ta khuất phục lũ các ngươi bằng sức mạnh khủng khiếp của Hòn đá - mặc dù phải nói hiệu quả của nó sẽ hơi khác trong trường hợp của các ngươi đấy - có lẽ khai hoá cho các ngươi cũng là chuyện nên làm. Biết đâu, đó sẽ là một niềm an ủi cho các ngươi khi biết được tác dụng cụ thể của cái sức mạnh kia nó sẽ tính sổ tất cả những món nợ của các ngươi với Tự nhiên. Ta sẽ không làm các ngươi phải buồn chán đâu, vì thế hay giỏng tai lên mà nghe…”
    Sau đó hắn bắt đầu một bài thuyết giảng dài lê thê, trên thực tế là một mớ hổ lốn nhưng ý tưởng quái dị với những giần thuyết man rợ, mà hán ta - với cái vẻ xem mình là chúa tể thế giới - là coi khoa học hơn các quy luật khoa học được phát minh bởi những nhà tư tưởng lớn của nhân loại như ông Dalton(2) hay thậm chí cả Newton. Dĩ nhiên, toàn những chuyện nhảm nhí chúng tôi. Và tôi đi tới một kết luận thuyết phục rằng mánh lới và tiểu xảo của hắn là kết quả của những kiến thức về tà thuật và thế lực của những ma vương, yêu quỷ trong môn phái của hắn. Chẳng có mảy may luận cứ khoa học gì trong mớ lý thuyết rắm rối ấy. Tôi muốn nói, thậm chí hắn còn mạnh miệng nói rằng sóng ánh sáng là những dao động từ tính và điện tính, trong khi cả bàn dân thiên hạ đều biết ánh sáng chỉ là các màu (VIBGYOR) như một sự thật hiển nhiên đã được chứng minh bởi Isaac Newton trong cuộc thí nghiệm lăng kính nổi tiếng của ông. Nhưng chưa hết, điên rồ hơn nữa là ý tưởng cho rằng suy nghĩ của con người chỉ đơn thuần là sự phóng điện trong các tế bào não. Thử hỏi làm sao một nhà khoa học như tôi lại có thể chịu nổi những ý tưởng điên rồ phản khoa học đến vậy”.
    Nếu Moriarty đúng thì tất cả những gì chúng ta phải làm để có được cảm hứng tinh thần chỉ là ấn ngón tay ta vào một trong những cột pin của Signor Galvani(3) Dù thế sao đi nữa, tôi cũng xin chép lại toàn bộ bài thuyết giọng điên loạn của hắn, ngõ hầu đem lại cho độc giả tiếng cười tiêu khiển. Nhưng điều này được hắn thuyết trình với dáng điệu hạ cố nhất của một học giá rởm đời, làm ra vẻ như mình nắm được toàn bộ kho tàng kiến thức của nhân loại nhưng lại chẳng khiến ai ngạc nhiên.
    Hòn đá quyền năng về cơ bản là một khối pha lê” Moriarty bắt đầu nói với chúng tôi với giọng điệu mà người ta chỉ có thể dùng khi nói với những thằng ngốc chốn quê mùa. "Về mặt cấu trúc, thật ra nó là một khối hình thoi có mười hai mặt. Mặc dù, một số thành tố nhất định trong thành phần cấu tạo nên nó không thuộc về thế giới này những thuộc tính độc nhất vô nhị của nó xuất phát từ bản chất tự nhiên với tư cách là một khối pha lê chứ không phải từ gì khác. Nói đến những kiến thức về pha lê, khoa học của chúng ta cho tới nay vẫn còn trong thời kỳ trứng nước, mặc dù cấu trúc hình học đặc biệt của pha lê đã kích thích sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng. Chẳng phải năm thể rắn lý thuyết mà Plato đã nói đến rất nhiều chỉ là những dạng tinh thể khác nhau hay sao? Và chúng ta không được quên kim cương. Nó chỉ là tinh thể các-bon, nhưng cho tới nay vẫn là loại đá quý giá nhất trên trái đất. Pha lê có được những thuộc tính độc nhất vô nhị từ cấu trúc lưới đối xứng của phân tử. Những nguyên tử của cấu trúc lưới càng được nén chặt với nhau hơn thì những đặc tính của pha lê càng bộc lộ rõ ràng hơn.… và… à… sức mạnh đặc biệt của nó càng mãnh liệt. Ví dụ, nếu cấu trúc các phân tử các-bon lỏng lẻo, chính là vì nó thiếu một cấu trúc lưới và kết quả nó chí là than đá hay nhọ nồi. Với một áp lực lớn hơn, kết cấu dạng lưới xuất hiện trong cấu trúc phân tớ các-bon và kết quả là cho ra than chì.
    Khi phân tử các-bon chịu áp lực cực lớn và cấu trúc lưới được nén chặt lại, kim cương sẽ được hình thành. Nhưng nếu các phân tử và nguyên tử trong kết cấu dạng lưới nén chặt với nhau vượt quá một cái ngưỡng nào đó thì một số tinh thể sẽ phát triển những đặc tính siêu việt. Chẳng hạn, tinh thể của khoảng chất Spar ở Iceland chỉ cho phép một mức ánh sáng nào đó đi qua nó.
    Các ngươi có thể sẽ hứng thú khi biết rằng, mặc cho tất cả những quan điểm ngu xuẩn cho là ngược lại mới đúng, sóng ánh sáng gồm có những dao động từ tính và điện tính xảy ra trong tất cả mặt phẳng khả dĩ chứa các tia. Do đó tinh thể của Spar sắp đặt nhưng dao động từ và điện ngẫu nhiên theo trật tự khi ánh sáng xuyên qua nó(4). Những loại tinh thể khác, như thạch anh chẳng hạn, cũng chứng tỏ khả năng sắp xếp những dao động điện.
    Hòn đá quyền năng là tinh thể tối hậu có khả năng sắp xếp, khuếch đại và tập trung các dao động điện có một tính chất đặc biệt, vượt ngoài mọi giới hạn có thể hiểu được. Ta đã nói là những dao động điện cần cho Hòn đá quyền năng là một loại bước sóng đặc biệt. Đúng thế, về cơ bản, năng lượng tinh thần chứa đựng hàng triệu triệu những sự phóng điện cực nhỏ xảy ra mỗi gian trong não chúng ta, và những bước sóng đặc biệt cần thiết để kích hoạt Hòn đá quyền năng. Với đại đa số bọn người phàm phu tục tử không hề có năng lực điều khiển những hoạt động tâm linh, lợi ích của Hòn đá này đối với bọn chúng có khác nào một bài toán mẹo đối với một con bò. Nhưng với một bậc thầy được đào tạo bài bản về khoa học thần bí, người không chỉ có khả năng phóng những xung lực nao ra khỏi não bộ mà còn hướng chúng đến nơi ông ta muốn, khối pha lê này trở thành Hòn đá của quyền lực tối thượng. Và nó là của ta".
    Trong lúc Moriarty say sưa như kẻ lên đồng trong bài thuyết giảng toàn những lời khoác lác phô trương, tôi đã đi tới một kết luận không thể khác được rằng tất cả chúng tôi đều đáng bị đày xuống hoả ngục nếu không cố làm một điều gì đó, mà phải làm ngay cấp kỳ. Nhưng chúng tôi còn có thể làm gì chứ? Tôi nhìn Holmes vẻ cầu cứu, xem ông có kế hoạch gì không. Nhưng rõ ràng là ông chẳng thể làm gì qua mặt Moriarty, vì tên giáo sư điên loạn cập trung toàn bộ sự chú ý vào khắc tinh của hắn. Trên thực tế đối tượng của sự tự tôn quá đáng và những lời ba hoa xích đế của hắn chính là nhằm vào thám tử vĩ đại Sherlock Holmes.
    Những người còn lại - trong đó có cả tôi - về mặt trí tuệ mà nói chỉ là con sâu cái kiến trong mắt hắn. Đó là một nhận thức nhục nhã, nhưng nó lại có tác dụng kích thích cho một ý tưởng nổi loạn trong tôi.
    Một lần nữa chính là tôi chứ không phải ai khác, Hurree Chunder Mookerjee (M.A) này sẽ dạy cho Giáo sư Moriarty ngạo mạn một bài học nhỏ về sự khiêm nhường của người Cơ đốc giáo và phép lịch sự thông thường.
    Sherlock Holmes đang đứng đối diện với Moriarty, cách hắn chừng sáu mét. Ngay sau Holmes là hai Lạt Ma, mà tôi tự hào tuyên bố rằng cả hai đều đứng thẳng một cách dũng cảm không hề để lộ ra ngoài một dấu vết mầy may nào của nỗi kinh hoàng ắt hẳn đang tràn ngập trong lòng họ. Tôi đứng bên phải hai người, cách khoảng vài mét, một khoảng cách mà tôi đã có kéo dài ra một cách chậm rãi bằng cách khéo léo nhích đi từng chút một hầu như không ai nhận thấy. Khi nhận định rằng mình không thể di chuyển thêm một bước nào nữa mà không lọt vào sự chú ý không có gì là thiện cảm của Moriarty thì cũng là lúc tôi đã vượt ra khỏi tầm nhìn thẳng trước mặt hắn, thế là tôi nín thở và "dấy loạn binh đao”.
    Tôi đang giữ chặt chiếc đèn sẫm màu bên tay trái. Nhanh chóng chuyển nó sang tay phải, tôi ném mạnh về phía giáo sư.
    Như độc giả có thể đoán được, tôi đang cố lặp lại vụ cháy thành công trước đó tại Toà công sứ Trung quốc. Nhưng chao ôi mọi việc không xảy ra như ý muốn. Một lần nữa, tôi lại ném trượt mục tiêu. Chiếc đèn dụng vào chiếc cột nảy lên, kêu leng keng một cách vô dụng trên mặt đá. Chẳng hề có một đám lửa dữ dội hay một tia lửa yếu đi bùng lên từ ngọn đèn quái quỷ đó. Tôi đã quên mất rằng những ngọn đèn xách tay hiện đại này được thiết kế vững chắc an toàn như thế nào. Moriarty - thật đáng nguyền rủa - không hề cúi xuống hoặc tỏ ra nao núng lấy một giây trước cuộc tấn công của tôi, mà chỉ cười ha hả theo cái kiểu rất hiểm độc của hắn.
    “Mi thật tử tế làm sao, khi nhắc ta nhớ tới món nợ chưa được thanh toán giữa hai chúng ta. Suýt nữa thì ta quên mất. Nào…"
    "Cẩn than đấy Hurree!” Holmes lét lớn. Nhưng đã quá trễ, quá trễ mất rồi.
    Một luồng sáng mãnh liệt phát ra từ đôi mắt của Moriarty hướng đến Hòn đá quyền năng. Bất thình lình, một quả cầu lửa thoát ra từ Hòn đá. Nó đánh trúng ngực tôi và hất mạnh tôi về phía sau. Hình như tôi đã bất tỉnh mất một lúc, rồi tôi cảm thấy đau rát trong lục phủ ngũ tạng. Cơn đau chạy khắp người tôi như chất cháy do súng phun lửa phóng ra. Sherlock Holmes cúi xuống, tôi vẫn đang trong tư thế nằm ngửa tơ hơ, trên khuôn mặt cương nghị của ông hiện lên vẻ bất lực và đau đớn vô cùng.
    "Hurree, bạn của tôi. Ông có nghe thấy tôi nói không?”
    Tôi ngửi thấy mùi thịt cháy khét lẹt trên lồng ngực bị rách toạc của mình và biết rằng thế là hết; rằng tôi đang bắt đầu cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời.
    “Tôi sắp chết rồi, ông Holmes," tôi nói giản dị. Nhưng mọi việc dường như không đơn gian như vậy vì tôi đã nghe tiếng Moriarty the thé phản đối rằng chung cục của tôi không thể chóng vánh như vậy.
    "Không không, anh bạn thùng phi của ta. Đâu có nhanh đến thế được. Ngươi sẽ bị đốt cháy một lúc lâu trước khi đi đời nhà ma. Lửa than đá. Ôi! Lửa than đá. Ha! Ha! Ha".
    Ngay cả trong những giây phút cuối cùng, sự bình an hay một niềm an ủi nhỏ cũng khước từ tôi nốt. Tiếng cười điên khùng xé toạc bầu không khí, dội đến tất cả mọi điểm trong khối băng khổng lồ này, lấp đầy không gian với những tiếng vọng được phóng đại đến mức khủng khiếp.
    “Ai sẽ là người tiếp theo đây?” Moriarty cười khùng khục một cách gớm ghiếc. “Không. Không phải ngươi đâu. Holmes. Ngươi sẽ là người phải chứng kiến nhưng cảnh này cho đến tận phút chót. Ngươi cũng phải cảm nhận nỗi đau đớn khủng khiếp mà ngươi đã gây ra cho bạn bè bởi sự can thiệp láo xược của ngươi vào công việc của ta. Nhưng chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ? Thử nghĩ coi nào. Giờ chúng ta sẽ mục sở thị cảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu cuộc hành trình đến những cánh đồng hoa trên thiên giới, điều mà người ta đã dày công rao truyền trên đất nước này với những mỹ từ cực kỳ hấp dân chứ nhỉ”.
    “Ông Holmes?" Lạt Ma Yonten kêu lên, tuyệt vọng. Ông phải cứu Đức Ngài".
    “Lão già ngu độn!" Moriarty cười khanh khách. “Người có thể chờ đợi gã người Anh này làm được gì để chống lại sức mạnh của ta - và sức mạnh của Hòn đá quyền năng chứ?”
    "Hãy nghe tôi” Lạt Ma Yonten kêu lên với Sherlock Holmes vừa mãnh liệt vừa tuyệt vọng. "Ông không phải là người Anh. Ông là một người trong chúng tôi. Ông cũng có sức mạnh”.
    "Mi nói gì thế, con khi già kia?” Moriarty rống lên, nhưng toàn bộ tâm trí của Lạt Ma Yonten chỉ tập trung vào Sherlock Holmes, người mà ông đang điên cuồng nắm lấy vạt áo choàng Ladakh giật mạnh. Đây là lần đầu tiên và duy nhất tôi chứng kiến cảnh Sherlock Holmes bị sốc. Miệng ông hé mở, đôi mắt mở to đờ đẫn, ngây dại, trong khi Lạt Ma Yonten kiên nhẫn một cách tuyệt vọng, cố nói với Sherlock Holmes về niềm tin xác tín nhưng có phần hơi điên dại của ông.
    "Ông Holmes, Sherlock Holmes. Hãy nghe tôi nói đây! Ông không phải là Sherlock Holmes. Ông chính là Gangsar truklu danh tiếng, cựu tu viện trưởng của Tu viện Bạch Phượng Hoàng một trong số ít nhưng pháp sư vĩ đại nhất của khoa học huyền bí. Tên ác ma đã giết ông cách đây mười tám năm, nhưng ngay trước khi sức mạnh rời khỏi cơ thể ông, chúng tôi đã kịp thời di chuyển nó - bằng phương pháp pho-wa của yoga(5) - đến một thần xác khác ở rất xa”.
    "Tôi không thể nhớ… tôi chẳng nhớ gì hết…" Sherlock Holmes lẩm bẩm và lùi lại vài bước như thể bị chuốc rượu say.
    “Ông không thể nhớ được bởi vì ông đã mất đi ý thức và đã chết khi quá trình pho-wa(6) được thực hiện và Khe hở của Bhramay được khai mở để giải thoát con chim thiêng. Đó là lý do tại sao chúng tôi không thể điều khiển tâm thức sau khi nó được giải thoát mà phải tuyệt đối trông cậy vào sức mạnh của Tam bảo trong việc dẫn nó đến một hình tướng nơi nó có thể cư ngụ được(7). Nhưng đó là điều tốt nhất mà chúng tôi có thể làm vào lúc đó”
    Không biết có phải do cận kề cái chết hay do nỗi đau đớn khủng khiếp mà tôi đang phải chịu dựng khi nằm trên mặt sàn lạnh lẽo đã khiến tôi tiếp nhận câu chuyện kỳ lạ này mà không hề kinh ngạc hay nghi ngờ chút nào. Thật vậy, trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, thậm chí tôi thấy mình bình thản chấp nhận sự thực này. Thế ra, Sherlock Holmes từng là một Lạt Ma ư? Sao lại không chứ? Ông sống độc thân, nét mặt cao quý, nhân cách thánh thiện và trí tuệ vĩ đại. Đúng với lời giáo huấn của Đức Phật về lòng từ bi và yêu thương mọi chúng sinh, ông đã dành cả đời để giúp người yếu đuối, người nghèo và kẻ thế cô để chống lại thế lực của cái ác. Ông bao giờ cũng có ý thức tìm hiểu và làm sáng tỏ đến ngọn nguồn của những vấn đề quan trọng và đem đến cho mọi sự vật ánh sáng của tuệ giác, khả năng tập trung cao độ của ông khiến cho nhiều người suốt đời thực hành luyện tập yoga tự nhận ra rằng so với ông mình cũng chỉ là kẻ mới tập tọng vào nghề. Trên đời này chưa từng có vị Lạt Ma nào thực sự xứng đáng với bộ áo choàng tu sĩ và địa vị của mình hơn người bạn thân thiết của tôi.
    Nhưng ngọn lửa ma quái thiêu đốt cơ thể từ bên trong khiến tôi rơi vào trạng thái mê man mất một lúc. Tỉnh lại, tôi thấy mình được chào đón bởi tiếng cười khả ố khó chịu của Moriarty.
    “Thế đấy, Gangsar, người bạn đông môn thuần thành, năng nổ của ta. Rút cuộc thì ngươi cũng sống sót. Con đường của nghiệp chướng mới thật lạ lùng phải không. Hai kẻ thù lớn nhất của ta rốt cuộc lại là cùng một người. Chẳng phải là quá tiện lợi cho ta thực hiện cuộc trả thù ngoạn mục này hay sao. Người ta không nhất thiết phải đạt đến độ khát máu của hoàng đế Caligula khi ông ta mong muốn cả thành Rome chỉ có một cái cổ để phù hợp với nhu cầu tiết kiệm động tác trong những cuộc trả thù như thế này. Nhưng chúng ta sẽ ưu tiên Đạt Lai Lạt Ma trước đã. Ngươi sẽ phải đợi đến lượt mình, Holmes ạ, hay là Gangsar, hoặc bất cứ tên gọi quái quỷ nào mà ngươi muốn".
    “Holmes sẽ hành động cho những gì trong hiện tại,” bạn tôi nói với một giọng mạnh mẽ, rõ ràng; ông đứng thẳng người lên, đưa tay chống nạnh “và mi sẽ không thể hại cậu bé được đâu".
    Mặc dù đã chết đến mấy phần, chút tàn lực còn lại trong tôi cũng hân hoan vui sướng trước việc hồi phục sức mạnh của Sherlock Holmes. Xem kìa, đôi mắt chim ưng của ông lóe sáng như ngọc quý và tất cả đường nét trên gương mặt đều nổi bật: chiếc mũi hơi khoằm như mũi điều hâu, cái cằm cương nghị cả quyết đôi lông mày cao quý tất cả những đường nét này thậm chí còn như nổi bật hơn bộc lộ tâm hồn cao cả trượng nghĩa của người anh hùng. Cứ như thể về phần mình ông cũng trải qua một phép biến hình kỳ diệu vậy.
    “Ha, ha! Có phải ta đã nhận được một dấu hiệu thách thức không? Đồ ngốc. Đồ ngốc!” Moriarty chế nhạo, lắc lắc ngón tay trỏ dài như thể đang khiển trách một đứa trẻ. “Ngươi tưởng chỉ vì ngươi đã phục hồi ký ức và một số sức mạnh bí ẩn xưa kia mà ngươi có thể chống lại ta ư? Ngươi đã quên Hòn đá quyền năng Vĩ đại ư? Cho dù có sự tổng lợp sức mạnh giữa Viện Khoa học huyền bí với tất tật các Đại pháp sư - còn sống hay đã chết - thì tất cả cũng không thể nào đối chọi được với sức mạnh vô biên của nó. Như vậy thì làm cách nào mi có thể ngăn chặn được ta. Chống lại sức mạnh của nó, dù chỉ một tí ti cũng vượt ngoài khả năng của ngươi. Hãy thử đi này!”
    Một luồng nhiễu động tuôn ra từ mắt hắn, đập vào hòn đá thì chuyển thành một dạng sóng vô hình có năng lượng huỷ diệt hướng về phía Holmes và hai Lạt Ma. Sherlock Holmes giơ tay lên và - như thể ông đã quen làm việc này cả đời (việc mà ông chắc chắn đã làm, có thể nói như vậy) - di chuyển các ngón tay tạo thành ấn(6) như một mật sư đang hành lễ.
    Ngay lập tức, một chướng ngại vật, hầu như có thể cảm nhận được, giống như kiểu một tấm màn năng lượng lung linh xuất hiện trước mặt họ. Sóng năng lượng chạm vào tấm khiên tâm linh gây nên một tiếng nổ như sấm. Holmes và hai Lạt Ma té nhào xuống đất, nhưng họ từ từ đứng lên được và rõ ràng không bị tổn thương nhiều, mặc dù nó có làm cho họ hơi run rẩy.
    "Khá khen cho ngươi, Holmes," Moriarty kêu lên, "nhưng cũng chưa được giỏi giang lắm đâu, nếu ngươi bỏ qua cho nhận xét của ta. Rõ ràng là ngươi chưa thật chuyên tâm thực hành những bài học của Lão đại mật sư. Ngón tay út phải mở ra như những cánh hoa Utpala (Bông sen xanh) sau cơn mưa đầu mùa chứ không phải củ rũ như con giống(9) sau khi bị thiến của một tên thái giám thế gia. Thế nào, chúng ta sẽ thử lại lần nữa chứ!”
    Moriarty liên tiếp vận công kết hợp với sức mạnh vô địch của Hòn đá, Sherlock Holmes lại tiếp tục tung tấm khiên tâm linh để bảo vệ bản thân và các Lạt Ma khỏi sự huỷ diệt. Nhưng sự thật đáng buồn là Moriarty chỉ đang đùa giỡn với Holmes và - như chính hắn đã tuyên bố từ đầu - chỉ sử dụng một phần nhỏ sức mạnh mà thôi. Cả thân hình vươn thẳng với sức mạnh rạng ngời, thỉnh thoảng hắn lại tung ra những đợt sóng năng lượng chết người, nhanh như tia chớp, về phía Sherlock Holmes.
    Nước mắt ràn rụa trên mặt, tôi nhận ra rằng người bạn cao quý của mình đã đến ngày tận số, cùng với ông là Đạt Lai Lạt Ma và Lạt Ma Yonten và tất nhiên sau đó là Tây Tạng, cái đất nước tuyệt vời mà tôi đã dành cho bao nhiêu thời gian và tâm sức của đời mình. Tất cả sẽ chấm dứt theo cách này ư? Bản thân tôi thì nằm vô dụng chờ chết trên mặt sàn lạnh lẽo của hang động này trong khi Moriarty vênh vênh váo váo, như con gà trống choài đậu trên đống phân của nó, cất tiếng ò ó o kệch cỡm mừng chiến thắng. Thật đáng ghét - thật không thể nào chịu nối.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  4. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Khai tuệ nhãn (2)



    Nhưng tôi còn có thể làm gì chứ? Đến nhúc nhích một ngón tay tôi cũng còn không làm nổi nữa là. Hay là tôi cũng có thể làm được điều gì đó chúng tôi nghiến hai hàm răng lại thử nhúc nhích, chỉ để phát hiện ra rằng cả tấm thân to béo của mình chỉ còn là một đống thịt vô dụng, không còn cảm giác hay thực hiện được chức năng gì nữa, trừ cánh tay phải vẫn còn một chút sức lực - ít nhất là trong lúc này. Cào cào trên sàn băng bằng cánh tay phải, tôi cố nhích từng chút về phía trước một cách đau đớn.
    Moriarty hiện đang quay lưng về phía tôi, chậm rãi tiến về phía Holmes và hai Lạt Ma, hai người này đã bị ném về phía sau mỗi người một góc sau mỗi cú dành của Hòn Đá quyền Năng.
    Ôi, khẩu súng lục của tôi! Một vũ khí - hay bất cứ thứ gì đó. Tôi nhìn quanh sàn nhà nhưng chẳng thấy gì có thể thay thế cho vũ khí. Chỉ có chiếc ô cũ kỹ đáng tin cẩn của tôi nằm chỏng chơ trên mặt băng, cách tôi một quãng, hắn nó đã bị rớt xuống đây sau khi chủ nhân của nó bị quá cầu lửa đánh trúng. Lúc này, Moriarty đã ngừng ra đòn, tranh thủ ném vào mặt kẻ thủ những lời chế nhạo, những nhận xét xách mé, báng bổ mà hắn xem như một trò đùa thú vị hay hớm lắm.
    "Ê hê hê, ngươi đã thực hành đủ với bài tập ngón tay chưa, Holmes? Ta thật sự hy vọng như thế, vì ta muốn bài học tiếp theo của chúng ta phải khó hơn một chút. Nào, nó sẽ là gì nhỉ? À ta nghĩ ra rồi. Ngươi sẽ thích món này đây Holmes ạ. Chắc chắn nó sẽ làm cho ngươi hào hứng hơn. Ha ha ha”.
    Trong khi cái mái vòm bằng băng cao vòi vọi trên đầu nhại lại và phóng đại âm thanh tiếng cười của hắn một lần nữa thì một chùm tia lửa nhiều màu như pháo hoa từ Hòn đá bắn về phía trước.
    "Lửa địa ngục, Holmes! Lửa địa ngục đấy! Ha, ha”.
    Sherlock Holmes ra tay rất đúng lúc, ông thực hiện một số động tác trì chú huyền bí rồi nâng chiếc khiên tâm linh lên phía trước đúng vào lúc ngọn lửa đánh tới - ngọn lửa bùng to trùm lên tất cả. Trong một tích tắc tuyệt vọng đánh mất cả thiên đường, tôi tưởng đâu họ đã bị thiêu cháy trong ngọn lửa. Nhưng rồi, qua ánh lửa đang cháy dữ dội, tôi thấy Sherlock Holmes và Đạt Lai Lạt Ma đang ngồi gọn bên trong vòm năng lượng, bình an vô sự ít nhất là vào lúc này - trong khi xung quanh họ đám cháy ma thuật này đang bùng lên mãnh liệt.
    Nghiến chặt hai hàm răng, tôi cố lết thân hình không còn là của mình nữa đến chỗ chiếc ô - và nắm chặt cái cán. Tôi chẳng biết mình sẽ làm gì với nó, nhưng tôi cương quyết lết đến chỗ Moriarty. Giờ đây ngẫm lại, tôi thật sự không thể nào giải thích được cớ làm sao cái thân xác bầm dập, gần như bỏ đi của tôi đã không đầu hàng cái chết mà còn dịch chuyển được về phía hắn, theo cách ấy. Có thể đó là do lòng căm thù vô hạn đối với con quỷ xấu xa cùng cực đang dương dương tự đắc kia, hoặc cũng có thể là do tình cảm và sự gắn bó dành cho không người bạn chí thiết, chỉ biết là trong thể xác dập nát của tôi vẫn có một khát khao cháy bỏng và một sức mạnh cần thiết để tiếp tục.
    Bây giờ, khi tôi đến gần kẻ thù không đội trời chung, ngọn lửa yêu ma đang tiếp tục nhân lên nữa sức mạnh huỷ diệt và bắt đầu sự sống điên cuồng của nó. Những sinh vật quái đản của địa ngục như tiểu yêu, quỷ sứ, ngạ quỷ, phù thuỷ bay là là và nhảy nhót quanh ngọn lửa, cười rú, gào thét, trêu chọc những người bạn của tôi đang ngồi trong một vòng bảo vệ thiêng liêng nhưng cũng rất dễ bị tổn thương.
    Tôi ráng hết sức bò tới, nhích lên cho tới khi tiến đến sau Moriarty. Nhưng rồi tôi nhận ra rằng có lẽ từ đầu đến giờ tôi chỉ lừa gạt chính mình thôi. Trên thực tế, tôi không có cách nào đứng thẳng lên, dùng chiếc dù đánh mạnh vào đầu tên ác quỷ như cái kế hoạch mà tôi lờ mờ định tiến hành. Nhưng riêng cái việc tôi dùng một tay mà nhích đến vị trí này đã là một điều kỳ diệu. Nhưng giọt nước mắt giận dữ, bất lực và thất vọng lăn xuống gò má, nhỏ từng giọt xuống sàn băng. Qua làn nước mắt cay đắng, tôi nhìn bạn bè mình trong cuộc vật lộn cuối cùng với cái chết.
    Ngọn lửa địa ngục càng lúc càng gia tăng sức mạnh. Sherlock Holmes, kiệt sức và tơi tả, hiện đang quỳ trên hai gối, bàn tay trái chống xuống sàn làm trụ nâng đỡ cho tấm thân mệt nhoài. Nhưng con người bất khuất, can đảm này vẫn cứng cỏi giơ bàn tay phải lên cao, những ngón tay vẫn mải miết thực hiện những cái ấn che chắn và chống đỡ thần bí. Đám ngạ quỷ ghê rợn xúm quanh họ trong cơn thịnh nộ và khoái trá đón chờ chiến thắng cuối cùng mà chúng đã dự liệu.
    Ba tên tiểu quỷ xấu xí nhảy cỡn lên như chơi trò bật bông trên vòm năng lượng. Một con quỷ khác đen như than, cực kỳ xấu xí với đôi mắt tóe lửa, tấn công bề mặt vòm năng lượng bằng một cày đinh ba bốc lửa, cố đục nó ra như cách ta mở hộp thịt bò muối. Một đám phù thuỷ cố gắng cào xé bên hông vòm bằng những móng vuốt sắc nhọn, chúng gào rú và rống lên những tiếng cười xóc óc trong sự chờ đợi chiến thắng - vì khối vòm rõ ràng đã bị suy yếu dưới cuộc tấn công tổng lực của chúng. Ngoài ra, còn có nhiều sinh vật đáng tởm khác hùa vào cuộc tấn công khốc liệt này, nhưng tôi không thể có một cái nhìn rõ ràng trong cái khung cảnh hỗn loạn ghê gớm cùng với những ngọn lửa đang bốc cháy dữ dội kia.
    Cái bóng đen của Moriarty dường như trở nên cao hơn, hiểm độc hơn và xấu xa hơn bao giờ hết khi hắn chuẩn bị tung ra ngón đòn chết chóc.
    "Tốt lắm, Holmes," hắn thét lên hân hoan, giọng át cả tiếng gầm của ngọn lửa và tiếng la hét của đám thuộc hạ xấu xa. "Ta tin rằng tuổi tác cũng không làm khô héo hay giảm bớt tính sáng tạo trong khả năng vô hạn của ta. Chỉ là một chút cho các ngươi nếm trước về cái nơi mà ta đang định sẽ đưa ngươi và bạn bè của ngươi đến - mãi mãi".
    Hắn lùi lại một bước trong tư thế chuẩn bị ra đòn - và đạp trúng vào bàn tay đang xòe ra của tôi. Chỉ muốn thét lên vì đau đớn, nhưng may mắn làm sao tôi đã cố gắng kìm được và vẫn để yên bàn tay chỗ cũ. Rồi một cảm giác lạ lùng choán lấy tôi, quả thật tôi đã khải thị được ngón tay của Thượng đế trong sự cố nhỏ nhoi này.
    "Tạm biệt, Holmes, bọn bay. Mãi mãi!”
    Moriarty bước lên phía trước. Tôi nắm chặt cái ô, chìa ra phía trước và móc cái tay cầm cong cong quanh mắt cá chân phải của hắn. Rồi, dồn vào đấy chút tàn lực cuối cùng, tôi giật mạnh.
    Trong một giây, thân hình Moriarty lảo đảo lùi ra sau, nhưng rồi sức mạnh tuyệt vọng trong tôi đã làm cho đôi chân hắn quơ lên trong không khí và nửa mình trên của hắn đổ ụp về phía trước.
    Cánh tay hắn - theo bản năng sinh tồn choài ra trước đỡ lấy thân hình - vô tình đánh rơi Hòn đá quyền năng xuống.
    Hòn đá quyền năng Vĩ đại bị đẩy tới trước do cú ngã của Moriarty, bay là là trong không trung, toàn thân lóe sáng, lấp lánh như ánh trăng rằm phản chiếu trên mặt nước nhấp nhô của một khúc sông đang gợn sóng - bay xuyên qua đám ngạ quỷ xấu xí và ngọn lửa địa ngục, xuyên qua cả bức tường đang suy yếu của khối vòm tâm linh - và sà vào bàn tay của Sherlock Holmes.
    Khi Moriarty lồm cồm bò dậy, thân hình hắn bỗng dưng teo dần lại, méo mó đi trông thấy và chẳng bao lâu sau hắn đã trở thành một lão khọm già, xấu xí, còng lưng, thọt chân với cái mặt nhăn nheo đầy sẹo - một Moriarty như chúng ta từng biết trước đó. Hắn nhìn xuống thân hình mình với vẻ hoang mang, sửng sốt, nhưng khi thấy Sherlock Holmes đang điềm đạm cầm trên tay Hòn đá quyền năng thì cặp mắt hắn mở to, sợ hãi đến tột cùng. Điều đó có thể giải thích được, vì ngọn lửa địa ngục và những quái vật đáng sợ bao quanh Holmes hiện đã chuyển mục tiêu sang Moriarty và đột nhiên ùa cả về phía hắn.
    "Ôi! Không! Không.…” Hắn rên rỉ kêu lên, giọng kinh hoàng, nhưng chúng đã đồng loạt lao vào hắn. Chỉ trong một tích tắc ngắn ngủi, toàn thân Moriarty bùng cháy - và đến lần thứ hai thì chỉ còn trơ lại bộ xương. Rồi cả đến bộ xương cũng bị phân ra, chỉ còn lại một luồng khói và lửa bị bắn ra xa cùng với những ngọn lửa khác và đám ngạ quỷ ghê tởm, rồi thì chẳng còn gì hết.
    "Không… ông… ông… ông…” tiếng vọng thê thiết, dữ dội cuối cùng của Moriarty yếu dần và sau đó là sự im lặng sâu thẳm.
    Sherlock Holmes chậm rãi đến chỗ cột đá nguyên khối và đặt Hòn đá quyền năng lên trên. Rồi ông nhanh nhẹn đến chỗ tôi đang nằm trên sàn với tấc lòng thanh thản vì đã làm hoà với số phận, an tâm bước vào giai đoạn khác trong bánh xe luân chuyển của cuộc đời. Quỳ gối bên cạnh tôi Holmes kiểm tra vết thương một cách lo lắng. Lạt Ma Yonten và Đạt Lai Lạt Ma cũng cúi xuống cạnh ông, đôi mắt họ tràn ngập về quan tâm, lo lắng.
    “Tôi tin… nỗ lực phục vụ của mình đã khiến ngài hai lòng, thưa ngài.…” tôi cố gắng lắm mới thều thào được thế, môi tôi giờ đây cũng lạnh cứng như luồng khí lạnh đang chạy khắp châu thân.
    “Rất nhiều, nhiều hơn cả sự hài lòng mãn nguyện nữa, bạn ơi!” Đôi mắt trong sáng, nghiêm trang của Holmes như mờ lệ, đôi mói ông run run. “Đừng bao giờ từ bỏ hy vọng. Vẫn còn có một cơ hội.”.
    “Không, ông Holmes," tôi khó nhọc ngắt lời. “Không còn thời gian nữa đâu… chỉ yêu cầu ông viết một báo cáo… đầy đủ về việc thực hiện nhiệm vụ của tôi… gửi cho Đại tá Creighton. Ngoài ra, nếu không… quá phiền phức, xin ông rắc tro cốt của tôi xuống sông Hằng. Tôi… tôi là nhà khoa học nhưng… nhưng người ta không ai biết quá rõ về mọi chuyện. Giờ thì xin vĩnh biệt, các đức ngài cao quý".
    "Chắc chắn chúng ta phải làm một cái gì đó,” Holmes nói với giọng tuyệt vọng, khiến trái tim mệt moi của tôi như bị bóp nghẹt lại vì cảm động.
    “Có lẽ điều đó.…” Lạt Ma Yonten nói, giọng ngập ngửng, "… vượt ra ngoài những cánh cổng của mandala. Nhưng làm thế nào…”
    “Tất nghiên” Holmes thốt lên, bắt các ngón tay vào nhau. “Tôi nhớ đến một huyền thoại. Chúng ta có thể thử. Đi này Đức Đạt Lai Lạt Ma. Bây giờ chỉ có Ngài mới cứu được người bạn của chúng ta”.
    Ông nắm tay dẫn Đạt Lai Lạt Ma đến thềm đá. Cậu bé ngồi xuống trong tư thế kiết già, đúng vị trí đoá sen đang xòe cánh ngay trước Hòn đá quyền năng và nhắm mắt đi vào trạng thái thiền định. Sherlock Holmes cúi xuống bên cạnh thì thầm điều gì đó vào tai cậu bé. Dù cho Holmes đang cố làm điều gì đi nữa, tôi vẫn biết tất cả đã quá trễ, chẳng bao lâu sau ý thức cũng rời bỏ tôi, tôi nhanh chóng lịm đi trong vô thức. Người và vật trước mắt mờ đi, trở nên mông lung mơ hồ cho tới khi mọi thứ trông vừa xa xôi vừa không thật, như trong một giấc mơ. Tất cả những gì diễn ra trước mắt tôi đều có cái gì đó không thật, không chắc chắn và hầu như đi ngược lại kinh nghiệm nghiên cứu của tôi với tư cách người quan sát và nhà khoa học thực chứng. Bây giờ, kể lại tất cả những chuyện này, tôi phải đắn đo rất nhiều, và chỉ ghi lên giấy những gì tôi đã thấy - hoặc tưởng tượng là mình đã thấy - vào lúc ấy Tôi không khẳng định đó là sự thật. Đúng có thể chỉ là một ảo giác trong cơn mê sảng. Cứ để bạn đọc tự hiểu thôi.
    Tuy khung cảnh xung quanh mờ dần đi trước đôi mắt đờ đẫn của tôi, nhưng có gì đó buộc tôi vẫn nhìn Hòn đá quyền năng ánh sáng lạ lùng của nó dường như trở thành thực thể duy nhất hay là thực tại duy nhất quanh tôi. Ánh sáng của Hòn đá dần thay đổi, chuyển sang nhưng gam màu tối hơn, nhưng vẫn không kém phần rực rỡ. Hiện tượng kỳ tuyệt này càng lúc càng mãnh liệt, cho tới khi tôi nhận thấy mình đang nhìn vào một cái cửa vừa tối đen, vừa như toả sáng. Cái khoảng trống đen đen đó từ từ lớn dần lên cho tới khi nó lấp đầy cả cái động mênh mông này - rồi vượt ra ngoài nó nữa. Nằm ngửa trên sàn nhà và đưa mắt nhìn lên, thay cho cái mái vòm băng, cái mà tôi thấy là bầu trời đêm vô tận và kỳ diệu, không bị ngăn lại bởi bất cứ chân tròi nào hay bởi sự hạn ché thông thường do thị lực rất giới hạn của con người.
    Không gian bao la này không thay đổi, nhưng vẫn bị xáo trộn, không phải, bị sôi lên với những năng lượng và chuyển động, giống như những xoáy nước và vòi rồng khổng lồ trong biển cả khi bão tố dập vùi. Trung tâm của cái khoảng không mênh mông vô tận như đại dương này dường như đã bị xé toạc, tạo ra một cơn lốc khác, dần dần lấp đầy khoảng không gian trước đây. Sự việc này diễn ra cá thảy bảy lần, cho tới khi bảy cơn lốc vô tận, cơn lốc này trỗi dậy từ trong lòng cơn lốc khác, trải dài hàng triệu triệu dặm phủ lên vô số vật thể trong hệ thiên hà bao la do Thượng đế sáng tạo ra này.
    Sau đó, từ con mắt của cơn bão cuối cùng xuất hiện một đốm sáng nhó di chuyển về phía trước, từ từ gia tăng kích thước cho tới khi nó mang một hình vóc rõ ràng. Hình như nó là một ngọn núi xa mờ, đang lơ lưng giữa tầng không - giống như đỉnh Kinchenjoonga khi bạn đứng ở Darjeeling nhìn lên - tương truyền thường trôi bồng bềnh thơ thới bên trên một biển mây vào những đợt gió mùa, hay như "Hòn đảo bay xứ Lupata(10) của Jonathan Swift. Các mép của vật có hình dáng như ngọn núi này chói sáng một vòng lửa, trong khi bề mặt của nó lấp lánh vô số điểm sáng nhấp nháy muôn màu.
    Khi nó bay xuống lấp hơn, tôi có thể thấy hình dáng thật sự của nó, đó là một thành phố nào đó - một thành phố trên thiên giới với những toà tháp chọc trời và những cung điện nguy nga, cái này chồng lên cái kia, thành bậc thang như một tu viện của người Tây Tạng - thật ra nó rất giống Potala - nhưng cao hơn và lớn hơn bội bội lần. Có hàng triệu triệu những điểm sáng lấp lánh ở mọi khu vực trong thành phố, trong khi những mái đền hình chóp và mái chùa cong cong thì lấp lánh như vàng mười nấu chảy. Thành phố nằm trên một cái đế tròn khổng lồ có đường kính trải dài hết dặm này đến dặm khác bao quanh bởi những vòng lửa nhiều màu, hình như là nguồn cung cấp năng lượng đề nó bay lên và hoạt động.
    Tất nhiên. Đó là một mandala.
    Một tiếng gầm dữ dội như được cộng hưởng của hàng nghìn chiếc kèn trumpet khổng lồ Tây Tạng cất lên, vang vọng qua không trung khi nó chậm rãi hạ xuống, bùng cháy xiết bao rực rỡ với vô số luồng ánh sáng nhấp nháy đi động khiến tôi hoa cả mắt trong giây lát. Sau đó tôi cảm thấy mình đang bị hút về phía luồng sáng, và kỳ lạ thay không hề có cảm giác lo lắng e ngại, bất chấp độ sáng và nguồn năng lượng khủng khiếp của nó. Rồi nguồn sáng thay đổi trở thành một luồng sáng dễ chịu, giống như ánh sáng vừa phải trong một căn phòng có hệ thống chiếu sáng tốt, thế rồi tôi mơ hồ nghĩ rằng có nhiều hình dáng đang di chuyển quanh tôi. Cũng có thể tôi đang mơ vì nhưng hình dáng đó, mặc dù rất giống con người - nhưng lại rất to lớn - cao ít nhất đến ba mét trong những bộ giáp phục lóng lánh kỳ lạ, những chiếc mũ sắt uy nghiêm được trang trí với chùm lửa phía trên.
    Thì ra đó là những hức tượng trong hang! Đó là lý do tại sao tôi mơ về tất cả những thứ đó. Một trong những dáng người đó nhẹ nhàng đi đến bên tôi và cúi xuống. Đó là khuôn mặt của một chiến binh oai phong, đẹp đẽ và cương nghị, trên gương mặt tuấn tú xuất hiện một nụ cười thật ân cần, người ấy dịu dàng đặt tay lên mắt tôi. Tôi thiếp đi.
    Tôi mơ thấy mình đang nằm trên một bệ thờ cao, vây xung quanh là những tu sĩ nhìn không rõ mặt, họ mặc áo choàng trắng, mổ cơ thể tôi ra bằng những con dao ánh sáng chói loà rồi rót một ngọn lửa dịu dàng vào trong thân thể tôi. Chẳng hề đau đớn gì và tôi lại chìm vào giấc ngủ một lần nữa.

    Chú thích:
    (1) Trong Thung lũng khủng khiếp Holmes kể cho Watson biết rằng Moriarty là tác giả trứ danh của cuốn Động lực của một hành tinh nhỏ - một cuốn sách đạt đến đỉnh cao hiếm có về toán học cao cấp đến nổi người ta nói không một nhà khoa học vào có khả ông phê bình nổi.
    (2) Có lẽ Hurre muốn nói đến John Dalton (1766-1844) nhà hoá học và vật lý vĩ đại người Anh, có đóng góp to lớn trong lý thuyết nguyên tử và những nghiên cứu về bệnh mù màu.
    (3) Luigi Galvani (1737-1798) nhf vật lý học người Ý được biết đến với những khám phá về diện sinh học Những nghiên cứu của ông đã dẫn đến phát minh ra pin, nhưng ông lại không nhận thức được rằng điện là một hiện tượng tách biệt với sinh học.
    (4) Ngày nay, chúng ta gọi hiện tượng này là sự phân cực ánh sáng.
    (5) Pho-wa: là một trong những phương pháp luyện tập được bảo vệ bí mật nhất và gây nên nhiều đố kỵ nhất của yoga Tây Tạng. Loại hình yoga này truyền tâm thức từ một hoá thân này đến một hoá thân kế tiếp mà không bị gián đoạn trong dòng chảy liên tục của ý thức
    (6) Tâm thức (hay linh hồn) rời khỏi thể xác qua "khe hở của Brahma" ở một điểm gọi là luân xa nằm trên đỉnh đầu tại đường nối đối xứng dọc nơi hai xương đỉnh khớp với nhau, được khai mở bởi phương pháp pho-wa của người theo thuyết yoga Con chim bay ra ngoài chính là tâm thức; chính là của khe hở này mà tâm thức rời khỏi thân xác, rời vĩnh viễn khi người ta chết hoặc chỉ rời tạm thời trong quá trình thực hiện pho-wa. Tiến trình này là một phần của Kundalini Yoga.
    (7) Đánh giá lại những lời nói của Lạt Ma Yonten thì dường như trong trường hợp này quá trình đó không phải là sự tái sinh với tâm thức tương tục mà là sự chuyển hẳn tâm thức vào cơ thể một người đang ông khác. Vì vậy, dường như đó là thuật yoga. Trong-jug đã được thực hiện trong trường hợp này chứ không phải là Pho-wa. Babuji hẳn lý không có lỗi trong sai lầm này. Có lẽ Lạt Ma Yonten đã lầm khi chọn thuật ngữ, một lỗi hoàn toàn có thể hiểu được nếu xét đến hoàn cảnh tuyệt vọng của họ lúc đó.
    (8) Ấn: (mudra) Mật báo hoặc Kim Cương thừa quan niệm thân tâm con người là một tiểu vũ trụ tương tự với đại vũ trụ bên ngoài, ấn là những cách thế, xếp đặt thân thể (nhất là năm ngón tay tượng trưng cho năm đại) để có một sự điều hoà dẫn đến một trạng thái tâm thức nào đó hoặc tạo ra một sự bùng nổ nàng lực rất cao.
    (9) Nguyên văn: linga có nghĩa là dương vật.
    (10) Laputa là tên một địa danh hư cấu trong tiểu thuyết Gulliver du ký của nhà và nhà thơ, nhà chính trị và dông thời là tu sĩ người Ireland Jonathan Swift (1667-1745)
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  5. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Lời chào cuối của Sherlock Holmes



    Chương 23
    Lời chào cuối của Sherlock Holmes

    Lúc mở mắt tôi thấy những con chim chiền chiện đang nhởn nhơ bay liệng trên bầu trời trong sáng, xanh thắm giữa mùa hè.
    “Hurree. Ông dậy rồi đấy” giọng nói có sức an ủi lớn lao của Sherlock Holmes vang lên bên tôi. Ông đang ngồi cạnh chỗ tôi nằm, trên một thảm cỏ nơi sườn đồi tràn ngập nắng sớm mà hút tẩu thuốc với vẻ đầy mãn nguyện. Đầu óc tôi vẫn còn hơi mông lung, nhưng thật lạ lùng, tôi chẳng thấy trong lòng có chút vướng bận nào. Chỉ cảm nhận rõ một điều: thật là kỳ diệu khi ta vẫn còn được sống. Tôi sờ tay lên ngực, chẳng hề có vết thương nào, cả đến vết tích của nó cũng không. Có thể nào đây chỉ là mộc giấc mơ Nhưng khi ấn bàn tay phải lên ngực, tôi cảm thảy đau nhói ở bàn tay - nơi một bàn chân đã đạp lên nó.
    “Moriarty!" Tôi kêu lên.
    “Hắn đã chuyển tiếp sang một sự tồn tại khác rồi, Hurree ạ. Ông không nhớ là mình đã ngáng chân hắn khi hắn chuẩn bị tung ra phát súng kết liễu hay sao? Nếu người ta cần một thứ gì đó như là viện bảo tàng công cọng ở đất nước này thì cái dù của ông cần phải nằm ở đó”.
    Nghe tiếng trò chuyện của chúng tôi, Đạt Lai Lạt Ma, Lạt Ma Yonten, Tsering và Kintup từ địa điểm cắm trại nhỏ bên dưới bước tới gần. Đạt Lai Lạt Ma đến, quàng chiếc khăn màu trắng quanh cổ tôi để cám ơn tôi vì đã cứu mạng cậu. Lạt Ma Yonten, trông như không bị hề hấn gì bởi cuộc thử thách vừa rồi, trìu mến nắm tay tôi mà lắc mãi. Tsering và Kintup rất vui khi thấy tôi tỉnh dậy và lành lặn, đồng thời biểu lộ lòng kính sợ tôi vô kể, chắc là bởi họ đã nghe Lạt Ma Yonten tán dương về công trạng của tôi trong hang động một cách cường điệu, thổi phồng câu chuyện lên quá mức. Tất cả nỗ lực của tôi hòng đính chính lại sự hiểu lầm không những chẳng dẫn đến đâu mà thậm chí còn bất lợi, vì hai chàng trai lại xem sự phản đối của tôi chứng tỏ đức khiêm tốn tự nhiên của một nhân cách lớn và cộng nó vào danh sách những ưu điểm khác của tôi.
    Chúng tôi cắm trại trên một sườn đồi cách sông băng vài dặm, đứng từ đây có thể nhìn thấy nó từ hướng Bắc. Lối vào ngôi đền một lần nữa lại bị chôn vùi dưới băng, cho tôi khi Đạt Lai Lạt Ma đời tiếp theo lên ngôi. Ở một bên khu trại của chúng tôi là một đám tù binh - chừng ba mươi tên lính Trung Quốc ăn mặc kỳ cục đang rúm lại với nhau một cách thảm hại. Những người lính của Đạt Lai Lạt Ma, dưới sự chỉ huy sáng suốt của Tsering dũng cảm, không chỉ đã đẩy lùi được đám lính Trung Quốc tại cây càu băng mà sau đó, khi đang nắm thế chủ động đã bất ngờ đột kích và đánh cho chúng thất bại hoàn toàn.
    Ngày hôm sau, chúng tôi lên đường quay lại Lhassa. Trên đường đi tôi đã hỏi Sherlock Holmes về những sự kiện phi thường trong hang và cố moi ra một số lời giải thích có cơ sở khoa học về chúng. Ông không trả lời ngay mà chỉ im lặng cưỡi ngựa đi cạnh tôi. Sau khi châm tẩu và rít vài hơi, ông quay sang nói với tôi:
    “Tôi đánh giá rất cao tình bạn của ông, Hurree ạ, và không muốn ông nghĩ rằng tôi không đáp lại tấm chân tình của ông. Tôi đã có một lời thề trang trọng rằng sẽ không bao giờ tiết lộ những bí mật này cho bất cứ ai không phải là chúng ta - dù đó là người bạn đáng tin cậy nhất và là đại ân nhân. Tôi đã thảo luận vấn đề này với Lạt Ma Yonten và ông ấy cũng nhất trí rằng có thể cho ông một lời giải thích chung chung mà không để lộ những thông tin đặc biệt, vì như vậy sẽ bị coi như là vi phạm lời thề giừ bí mật”.
    Dù đang trên mình ngựa, Sherlock Holmes vẫn mang dáng điệu mô phạm mà bao giờ ông cũng có khi giảng giải về một vấn đề nào đó.
    “Đức Phật từng có lần nói rằng có nhiều thế giới và hệ thống vũ trụ trong vũ trụ hiện hữu, cũng nhiều như cát bên bờ sông Hằng. Giáo lý nhà Phật tin rằng “thời luân ưu việt nhất" được vận hành trong nhiều thế giới này bởi những Đức Phật khác nhau của quá khứ, hiện tại, tương lai và thậm chí bởi chính Thích Ca Mâu Ni. Nhiều trong số những thế giới này đi trước chúng ta, đặc biệt có một thế giới - cai quản một nghìn thế giới khác trong hệ thống của nó - tiên tiến hơn quá nhiều so với cái hành tinh nguyên thuỷ tầm thường của chúng ta trong nhưng vấn đề về khoa học và tâm linh, vì thế không thể giải thích tính ưu việt của nó cho một người hiện đại hiểu được, cũng như không thể nào giải thích cách vận hành của động cơ hơi nước cho những thổ dân mông muội đầo Andaman hiểu. Đối với người trần mắt thịt chúng ta, những sinh thể của thế giới ấy cũng tựa như thần thánh vậy, không chỉ vì những khả năng siêu phàm mà họ sở hữu mà còn vì tuổi thọ phi thường. Nhưng dầu tài trí và sống lâu đến mấy một ngày nào đó họ cũng phải chết. Đúng như Đức Phật đã dạy phàm những gì được sinh ra tất có ngày chết đi - cả các vị thần trong Thiên đường của Indra cũng không tránh khỏi vòng sinh tử".
    "Người ta tin rằng cách đây nhiều niên kỷ trong cuộc tìm kiếm chân lý phổ biến, những người của thế giới này đã đốn ngộ được “Chánh Pháp” và từ đó về sau, họ cũng cố tìm cách bảo vệ Chánh Pháp, ở bất cứ nơi nào nó có thể bị đe doạ. Bao giờ họ cũng để mắt canh chừng thế giới chúng ta và, thông qua cộng đồng nhỏ của những hành giả tinh tấn ở nóc nhà thế giới, trên cao nguyên Tây Tạng xa xôi này họ đã duy trì một mối quan hệ với con người.
    "Ông đã biết lời tiên tri của các Lạt Ma rồi đấy, khi con người còn làm nô lệ cho lòng tham ái chìm trong vô minh mà gây nên hoang tàn, huỷ diệt ở kháp nơi trên mặt đất, trên biển cả và trong không trung; khi các thế lực đen tối xấu xa vời những dụng cụ chết chóc và huỷ diệt cuối cùng đã nô dịch được con người, thì các vị vua của Shambala sẽ cử những đạo quân vĩ đại băng ngang vũ trụ tới đây và trong một trận quyết chiến vĩ đại sẽ đánh bại quý dữ, đem lại cho hành tinh này một thời đại minh triết và an bình mới".
    "Ông có tin vào câu chuyện đó không, thưa ông?”
    "Không nhất thiết phải ủng hộ một niềm tin như thế mới chất sự thờ phụng - một cách mù quáng, u mê - tiền bạc và quyền lực rốt cuộc sẽ dẫn con người đến đâu. Khi vùng đất xanh tươi màu mỡ bị huỷ hoại để xây nên những nhà máy tối tăm độc địa, nơi trẻ em bị lạm dụng, thiếu ăn còn phụ nữ ho lao thì bị bắt làm nô lệ; khi những bộ tộc nguyên thuở, chân chất chỉ được trang bị bằng cung tên giáo mác đã bị chúng ta cái đạo bằng những ý tưởng kinh doanh đổi chác và cái gọi là nền văn minh thông qua hàng thùng súng đạn; và thậm chí khi tinh thần thượng võ trở nên nghèo nàn, nông cạn còn tất cả các quốc gia châu Âu đang nhanh chóng trở thành những trại lính luôn trong trạng thái sẵn sàng tấn công nước khác - vậy thì điều mà một con người biết phân biệt đúng sai có thể làm được chỉ là run lên trước tương lai đáng sợ của nhân loại.
    “Không, ông bạn thân mến, tôi không nghĩ sẽ là quá ngày thơ khi quan tâm nhiều đến lời tiên tri cổ xưa này và cũng là để nhận được chút an ủi từ kết luận đầy hy vọng ấy. Phải, Hurree ạ, vào một đêm đẹp trời nào đó, khi bầu trời trên đầu ông trong vắt và sáng rực ánh sao, thậm chí một nhà khoa học như ông cũng có thể ngước mắt lên dõi tìm một đám sáng nhỏ màu xanh lá mạ nằm bất động ở xa xa cuối chân trời phương Bắc mà hy vọng rằng vị cứu tinh của chúng ta sẽ có thể từ đó đến!”
    Lê đăng quang của Đạt Lai Lạt Ma, hoặc nói cho chính xác hơn là "sự đảm nhận quyền lực thế tục và tâm linh" diễn ra đúng một tháng sau khi chúng tôi quay về kinh đô. Cái chết của Moriarty rõ ràng là đã vô hiệu hoá mọi âm mưu của Trung quốc đối với Tây Tạng. Ngoài ra, bằng chứng sống là đám lính Trung quốc bị bắt làm tù binh đã khiến cả Hoàng đế(1) cũng khó xử, đành phải nhanh chóng triệu hồi Amban O-erh-t’ai về Bắc Kinh và ngay lập tức ra lệnh chém đầu ông ta như một lời cảnh báo nghiêm khắc đối với bất cứ kẻ nào dám manh động gây ra mối hiểu lầm giữa Hoàng đế Trung Hoa “chính trực" và Đức Đạt Lai Lạt Ma đáng kính của Tây Tạng. Mất đi sự ủng hộ của Amban, quyền lực của quan Nhiếp chính cũng suy sụp dần, sau đó ông ta bị bắt, bị đem ra xét xử trước quốc hội và giam giữ suốt dời.
    Thủ đô Lhassa, trên thực tế là cả đất nước Tây Tạng đã tổ chức ăn mừng sự kiện vui này.
    Trong Đại sảnh đường của cung điện Potala, trước một đám đông cử toạ gồm các bộ trưởng, quan chức cao cấp, các vị Lạt Ma, tu viện trưởng của nhiều trường đại học tôn giáo lớn và các vị đại sứ đến từ các nước láng giềng như Nepaul, Sikh, Ladakh, Bhootan, Trung quốc, Turkestan, Mông Cổ cùng một số tiểu quốc khác của Ấn Độ… vị Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi đã ngồi lên Ngai sư tử, được trao tặng bảy Báu vật Hoàng tộc và tám Biểu tượng Chiến thắng, chứng thực ngài là Ngawang Lobsang Thupten Gyatso(2), Bậc Toàn tri, phù hợp với lời giáo huấn của Phật tổ Đại dương thông tuệ, Bất biến, Người nắm giữ sấm sét, quốc trượng Vinh quang Thứ Mười ba thuộc Dòng dõi Vinh quang Chiến thắng và quyền lực và là Người cai trị về mặt Tinh thần và Thế tục của đất nước Tây Tạng.
    Sau buổi đại lễ, nơi Sherlock Holmes và tôi được dành cho vị trí trang trọng nhất, hai chúng tôi lại được tặng những phần thưởng đặc biệt trong một buổi lễ ít thủ tục phức tạp hơn nhưng không kém phần trang trọng. Một bộ áo choàng tu sĩ được ban tặng cho Sherlock Holmes, cùng một chiếc mũ công nhận ông thuộc đẳng cấp Huthoktu, hàng cao quý thứ ba sau Đạt Lai Lạt Ma trong hệ thống cấp bậc của Phật giáo Tây Tạng. Đích thân Đạt Lai Lạt Ma trao cho tôi một bức tượng Atisha bằng đồng thiếc rất quý hiếm từ thế kỷ 15, đó là tượng vị đại sư cao quý của đạo Phật đến từ Bengal. Tôi sẽ ghi nhớ suốt dời, với lòng kính trọng và xúc động, những lời nói đi kèm theo món quà vinh dự này.
    “Lần thứ hai trong lịch sử của đất nước,” vị Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi nói, “Tây Tạng cần cảm ơn một người đến từ vùng đất thánh Vangala".
    Đạt Lai Lạt Ma không còn là một cậu bé ốm yếu mà chúng tôi đã gặp lần đầu nữa, mà là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và khôn ngoan của cả dân tộc Tây Tạng. Rõ ràng, dù gặp bất cứ chướng ngại và nguy hiểm nào trong suốt thời gian cầm quyền, ngài cũng sẽ chiến thắng bằng cách này hay cách khác(3).
    Sau lễ hội mừng đăng quang, Sherlock Holmes lên đường đi đến Thung lũng Trăng Rằm (Dawa Rong) ở Nam Tây Tạng. Tu viện nhỏ của ông, lâu dài pháp sư có tên Bạch Phượng Hoàng toạ lạc ở vùng này. Một đoàn tuỳ tùng đông đảo gồm các nhà sư và tuỳ sư cùng đi với ông. Tại đó, trong một buổi lê khác, ông trở về với vị trí của mình như một Lạt Ma tái sinh và tu viện trưởng.
    Trong vòng nhiều tháng, ông trải qua các buổi thiền định, puias và các buổi hành trì với các vị sư phụ.
    Được cấp một giấy thông hành đi khắp Tây Tạng, Kintup và tôi, cùng Gaffuru và Jamspel, đã đi du lịch đến vùng biển nội địa ở Chang Nam-so, nơi nước biển có hàm lượng muối cao nhất thế giới để nghiên cứu về hiện tượng thuỷ triều bất thường của nó và để tìm hiểu các khu vực lân cận. (Xin đọc bài báo, Ghi chép về hoạt động thuỷ triều của biển Tây Tạng, Vol.xxv No. 1 Jan/Feb”, Tạp chí địa lý xã hội Bengal). Chúng tôi cũng đã đến nhiều hồ khác nhau và tiến hành vô số nghiên cứu về địa lý và dân tộc học mà không cần thiết phải nêu ra ở đây. Cuối cùng, sau khi nhận được công văn giao nhiệm vụ với lời lẽ khó chịu của Đại tá Creighton, ra lệnh tôi phải quay về, tôi miễn cưỡng đi đến quyết định rằng không thể nào ở lại và duy trì công việc nghiên cứu ở vùng đất bị cấm đoán này lâu hơn nữa. Sau cuộc chia tay buồn bã đầy bịn rịn với Đạt Lai Lạt Ma, Lạt Ma Yonten và Tsering, tôi rời khỏi Lhassa vào ngày 10 tháng Mười một năm 1892.
    Tôi đi về hướng Nam, men theo tuyến đường sông Bramhaputra vốn chảy qua Thung lũng trăng rằm xinh đẹp, tranh thu ghé thăm tu viện của Sherlock Holmes nằm trên một sườn dồi đẹp như tranh vẽ giữa rừng cây bách xù thơm ngát. Tôi ở lại với ông một tuần, học được rất nhiều điều về… ồ, có thể là rất nhiều thứ. Ông quyết định ở lại Tây Tạng thêm một năm nữa để hoàn thiện việc nghiên cứu và thực hành. Sau đó, ông sẽ quay lại Anh(4) hoàn tất nhiệm vụ tiêu diệt đế chế tội ác của Moriarty và xoá bỏ ảnh hưởng xấu xa của hắn ở các thành phố châu Âu. Chỉ khi nào nhiệm vụ này được hoàn thành, ông mới quay lại Tây Tạng.
    "Tôi đã nhận được lệnh," Holmes nói, “Và tôi phải tuân theo” Ông không nói thêm gì về người đã ra cái lệnh này mà tôi cũng chẳng hỏi.
    Hình ảnh cuối cùng về người bạn thân thiết và cao quý ấy sẽ sống mũi trong ký ức tôi. Trong bộ áo choàng màu vang đỏ, cao lớn và oai nghiêm, ông đứng trước một bãi thông nhỏ gần cổng tu viện, cùng với các môn đệ, tất cả bọn họ cúi đầu chào rất thấp khi tôi nhảy lên mình ngựa phóng đi. Sherlock Holmes giơ bàn tay phải lên chào tạm biệt và chúc phúc cho tôi. Từ đấy tôi không bao giờ gặp lại ông nữa.
    Đối với tôi, bao giờ cũng là một nỗi buồn khó mà chịu nổi khi phải rời xa vùng núi yên bình, cô quạnh và trong lành này để quay lại thế giới thực của mình, mặc dù lần này, những phát hiện độc nhất vô nhị của tôi đảm bảo rằng thế giới sẽ chào đón tôi với những mề đay phần thưởng, sự bổ nhiệm và tất cả những lễ phục khác trong sự tôn vinh và vinh quang. Thậm chí cho tới nay trong cuộc sống thành công và được nhiều người biết đến, tôi chưa bao giờ quên những lời thông tuệ của Sherlock Holmes - chắc chắn chúng đã khắc sâu trong tâm khảm tôi như bạn khắc chữ trên đá granite - nhắc tôi nhớ đến nhửng nỗi bất hạnh và sự vô minh của thế giới này, cả sự tàn nhân giữa người với người.
    Và mới tối hỏm qua thôi, vì không muốn dùng xe ngựa của mình mà tôi đi bộ về nhà từ khách sạn Lớn Phương Đông, sau bữa ăn tối thường lệ của Hội Hoàng gia châu Á, nơi tôi đã được mời đến để nói chuyện về cuộc thám hiểm Himalaya cho một nhóm các quý ông bệ vệ, phương phi cùng những bà vợ diện ngất trời nhưng đáng chán của họ. Ra khỏi khách sạn, tôi gặp một lũ trẻ con đói khát đang tranh giành thức ăn thửa từ trong mày thùng rác của khách sạn. Tôi dốc hết tiền trong túi phân phát cho chúng. Sau đó tôi bỏ đi, lầm lũi qua những con đường tối tăm phía sau khách sạn.
    Đó là một đêm trời không trăng, nhưng không có một gợn mây. Một lần nữa tôi thấy mình đang dõi mắt về phương Bắc, hướng về dãy Himalaya xa xa, bầu trời đêm lấp lánh những vì sao… sic itur amons ad astra(5) trích lời của Virgil…
    Nhưng vậy là đủ. Có lẽ tôi sẽ chỉ khiến bạn chán ngán với vòi những lời đàm luận dông dài của mình. Hãy kết thúc câu chuyện ở đây.
    Chú thích:
    (1) Quyền lực chính trị tối cao ở Trung Hoa vào lúc này nằm trong tay Từ Hy Thái hậu, bà dì tàn nhẫn, khao khát quyền lực, xảo quyệt và bất trung của hoàng đế Quang Tự, người bị bà hoàng này ra lệnh giam lỏng suốt đời tại Trung Nam Hải.
    (2) Ngawang Lobsang Thupten Gyatso: tên đầy đủ của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13
    (3) Ở đây, Hurree đã tỏ ra rất có tài tiên đoán. Đạt Lai Lạt Ma không chỉ đứng vững sau nhiều mưu đồ chính trị i xảy ra sau đó, mà thậm chí sau một lần lưu vong đến Mông Cổ và lần khác ở Ấn Độ, ông đã dần dần thành công trong việc thoát khỏi ảnh hưởng và quyền lực của Trung quốc đối với Tây Tạng. Ông đã tuyên bố nền độc lập của quốc gia này vào ngày mùa 8 tháng Giêng năm Quý sửu 1913. Bên cạnh những cải cách quan trọng trong chính quyền và trong tôn giáo, ông còn xảy dựng được một đội quân hiện đại, một thời gian sau đã lập thành tích đánh bại quân đội Trung quốc ở biên giới phía Đông Tây Tạng, và dần dần khôi phục lại những khu vực lãnh thổ bi mất của Đế quốc Tây Tạng xưa. Đặc biệt đầy đủ hơn về cuộc đời của ông, xin xem Chân dung của Đạt Lai Lạt Ma, London, 1946, được viết bởi một người bạn của ông là nam tước Charles Bell.
    (4) Sherlock Holmes quay lại Anh vào cuối xuân năm 1894 Chẳng bao lâu sau khi quay về ông đã thanh công trong việc bắt được tên Đai tá Moran giảo hoạt bằng một chiếc bẫy tinh vi, cùng lúc đó ông giải quyết vụ án mạng kỳ lạ Hon. Ronald Adair, một kẻ rời bỏ thế giới hào nhoáng của London và hoàn toàn mất tinh thần (Xem Bí mật trong ngôi nhà trống).
    (5) sic itur amons ad astra (tiếng Latinh) đi từ đỉnh núi tới vì tinh tú (thơ của thi sĩ La Mã vĩ đại Virgil)
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  6. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Lời kết



    Chương 24
    Lời Kết

    Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 người trong câu chuyện của Hurree, tạ thế vào ngày thứ 13 tháng thứ mười năm Quý Dậu (17 tháng Mười hai năm 1933). Một năm trước khi mất, ông đã công bố di chúc chính trị và những lời cảnh tỉnh cuối cùng.
    "Một điều có thể xảy ra," ông tiên đoán "ở tại đây, tại Tây Tạng này là tôn giáo cũng như chính phủ sẽ lâm vào cảnh thù trong giặc ngoài. Trừ phi chúng ta có thể bảo vệ đất nước, nếu không Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma, Cha và Con, cùng tất cả những người nắm giữ Niềm tin đáng kính khác sẽ biến mất mà không ai biết đến. Giới tăng lữ và các tu viện của họ sẽ bị huỷ diệt. Luật pháp sẽ bị suy yếu. Đất đai và tài sản của các văn phòng chính phủ sẽ bị chiếm giữ. Chính họ cùng sẽ buộc phải phục vụ cho ngoại bang hoặc phiêu bạt như những kẻ vô gia cư, vô sản nghiệp. Tất cả sẽ bị đắm chìm trong vô vàn khó khăn và nỗi sợ hãi triền miên, ngày và đêm sẽ kéo dài vĩnh viễn trong nỗi đau khổ".
    Nhưng những lời cảnh báo của Đức Đạt Lai vĩ đại thứ 13 đã bị bỏ qua bới giới tăng lữ mù quáng bạc nhược và tầng lớp quý tộc yếu đuối, họ đã khiến cho các tác phẩm bất hủ của ông bị xếp xó, phong trào cải cách của ông lụi tàn và trở nên vô dụng, tình hình đất nước tệ hại đến mức khi Hồng quân Trung quốc tràn vào Tây Tạng tháng Mười năm 1950, họ chỉ gặp phải sự kháng cự tự phát vô tổ chức của một bộ phận dân chúng. Sau đó, những đêm trường vô tận bắt đầu. Sau khi đập tan mọi ý thức phản kháng, chính quyền Trung quốc bắt đầu thực hiện các chiến dịch có tính hệ thống để nô dịch và đồng hoá người Tây Tạng và cách sống của họ. Các phong trào đàn áp đạt đến đỉnh điểm trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hoá và vãn tiếp tục cho đến ngày nay với những mức độ bạo lực và tàn ác khác nhau.
    Hiện nay, thực hiện chủ trương nhổ trừ tận gốc không gì thuộc về nét văn hoá và đặc tính dân tộc của người Tây Tạng - những gì vẫn còn sót lại sau những chiến dịch diệt chủng trước đó - Bắc Kinh có động thái "mở cửa Tây Tạng” cho làn sóng nhập cư người Trung quốc; lớp người này đông đến mức người Tạng mau chóng trở thành một tộc người thiểu số tại chính quê hương mình. Tại Lhassa người Tạng là một dúm người dị tộc không đáng kể trong biển người Trung quốc. Thậm chí, lực lượng cảnh sát và binh sĩ Trung quốc trong và ngoài thành phố còn đông hơn cả dân Tây Tạng chính gốc. Họ có mặt ở đó để ngăn chặn và đàn áp.
    Những cuộc điều tra mới nhất cho biết hơn sáu nghìn tu viện, đền đài và các đi tích lịch sử đã bị phá huỷ, cùng với cơ man những tác phẩm nghệ thuật, tôn giáo quý giá - và vô số sách quý ban thảo về nền học thuật cổ xưa, có một không hai của Tây Tạng. Hơn một triệu người Tạng đã bị chết do án tử hình, tra tấn và bị bỏ đói, trong khi hàng trăm nghìn người khác bị cưỡng bách làm nô lệ trong một trại tập trung ở nhưng nơi xa xôi và hoang vu nhất vùng Đông Bắc Tây Tạng, nơi rõ ràng là một trại tập trung thuộc loại lớn nhất thế giới.
    Những người tị nạn may mắn thoát khỏi cơn ác mộng này đã cố làm sống lại một phần cách sống truyền thống của tổ tiên ở nơi đất khách quê người. Các chùa chiền, thiền viện, trường học và viện âm nhạc, nhà hát, cơ sở y tế, tác phẩm hội hoạ, các vật phẩm kim khí, nhiều ngành nghệ thuật và thu công khác bắt đầu phát triển trong và ngoài Dharamsala - thủ phủ của dân Tây Tạng lưu vong - và nhiều nơi khác ở Ấn Độ, cùng các quốc gia khác trên khắp thế giới, nơi người dân Tây Tạng tha phương tìm được một mái nhà mới cho mình.
    Trong thời gian ở Dharamsala, nơi tôi có một chân trong Bộ giáo dục của chính phủ lưu vong, một hôm tôi nghe nói có một số tu sĩ từ tu viện Bạch Phượng Hoàng (trong Thung lũng Trăng Rám) vừa trốn thoát đến Ấn Độ. Thậm chí họ còn cố gắng gây dựng một cộng đồng nhỏ trong một ngôi nhà gỗ một tầng kiểu Anh đổ nát, nằm ngay bên ngoài thành phố Dharamsala. Sau một giờ đồng hồ lặn lội trên con đường mòn vùng núi, tôi cũng đến được căn nhà gỗ ọp ẹp này. Một vài nhà sư già đang đọc kinh, họ ngồi trong tư thế kiết già trên một thảm cỏ bị giẫm nát trước nhà. Tôi hỏi một trong số họ xem tôi có thể gặp người đứng đầu nơi này không.
    Vài phút sau, một nhà sư có tấm thân hộ pháp, tính tình vui vẻ, có nét gì đó giông giống diễn viên hài người Pháp Fernandel, bước ra khỏi căn nhà gỗ lịch sự hỏi xem tôi đến có việc gì. Tôi đưa cho ông một túi trái cây, rau quả mà tôi mang theo để cúng dưỡng chư tăng và thấy vui vẻ trong lòng khi họ vui mừng nhận lấy. Tôi được mời ngồi lên một chiếc ghế lung lay như răng ông lão trong phòng cầu nguyện vắng vẻ vì vào lúc này, phần lớn các chú tiểu đã đi nhặt củi ở khu rừng gần đó. Một ngọn đèn nhỏ bằng bơ bò yak đang cháy sáng trên một cái bàn thờ tạm thời, đặt trên bệ lò sưởi cũ kiểu Anh. Một tấm lịch có chân dung Đạt Lai Lạt Ma lồng trong khung mạ vàng rẻ tiền được đặt chính giữa bàn thờ. Bên cạnh đó là hai chiếc lọ rẻ tiền cắm nhưng bông hoa đỗ quyên thắm đỏ, thường nở đầu trên các sườn núi vào mùa này trong năm.
    Tôi bắt đầu bằng cách trao đổi những câu thăm hỏi thông thường với nhà sư dáng vạm vỡ ngồi đối diện với tôi trên một chiếc thùng gỗ dùng để đựng hàng. Nước uống mời khách được bưng ra, và tôi đoán rằng đó là thứ được pha bằng loại sữa bột hiệu CARE nghe rất rõ mùi của những hoá chất bảo quản không tên nào đó. Sau khi hớp một vài ngụm cho phải phép, tôi đi vào việc chính.
    Tôi hỏi sư trụ trì xem không biết có nhà tu hành nào ở đây còn nhớ đến một người da trắng, một quý ông người Anh, thực chất là hoá thân của một Lạt Ma từng ở trong thiền viện của họ không. Thật lòng, tôi hỏi cầu âu vậy thôi chứ không nuôi hy vọng gặp được ai đó còn nhớ được ít nhiều chuyện này, nhất là đã hơn mười chín năm trôi qua kẻ từ thời điểm Sherlock Holmes có mặt trong tu viện, vả chăng cũng có rất ít những bậc trưởng lão còn sống sót sau khi tu viện bốc cháy rồi chạy đến tá túc ở khu nhà gỗ phía Bắc Ấn Độ này Vì thế thật là một ngạc nhiên kỳ thú khi nhà sư phương phi gật đầu xác nhận chuyện đó.
    Phải, ông nhớ đã được nghe kể nhiều về quý ông người Anh từng là tu viện trưởng của họ. Một hay hai vị sư già hơn cũng nhớ chuyện này, trong khi những người trẻ hơn, những chú tiểu thì không biết rõ lắm. Tôi đặt ra nhiều câu hỏi, quan tâm đặc biệt đến thời điểm Sherlock Holmes đến tu viện và khoảng thời gian ông ở lại lần đầu tiên và nhận được từ nhà sư những câu trả lời rất chính xác.
    "Thưa ông.…” ông nói giọng từ tốn ân cần, “nếu quả ông có lòng quan tâm đến trulku của chúng tôi, tôi có thể mời ông xem một vật có thể khiến ông chú ý”. Ông quay sang nói với một nhà sư khác và cử vị này đi lấy một vật gì đó. Người này sớm quay lại từ một căn phòng bên trong với một chiếc hộp hình chữ nhật gói trong một vuông vải lụa cũ kỹ, rồi trao cho nhà sư đang tiếp chuyện tôi.
    Vị chủ nhà cung kính tháo lớp vải bọc ngoài để lọ ra một cái hộp đựng công văn bằng thiếc còn cũ kỹ hơn nữa khiến trái tim trong lồng ngực tôi giật thót lên một cái. Ông mở chiếc hộp. Bên trong, năm giữa một vài vật dụng của những người tu hành là một chiếc kính lúp sứt mẻ và một tẩu thuốc bằng gỗ anh đào xưa cũ mòn vẹt.
    Thoạt đầu tôi nghẹn ngào không thể nói nên lời, và sau khi trấn tĩnh lại, tôi thật xấu hổ phải thú nhận rằng trong cơn kích động trước nhưng phát hiện vô giá này, tôi đã bộp chộp nêu ra một yêu cầu thô lỗ và thiếu cân nhắc.
    “Thầy có thể nhượng lại cho tôi hai vật này không tôi chỉ vào chiếc kính lúp và tẩu thuốc”.
    "Tôi e điều này thì không thể được," nhà sư mỉm cười đôn hậu, không lấy làm điều về đề nghị bất nhã của tôi. "Ông cũng biết đấy, những vật này hết sức quan trọng đối với tu viện chúng tôi. Mặt khác, chúng còn có những giá trị về phương diện tình cảm đối với tôi".
    "Thầy nói vậy là có ý gì, thưa thầy” tôi bối rối hỏi lại.
    “À, đây là những món tôi đã chọn khi còn là một đứa trẻ vào lúc chúng tìm đến tôi".
    “Gì cơ?” tôi kêu lên "Ý thầy là…”
    “Phải," ông trả lời với một cái nháy mắt tinh nghịch. “Ngài không nên quá kinh ngạc như thế”.
    “Nhưng đó là điều không thể!”.
    "Không thể ư, thưa ông! Hãy cân nhắc sự thật một cách cẩn trọng” ông nói với dáng vẻ của một ông thầy đang lên lớp cho học trò, “rồi hãy áp dụng câu châm ngôn cũ này của tôi, một khi bạn đã loại trừ điều không thể bất cứ thứ gì còn lại, dù không thể xảy ra, ắt hắn là sự thật".
    Trong lúc tôi ngồi nhìn ông trong căn phòng tối chỉ được thắp sáng bằng một ngọn đèn duy nhất thắp bằng bơ yak, ông bắt đầu cười khe khẽ theo một kiểu lặng lẽ rất riêng.

    J.N.
    Nalanda Cottage
    Dharamsala
    5 tháng Sáu năm 1989.
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  7. Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    An Giang
    Bài gởi
    1,017
    Cảm ơn
    1
    Được cảm ơn 41 lần trong 26 bài
    Received 1 thank(s)
    Rep Power
    36

    Lời cảm ơn



    Lời cảm ơn

    Mọi cuộc hành trình đều kết thúc ở màn thanh toán tiền nong: trả tiền cho phu khuân vác, người dắt la hoặc điều khiển lạc đà và thưởng cho nhân viên, đặc biệt là những người dẫn đường đáng tin cậy và tất nhiên là sirdar(1) người lãnh đạo vô giá và là nhà tổ chức của đoàn hành hương. Đó cũng là lúc bạn phải tìm ra những lời thích hợp để cám ơn và đền đáp cho sự đóng góp của mỗi người bạn đồng hành trung thành, ít nhất cũng là vì vô số những nghĩa cử đẹp đẽ và tinh thương yêu mà bạn đã nhận được trên mỗi chặng đường.
    Đầu tiên và trên tất cả, tôi ý thức được món nợ lớn lao đối với hai nhà văn nổi tiếng nhất nước Anh thời Victoria là Arthur Conan Doyle và Rudyard Kipling, chính là nhờ những tác phẩm vĩ đại của họ mà cuốn sách cóp nhặt nhỏ nhoi của tôi mới được tượng hình thai nghén và nuôi dưỡng - cũng như cái cách mà một loài động vật được nhắc đến trong truyện đã làm.
    Sáu mươi cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes được ghi chép lại dưới ngòi bút John H. Watson được hậu thế biết đến như là "bậc thầy" của “Các tác phẩm thiêng liêng”. Những tác phẩm viết về Sherlock Holmes cũng tương đương với "Kangyur" trong Phật giáo Tây Tạng, là cội nguồn quan trọng cho cảm hứng và cuộc tìm kiếm tri thức; không chỉ trên cơ sở lập luận mà còn cho văn phong và thậm chí bối cảnh cho tác phẩm của tôi.
    Nhìn chúng bạn đọc đông đảo thường không nhận biết được giá trị tham khảo của những bài phê bình về Holmes vốn được xem như là “Tác phẩm thứ hai", mà trong Lạt Ma giáo có một từ tương đương rất hay là "Tengyur" - hoặc những lời phê bình. Rất nhiều những “Tác phẩm thứ hai” đã thảo luận về đề tài này, có giá trị nhất trong số đó là tác phẩm kinh điển của Vincent Starret, Cuộc sống riêng tư của Sherlock Holmes và tất nhiên là tác phẩm của William S. Baring-Gould, Sherlock Holmes ở đường Baker, ngoài ra còn có bộ sưu tập lớn có chú thích toàn bộ các câu chuyện về Sherlock Holmes. Tôi cũng nên nhắc đến hai nỗ lực từ rất sớm trong việc xây dựng lại khoảng thời gian Sherlock Holmes ở Tây Tạng, đó là cuốn Sherlock Holmes ở Tây Tạng của tác giả Richard Wincor và tác phẩm The Adamatine Sherlock Holmes của Hapi.
    Hạt giống ý tưởng đầu tiên về tác phẩm mandala of Sherlock Holmes được gieo trong đầu tôi là của John Ball tiên sinh (một học giả Oxford đầy tham vọng) tác giả nổi tiếng của tiểu thuyết (Trong cái nóng nực ban đêm, v.v…, chủ tịch Hội đoàn Los Angeles Scion Society (về Sherlock Holmes) và Master Copper-Beech-Smith of the song of the Copper Beeches, ở Phiìadelphia, người trong một đêrn đông lạnh lẽo tại Dharamsata năm 1970 đã kiểm tra một cách cẩn thận kiến thức của tôi về “Những tác phẩm thiêng liêng", để đi đến kết luận mà ông đã long trọng tuyên bố khi chào mừng tôi gia nhập vào Baker Street Irregulars. (John Ball, “Con đường của một Master”, Tạp chí Baker street, tháng 3 1971, Vol. 21, No.1, New York)
    Kim - cuốn tiểu thuyết vĩ đại của Ruyard Kipling về Ấn Độ thuộc Anh, được Nirad Choudhari xem là câu chuyện đẹp nhất về Ấn Độ thuộc Anh là nguồn cung cấp những thông tin địa lý cho bối cảnh của câu chuyện, nhất là hoàn cảnh ra đời của "Cuộc chơi vĩ đại" cùng một số nhân vật của nó - những nhân vật không thể thiếu từ Bengali Boswell cho đến Giáo sư. Những truyện ngắn khác của Kipling, đặc biệt trong những tuyển chọn này: Chiếc xe kéo ma quái và tác câu chuyện kỳ quái khác, Câu chuyện của núi dồi, và Dưới những cây thông tuyết đã cung cấp thêm nhiều chi tiết thú vị khác.
    Tôi không cho phép mình quên những kiến thức thu lượm được trong các tác phẩm của Sarat Chandra Das, một học giả đồng thời là điệp viên người Bengal nổi tiếng, đó là nguồn cảm hứng thật sự cho nhân vật Hurree Chunder Mookerjee của Kipling. Tác phẩm quan trọng của Das đã tạo thêm sinh khí cho cuốn cách này là Hành trình đến Lhassa và Trung tâm Tây Tạng. Tôi cũng phải nhắc đến tác phẩm Xuyên qua Himalaya của Sven Hedin, nó đã cung cấp chất liệu trong việc chuẩn bị cho hành trình của Holmes đến Lhassa.
    Về bối cảnh của Ấn Độ và sự cai trị của Anh ở Ấn Độ: tác phẩm Hướng dẫn đến Simla và vùng lân cận của tác giả Sood, cuốn Những câu chuyện rút được từ sự cai trị của Anh ở Ấn Độ của tác giả Charles Allen, cùng tác phẩm sự cai trị của Anh ở Ấn Độ, một cuốn ghép hình về Anh-Ấn, Ấn Độ thuộc Anh của Geoftrey Moorhouse; Phong tục và đặc điểm của Ấn Độ thuộc Anh của Evelyn Battye, tất cà đều là những nguồn mà tôi đã vay mượn ít nhiều để dựng lại đoạn miêu tả về cảnh sát giao thông ở Bombay. Còn về tôn giáo, tôi có tham khảo những tác phẩm của Kazi Dawa Samdup và Evans Wentz liên quan đến “phowa và Trongiug”, cuốn Shambala: ốc dào ánh sáng của Andrew Tomas; những tác phẩm của Carl cũng liên quan đến những vật thể bay lạ trong không gian và mandala trong bộ sưu tập đồ sộ của ông. Nền văn minh trong buổi giao thời. Những học giả và nhà văn khác có những tác phẩm được nhắc đến và ghi lại trong phần chú thích và trích dẫn. Xin được cám ơn Gyamtso vì hai tấm bản đồ, cám ơn Pierre Stilli, Lindsey và đặc biệt là Christopher Beauchet vì những đóng góp cho những hình ảnh minh hoạ ban đầu. Tôi cũng xin cám ơn Esther vì đã đánh máy toàn bộ bản thảo này.
    Tôi mang ơn Shell và Roger Larsen vì lòng mến khách nhiệt tình, không có giới hạn mà họ dành cho tôi trong giai đoạn tôi bắt đầu viết sách và sự ủng hộ của Tamsin. Tôi cũng biết ơn những người bạn Tashi Tsering và Lhasang Tsering vì đã hiệu đính, đề nghị và đôn đốc thường xuyên để "mandala" được xuất bản; tôi cũng xin cám ơn Patrick French vì những lời khuyên đáng giá và sự động viên hào phóng. Tôi phải cám ơn người biên tập đầu tiên - Aradhana Bisht - với những lời nhận xét hữu ích về nhân vật Hurree. Tôi đặc biệt cám ơn Jan Smith, Anthony Sheil, Elenora Tevis, Susan Schulman, Jenny Manriquezl và các cựu đại sứ Mỹ ở Ấn Độ là Frank Wisner, Tenzin Sonam, Riêu Sarin, giáo sư Sondhi và bà Madhuri Santanam Sondhi vì sự động viên quý giá và sự giúp đỡ trong việc cho ra đời cuốn sách này. Xin cám ơn Amalay Regzin và nhất là Tenzing và Nam kha vì tình yêu và sự ủng hộ vô bờ bến.
    Chú thích:
    (1) Sirdar: người đứng đầu, ng trưởng nhóm hoặc người tổ chức một đoàn buôn hoặc một cuộc thám hiểm (tiếng Hindu)

    Bảng chú giải ngắn về từ và câu Hindu, tiếng Anh-Ấn, tiếng Phạn, Tây Tạng và Trung quốc.


    Amban: người đại diện cho triều đình Mãn Thanh ở Lhassa.
    Angrezi: Người Anh (tiếng Hindi-Urdu) (Hindustani là từ trong tiếng Anh để chỉ cả hai thứ tiếng Hindi (ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ) và tiếng Urdu (ngôn ngữ chính thức của Pakistan), mà theo giới ngôn ngữ học là hai phương ngữ của cùng một thứ tiếng). Tiếng “Hindustani" cũng được viết là tiếng Hindi-Urdu)
    Anna: đơn vị tiền tệ Ấn Độ bằng 1/16 đồng rupi.
    Argon: con của một cuộc hôn nhân giữa người Yarkandi và Ladakh hay người bản xứ Spiti.
    Arre! diễn tả sự kinh ngạc (tiếng Hindi-Urdu).
    Arya- arta: cùng đất cao quý, Ấn Độ (tiếng Phạn).
    Babu: người bần xứ có học thức làm công chức nhà nước (tiếng Hindi-Urdu).
    Bahadur: anh hùng, dũng cảm (tiếng Mông Cổ, Hindi-Urdu).
    Baksheesh: tiền boa, tiền trà thuốc (tiếng Hindi-Urdu).
    Bakwas: vô lý, nhảm nhí (tiếng Hindi-Urdu).
    Baapre-baap: cha ơi (tiếng Hindi-Urdu).
    Baraat: đám rước dâu (tiếng Hindi-Urdu).
    Bảy Báu vật (Seven Articles): Bày Báu vật hoàng tộc gồm Nữ hoàng cao quý, Bộ trưởng cao quý Trưởng tu viện cao quý, Ngọc ước quý giá, Bánh xe quý Voi quý và Ngựa quý.
    Bearer: người hầu, người phục dịch trong nhà (tiếng Anh-Án).
    Benaras: thành phố thảnh của người Hindu, ở bên bờ sông Hằng.
    Betel nut: quả cau.
    Bewakoof. đồ ngốc (tiếng Hindi-Urdu).
    Bhangi: người ở, người giúp việc (tiếng Hindi-Urdu).
    Bhisti: những người mang nước (tiếng Hỉndi-urdu).
    Bhocia: dân Tây Tạng, hay dân tộc Tây Tạng ở Himalaya Ấn Độ (tiếng Hindi-Urdu).
    Bi đi: điếu xì gà nhỏ của người bản xứ (tiếng Hindi-Urdu).
    Bikaner: một tiểu vương quốc và thành phố tráng lệ trước đây ở Rajastan.
    Bilaur: pha lê (tiếng Tây Tạng).
    Bistra: túi ngủ tiếng Tây Tạng).
    Bodhistat~a: dịch âm Hán ~lẹt là Bo-đề T~á~doa hay còn gọi là “Ồ Tá(. Trong Phật giáo Đại thừa, Bồ tát là hành gia sau khi hành trì đã đạt thành tựu (Phật qua) nhưng nguyện không nhập Niết bàn khi chúng sanh chưa giác ngộ (tiếng Phạn).
    “rahmo Somay ~Xã hội thần thánh là khái niệm được nêu ra của Rajam Ram Mohan Roy: nhà cải cách vĩ đại Ấn Độ và vị lão thành nhất của Thời phục hưng Bengal.
    Budmaash: một người không tốc, một kẻ xấu (tiếng Tây Tạng).
    Bukoo: một kiểu áo choàng Tây Tạng (tiếng Hindi-Urdu).
    Bundobust: một tổ chức tài năng (tiếng Hindi-Urdu).
    Bundook: một khâu súng trường tiếng Hindi-Urdu).
    Burra: lớn, quan trọng tiếng Hindi-Urdu).
    Burra mèm: quý bà quan trọng (tiếng Hindi-Urdu).
    Cahuli: đến từ Kabul ở Afghanistan (tiếng Hindi-Urdu).
    Chatter Munzil: những cung điện ở Lucknow được xây dựng cho những bà vợ của một nhà cầm quyền Hồi giáo.
    Chale cao: đi đi (tiếng Hindi-Urdu).
    Chao.: đi, chạy đi (tiếng Hindi-Urdu).
    Chang: một loại bia màu trắng nhạt làm từ lúa mạch lên men (tiếng Tây Tạng).
    Chaprasi: người đưa tin, người phục vụ cho cho nhà nước, có đeo ~loá ở thắt lưng (tiếng Hindi-Urdu).
    Chilinpa: người ngoại quốc, người Châu Âu (tiếng Tây Tạng).
    Chini: ngôi làng điên đồi ở biên giới Kinnaur, giờ là Kalpa.
    Chintamani: vật quý thực hiện được điều ước trong các truyền ~hu~ết của Phật giáo (tiếng Phạn).
    Chokra: thằng nhai, thằng nhóc lè đường (tiếng Hindi-Urdu).
    Chota-hazri: bữa trà sáng sớm (tiếng Anh lai ấn).
    Churail: ma, linh hồn một người đàn bà đã chết khi sinh con (tiếng Tây Tạng). “C I E: danh hiệu trung tá của đế quốc Ấn Độ thuộc Anh.
    Collector: người quần lý chính của một hạt, ban đầu là người thu thuế.
    Dacoit: tên cướp (tiếng ~nh-ân).
    Da dao: thanh gươm lưới to bấn của đao phu.
    Dak bungalow: toà nhà cho khách ở của chính phủ (tiếng Anh-Án).
    Daal:,đậu lăng (tiếng Hinsu).
    Dam cha: gà nước (tiếng Tây Tạng).
    Dayig: công văn nhà nước, theo nghĩa đen là mũi tên công vụ (tiếng Tây Tạng).
    Dawat: tiệc mừng (tiếng Hindi-Urdu).
    De kho: nhìn kìa (tiếng Hindi-Urdu).
    Dekchis: nồi nấu ăn (tiếng Hindi-Urdu).
    Deodar: thuộc loài tuyết tùng mọc nhiều ở phía tây Himalaya.
    Dharma: Pháp, một khái niệm quan trọng trong Đạo Phật có nhiều nghĩa trong đó nghĩa quan trọng nhất là quý luật bao trùm toàn thêm vú trụ, nhất là quy luật tái sinh dưới tác động của nghiệp. Đức Phật là người đã giác ngộ được quy luật nói trên và giáo hoá giác ngộ cho chúng sinh (tiếng Phạn).
    Dhoti: chiếc khố lỏng được những người theo Ấn Độ giáo mặc (tiếng Hindi-Urdu).
    Dorjee: ban đầu là vũ khí sấm sét của Indra, về sau được đồng hoá vào ký hiệu của Phật giáo như là “lvajral” (tiếng Phạn), quyền trượng kim cương (tiếng Tây Tạng).
    Double dorjee: "quyền trượng kim cương" chữ thập, ký hiệu về tính bất biến của đạo Phật.
    Drilbu: chuông (ciếng Tây Tạng).
    Dllck~ trang phục được dẹt bằng sợi hong dày tiếng Anh ~11~.
    Eblis: cương cự quý sa tăng của Hồi giáo tiếng ~A rập).
    Ecca ghari: loại xe ngựa nhỏ, dùng để chơ khích, có 2 bánh (tiếng Hindi-Urdu).
    “adha: con lừa (tiếng Tây Tạng).
    “aruda: phượng hoàng hay chim khổng lồ, loài chim đầy sức mạnh trong huyền choại Phật giáo ~à Ấn Độ giáo tiếng Phạn thau: chiếc hộp ma thuật (tiếng Tây Tạng).
    “reay ~ame: 5ự đấu tranh và hoạt động gián điệp của ~nh-nga ở biên giới phía Bắc Ấn Độ.
    Hai-mai: ~hố lân ~ôi chưa", tiếng khóc ru~ẹt vọng (Tiếng Hindi-Urdu).
    Ha kim: bác si (tiếng Hindi~rdu).
    Havildal~ trung sĩ (tiếng Hindi-Urdu).
    Ha~dil]i: bùa hộ mạng (tiếng Hindi-Urdu).
    Hill ~a~ion: khll vực nằm cách mặt biển trên 1500 mét nơi mà chính pht~l chuyên đến lúc thời tiết nóng (tiếng ~nh~n).
    “ookah; óng nt~ớc phương Đông tiếng Hindi~rau).
    Howdah: chỗ ngồi có ~om che trên lưng voi tiếng Hindi~urdu).
    Huthok~u: dòng dõi Lạt Ma cao cáp (tiếng Mông Cô”.
    Ihar aao: đến đây (tiếng Hindi-Urdu).
    In~er: toa đệm, một trong nhiều toa trên những chuyến tàu lửa ~Ấn Độ thời xưa. Giữa toa thứ ba và thứ hai (tiếng Anh~ấn). lzzat: vinh dự (tiếng Hindi-Urdu).
    “adoo: ma thuật (tiếng Hindi-Urdu).
    “aldi: nhanh lên (tiếng Hindi-Urdu).
    “amun: một loại cay của Ấn Độ và châu á~ y~ygium cu~zi~zi; có quả màu đỏ tía có thể ăn được (tiếng Hindi-Urdu).
    Jehannum: địa ngục (tiếng Hindi-Urdu).
    “hampanees: xe kéo ở Simla (Pahari).
    “hula: cầu treo thô (tiếng Tây Tạng).
    “i: một hậu tố biểu thị sự tôn trọng v61 người được nói đến (tiếng Hindi-Urdu).
    “ingals: loại súng hoả mai nặng được đặt trên chan đứng cần hai người sử dụng (tiếng Anh~n).
    Kabari: cửa hàng bán đò cũ (tiếng Tây Tạng).
    Kacha: tạm thời (tiếng Hindi-Urdu).
    Ka li: nữ thần Ấn Độ giáo khát máu, được thờ phụng ở nhiều vừng thuộc Bengal.
    Kalka: một thị trấn nhỏ ở chân dãy Himalaya, trên đường ~ừ ~mbala đến Simla.
    Kankar: cay đoan.
    “arma (nghiệp): niềm tin của Phật giáoẤn Độ giáo, cho rằng mỗi hành động đều kéo theo những hậu quả không thể tránh được, dù tọt hay xấu, trong cả đời này và kiếp sau.
    Kashag: bộ trưởng Tây Tạng.
    Kashgar: chành phố lớn ở Đông ~urkestan.
    Kachiawar: bán đảo ở vùng biển Tây Bắc Ấn Độ.
    Kayeth: người viết thuê ở chợ, hay (tiếng Hindi-Urdu).
    Kesar of Oros: Nga hoàng.
    “habardar: diễn tả sự khiển trách (tiếng Hindi-Urdu).
    “haflla: hành hương (tiếng A rập).
    Khanda: một loại kiếm (tiếng Pashto).
    Khatag: những chiếc khăn quàng cố bằng lục hay sợi màu trắng đắt tiền được người Tây Tạng dùng như một dấu hiệu chào mừng hay bày cỏ sự kính trọng (tiếng Tây Tạng).
    Khuya: loại bánh quy cứng của người Ladakh.
    Kismet: số phận (tiếng Hindi-Urdu).
    “otgarh: cơ sở truyền giáo của dạo Cơ đốc nằm phía Đông Bắc Simla.
    Kuan-yin ~uan ~m) : tên của Bồ Tát tại Trung quốc và các nước lân cận, tại các nước này ~uan âm thường được diễn ta dưới dạng nữ nhân, là vị Bồ Tát tượng trưng cho tình chương vô lượng đối với chúng sinh.
    Kệch nahin: không gì cả (tiếng Hindi-Urdu).
    Kunjiri: tâng lớp bán rau quả (tiếng Hindi-Urdu).
    Kusho: ngài, hay ngài đáng kính (tiếng Tây Tạng).
    “uttar: dao găm (tiếng Pashto).
    Kya: gì vậy (tiếng Hindi-Urdu).
    Hay hai: cái gì thết (tiếng Hindi-Urdu).
    La: ngọn đèo (tiếng Tây Tạng).
    Lanh: trăm ngàn (tiếng Hindi-Urdu).
    Lathi: gậy trẻ (tiếng Hindi-Urdu).
    Leh: thủ phủ xứ Ladakh và là trung tâm thương mại sâm uất, trước đây nằm giữa Tây Tạng, Kashmir và Trung á.
    Iha: thần (tiếng Tây Tạng).
    Iha gyalo: Chiến thắng cho các vị thần? (tiếng Tây Tạng).
    Lin gam: biểu tượng về dương vật (tiếng Phạn).
    Lopchap: nhiệm vụ triều cống hàng năm của vua Ladakh đối với Đạt Lai Lạt Ma (tiếng Tây Tạng).
    Mahasiddha: một người có Tăng lực tâm linh cao (tiếng Phạn).
    Mahout: quản tượng (tiếng Hindi-Urdu).
    Mani lag-khor: bánh xe cảu nguyện (tiếng Tây Tạng).
    Man tra: câu thần chú (tiếng Phạn).
    Me la: chợ phiên (tiếng Hindi-Urdu).
    Mom: bánh bao nhân thịt hấp hơi (tiếng Tây Tạng).
    Mudra: ấn, động tác trong khi hành lễ của Mật giáo (tiếng Phạn).
    Murrree: khu an dương trên núi ở Tây Bắc Ấn Độ, nổi tiếng với món bia.
    Mursala: quốc thư, công văn của nhà nước hiểu theo nghĩa trang trọng (tiếng ta Tư).
    Mussak: thùng đã đựng nước (tiếng Hindi-Urdu).
    Namaste: diễn tả sự chào mừng (tiếng Hindi-Urdu).
    Narkhanda: một thị trấn nhỏ nằm ở Đông Bắc Simla.
    Nickel Jao: cút đi (tiếng Hindi-Urdu).
    Nizamut: vụ án (tiếng Hindi-Urdu).
    Norbu rimpoche: nhìn thấy Chintamani (tiếng Tây Tạng).
    Nowkri: phục vụ, làm việc (tiếng Hindi-Urdu).
    Om Mani Padme Hum: (dịch ra âm Hán Việt là Um ma ni bát mê hồng) câu thần chú Phật giáo (man tra), thường được dịch là "Om, Ngọc quý trong hoa sen, hum”.
    Sáu âm của thần chú này được xem là tương ứng với sáu coi tái sinh của dục giới.
    Oswal ~ain: một nhóm đặc biệt trong cộng dông người theo đạo Jana, nổi tiếng vì sự nhạy bén thương mại của nó.
    Pan: một miếng lá trầu có tác dụng gây mê nhẹ, nhai cùng với một miếng cau, cùng gia vị và vôi, nhiều người Ấn có thói quen nhai paan vì nó có tác dụng chắc răng và làm môi đỏ.
    Paan-bidi-wallahs: những người bán thuốc lá và paan dạo (tiếng Hindi-Urdu).
    Pahari: người vùng cao.
    P~O: Cong ty hàng hải tàu hơi nước phương đông và bán đao, công ty hàng hai lớn và nổi tiếng nhất trong lĩnh vực chơ du khách nh đến Ấn Độ và phương Đông.
    Parao: nơi nghi ngơi bên đường (tiếng Hindi-Urdu).
    Peshawar: ở lối vào đèo ~jlyber, ~hủ pht~l rinh biên giới Tây Bắc.
    Phowa: thuật chuyện đi tâm thức của những người theo thuyết đủ già (yoga) từ một hoá thân này đến một hoá thân khác mà không gây ra sự đứt đoạn nào trong dòng tương tục của tâm thức (tiếng Tây Tạng).
    Phurba: dao găm có ba cạnh thuộc lễ nghi tôn giáo, thường được gọi sai lầm là "dao găm ma quỷ” (tiếng Tây Tạng).
    Pie: là phần nhỏ nhất của đồng rupi xưa. 1 rupi bằng lý anna, 1 anna hằng 4 pice và 1 pice bằng 3 pie.
    Poodle-faker: người đàn ông lăng nhăng, đặc biệt là ở các khu an dương trên núi (tiếng Anh~n).
    Poshtee l: áo choàng dài bằng đã cửu xuất xứ từ Afghanistan.
    Pukka: một từ thường được dùng với nhiều nghĩa như khoe mạnh, cứng cáp, lực lưỡng, chân thật hay hào phóng (tiếng Hindi-Urdu).
    Pundit: người có học, thầy giáo (tiếng Hindi-Urdu).
    Punkak: người hâm mộ (tiếng Hindi-Urdu).
    Puranas: mười tám bần văn thiêng liêng được viết giữa giai đoạn năm 200 trước công nguyên đến năm 800 sau công nguyên, chứa đựng các thiên anh hùng cả, huyền thoại, tri thức phổ biến… gồm các nguyên tắc chung về tôn giáo và đạo đức của Ấn Độ giáo.
    Purana trong tiếng Phạn có nghĩa là cổ xưa.
    Puttoo: vật liệu len dệt bằng tay.
    P~VVD: Bộ công trình công cộng.
    Rai Bahadur: một danh hiệu quan trọng được trao tặng bởi pho vương.
    Ramasi: ngôn ngữ của nhăng kẻ sát nhân.
    Rampur: thị trấn bên sông Sutlej Đông Bắc Simla, thủ phu của lãnh thổ đồi núi độc lập Bushair.
    Rukho: dừng lại (tiếng Hindi-Urdu).
    Saat phải: hội kín Ấn Độ giáo.
    Sadhu: chày tu khất thực (tiếng Hindi-Urdu).
    Sai: chú rể.
    Sakht hurra a~sar: cấp bậc sĩ quan cao cấp trong quân đội (tiếng Hindi-Urdu).
    Salaam: lời chào, hay tỏ sự tôn trọng (tiếng Hindi-Urdu).
    Sambhar: loài hươu lớn Ấn Độ.
    Samsara: với Phật giáo, là quá trình đầu thai vào một sinh vật khác sau khi một người chết đi; với Ấn Độ giáo, là vòng quay bất tận của sinh, tư và tái sinh mà tất cả sinh vật đều phải trải qua.
    Sang: một chiếc cầu làm bằng không thanh gỗ thô (tiếng Pahari).
    Sai: phong tục cũ của Ấn Độ giáo quy định phải thiêu sống goá phụ cùng với người chồng vừa chết, một phong tục đã man đã bị Ram Mohan Ro~ lên án và bị chính phủ Anh cho là bất hợp pháp.
    Seer: đơn vị do lường trọng lượng của Ấn Độ tương dương với O~ kg.
    Se rai: khu vực tạm nghỉ cho đoàn hành hương, cũng là nơi trú chân cho các du khách (tiếng Hindi-Urdu).
    Shay ~iêt (Sát) (tiếng Trung Quốc).
    Shabash: rất tốt, hoan hô (tiếng Hindi-Urdu).
    Shaitan: ~u~ dư (tiếng Hindi-Urdu).
    Shamiana: lêu bạt (tiếng Hindi-Urdu).
    Shikar: săn (tiếng Hindi-Urdu).
    Sirdar: lanh đạo, cũng là người tổ chức một đoàn hành hương hay thám hiểm (tiếng Hindi-Urdu).
    Si~ar: đàn luật có nhiều dây của người Ấn.
    Sivaliks: một rặng đồi thấp ở phía tây dãy Himalaya.
    Skanda Puranas: một trong mười tám bản văn thiêng liêng của Puranas.
    Spiti: ở biên giới Tây Tạng. Trong thung lũng của một vùng phụ lưu sông Sutlej
    San~rasi: ân sĩ.
    TA: trợ cáp du lịch (tiếng Anh lai ấn).
    Talwar: gươm (tiếng Hindi-Urdu).
    Tam Bảo (Three ~e~els): Phật, Pháp và Tăng trong Phật giáo.
    Tám biểu tượng chiến thắng (Eight Auspicious Emblems): gồm chiếc Lọng, Cặp cá vàng, có ốc xoắn (xoắn về phía bên phải), Nút buộc không bao giờ kết thúc; Lá cờ cối cao, Đại pháp thời luân; Chiếc bình giàu có vĩ đại và Hoa sen.
    Tantric: Mật giáo (tiếng Phạn).
    Tasam: đoàn hành hương: khu vực dừng chân (tiếng Tây Tạng).
    Tạt: ngựa lùn vùng cao.
    Taar: diện tín.
    Thanh: sở cảnh sát, nhà tù.
    Thang ka: cuộn tranh vẽ Tây Tạng.
    Thugs: một ~ố chức sát nhân (tiếng Hindi-Urdu).
    Ticca ghari: xe ngựa bốn bánh cho thuê.
    Tif~m: tiệc trưa (Anh-Án).
    Tummies: lính trơn người ~nh.
    Topee: mũ cát, chính xác là nón của người Hindu ~th-ấn).
    Trichinopogy: xì gà chất lượng cao được làm tại ~orur, một ngôi làng gần Thiruchirapalli ở Nam ~n ~nh-ân).
    Trong thuật thiền(yoga) nhằm chuyển tâm thức của một người vào cơ thể của một người khác còn sống (Tây Tạng).
    Trulku: hoá thân của một Lạt Ma (Tây Tạng).
    Tsampa: lúa mạch rang.
    Tsongdu: quốc hội Tây Tạng.
    Tung: tín đồ Hồi giáo người Trung quốc ở ~ansu.
    Tuticorin: cáng biên ở cực Đông Nam của Madras, có quan hệ buôn bán với Ceylon.
    Chen: kiểu chữ Tây Tạng.
    May: chữ thao Tây Tạng.
    Umballa: theo cách viết cũ là Ambala, thủ phủ của vùng đấy
    Ơ phía Đông Punjab.
    Upanishads: trong Ấn Độ giáo, bất cứ một loại luận thuyết tự biện nào, thường được viết dưới hình thức đối thoại, được soạn trong khoảng từ giữa thế kỷ 8 đến thế kỷ 6 trước công nguyên và được chép thành văn ban lần đầu tiên vào năm 1300 sau công nguyên (tiếng Phạn).
    Utpala: Hoa sen xanh (tiếng Phạn).
    Va~ra: nhìn thấy "dorjee l (tiếng Phạn).
    Vangala: Bengal (tiếng Phạn).
    “Vahl: phó từ diễn tả sự kính trọng và thán phục (tiếng Hindi-Urdu). “Trang kur: cho nhập môn (Tây Tạng).
    Yakdan: hòm gỗ bọc đã (tiếng Turkic).
    Yamen: nơi ở của vị đại diện Man thanh tại trên một ốc đảo lớn ở Ta rim Ba sin.
    Yidam: hoá thần, giống như thần hộ pháp (Tây Tạng).
    Za de mon: quỷ dữ có hình dáng một con bò cạp toàn thân phu đầy mắt (tiếng Tây Tạng).
    Zoolum: sự đàn áp (tiếng Hind~urdu).
    Bình chọn Hoa khôi trinh thám 2010


  8. Tham gia ngày
    Oct 2009
    Bài gởi
    2
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài
    Rep Power
    0



    đọc tới đoạn cuối mới hay thực sự

    bạn vất vả quá hén ^^
     

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 4/4
đầuđầu ... 2 3 4

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Chủ đề giống nhau

  1. Sherlock Holmes (Audio) - Công Việc Sau Cùng Của Holmes
    By ladloveluffy in forum ♪Nghe đọc truyện.
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 02-04-2012, 07:29 AM
  2. Sherlock Holmes Toàn Tập
    By jan031985 in forum Tiểu Thuyết Trinh Thám
    Trả lời: 17
    Bài mới gởi: 03-03-2012, 05:15 PM
  3. Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 22-01-2012, 05:58 PM
  4. Trả lời: 12
    Bài mới gởi: 22-01-2012, 05:53 PM
  5. Sherlock Holmes (Audio) - Sherlock Holmes hấp hối
    By ladloveluffy in forum ♪Nghe đọc truyện.
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 04-10-2008, 09:25 AM

Visitors found this page by searching for:

Jamyang*Norbu

Dien Dan

Members who have read this thread : 7

Bookmarks

Quuyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời bài viết
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết