+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Ðề tài: Nghệ thuật của pháp y

  1. Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45

    Nghệ thuật của pháp y

    Share/Bookmark



    Nghệ thuật của pháp y (phần I)

    Khi John Emil List đóng cánh cửa căn hộ của mình tại New Jersey vào tháng 11/1971, hắn cho rằng mình đã khép lại một chương trong cuộc đời. Sau cánh cửa đó, mẹ đẻ của hắn, đã chết, nằm trên sàn, vợ và 3 đứa con đang mất máu dần vì những vết thương chí mạng.



    John Emil List.

    Hắn đã bắn họ vào buổi sáng ngày hôm đó rồi lái xe tới sân bay, bỏ lại chiếc xe và chứng minh thư của mình và lên máy bay. Hắn không biết rằng gần 20 năm sau đó, các nhà khoa học pháp y đã đưa được hắn ra trước sự công minh của pháp luật.

    Khi các nhà chức trách phát hiện ra 5 xác chết trong căn hộ, họ hầu như có thể khẳng định chắc chắn kẻ nào gây ra vụ đó. Tại cơ quan, List để lại một bức thư dài cho người quản lý mình, nêu lý do tại sao hắn lại phải ra tay giết cả nhà. Vấn đề là không ai biết lúc đó hắn đang ở đâu. Vì hắn để đèn sáng và bật nhạc nên trong suốt nhiều tuần liền sau vụ giết người, hàng xóm không ai phát hiện có điều gì bất thường xảy ra trong căn nhà. Khi cảnh sát được gọi tới thì List đã cao chạy xa bay.

    Qua nhiều năm, những dấu vết còn lại dường như đã mờ nhạt. Đến khoảng năm 1988, cảnh sát mới có trong tay bức ảnh của List, được "cập nhật" nhờ phương pháp tính toán mức độ già đi của khuôn mặt hắn sau 20 năm. Họ đưa những bức ảnh này lên hệ thống thông tin trên toàn nước Mỹ và hy vọng có người nào đó sẽ nhận ra hắn.

    Wanda Flannery, một người hàng xóm của gia đình Bob và Delores Clark, nhìn ra sự giống nhau giữa bức ảnh và Bob. Cô chợt thấy rằng bạn mình, Delores, đã lấy phải một kẻ khá nguy hiểm. Cô lập tức mang tấm ảnh sang cho Delore, nhưng bị cô này gạt phắt đi. Ngay sau đó, Delore và gia đình chuyển về miền đông sinh sống.

    Cũng trong năm 1988, chương trình tivi có tên Những kẻ bị truy nã trên toàn nước Mỹ quyết định giải quyết những vụ án còn tồn đọng lại. Họ thuê chuyên gia điêu khắc và pháp y Frank Bender tạo ra một phiên bản 3 chiều của những kẻ tội phạm chưa bị bắt rồi trưng bày hình ảnh đó trên tivi. Bender đã làm rất nhiều bức tượng như vậy, của cả những nạn nhân còn mất tích lẫn những tên tội phạm đang trốn chạy. Nhưng với ông, dù quen việc đến đâu, việc “cập nhật” hình dáng khuôn mặt của một kẻ đã mất tích 17 năm nay không phải là điều đơn giản.

    Để tạo ra một bức tượng miêu tả chính xác kẻ giết người, Bender hiểu rằng phải thực hiện nghiên cứu tâm lý của tên tội phạm để có thể tóm được cái “hồn” mà hắn thể hiện trên khuôn mặt qua nhiều năm trốn chạy. Kết hợp với chuyên gia tâm lý học hình sự Richard Walter, ông nghiên cứu lại tập hồ sơ về List. Cả hai người không bỏ qua bất kỳ chi tiết nào, dù nhỏ, về thói quen của List, về những điều hắn viết trong lá thư gửi cho cấp trên trước khi tàn sát gia đình và những gì người ta nói về hắn. Sau đó, họ quyết định xem phần nào trong tính cách của hắn sẽ giữ nguyên không thay đổi và những phần nào đã đổi khác. Họ dự đoán được rằng hắn vẫn giữ kiểu kính cũ, vẫn hành nghề kế toán, vẫn đi lễ nhà thờ, và có nhiều khả năng đã lấy vợ. Bụng hắn chắc đã phệ ra sau từng ấy năm, da dẻ nhăn nheo hơn ở vùng xung quanh cằm, mắt và quanh chân tóc. Nhiều khả năng hắn không phẫu thuật chỉnh hình để sửa lại dáng vẻ bên ngoài. Đáng chú ý nhất là hắn có một vết sẹo phía sau tai bên phải và chắc là nó vẫn ở nguyên chỗ đó, và hắn chắc hẳn vẫn có vấn đề về tiền bạc.

    Họ đã nghĩ tới việc lý giải điều gì đã khiến cho một người đàn ông mộ đạo và bảo thủ như vậy ra tay giết chết cả gia đình mình. Bender và Walter mất nhiều ngày nghĩ về lý do khiến hắn trở nên tức giận và tuyệt vọng cũng như việc hắn đã lên kế hoạch trốn thoát sau vụ giết người như thế nào.



    Bender với bức tượng bán thân của List.


    Từng bước, Bender tạo ra những nét trên khuôn mặt của bức tượng mà ông tin là đang phác họa chính xác hình ảnh của List vào thời điểm hiện tại đó. Và hiệu quả của nó đã được chứng minh. Sau một chương trình truyền hình năm 1989, Wanda Flannery gọi cho cảnh sát và yêu cầu họ kiểm tra nhân thân của Bob Clark. Cô cung cấp cho họ địa chỉ của hắn. Và cô chắc chắn đó là người mà họ đang tìm kiếm.

    Các nhân viên FBI lập tức tới điều tra và bắt giữ Bob Clark tại nơi hắn làm việc. Dù rằng Bob khăng khăng khẳng định họ đã nhầm, hắn vẫn phải cho FBI lấy dấu vân tay. Kết quả, Bob chính là John Emil List. Hắn bị buộc tội giết 5 người.

    Xuân Tùng
    dịch

    (Nguồn: vietbao.vn)

    View more random threads same category:

    thay đổi nội dung bởi: athes_owl; 22-12-2009 lúc 01:34 AM

    Spoiler


  • Cảm ơn athes_owl vì bài viết:

    Shin Yuri (15-01-2011)

  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    Nghệ thuật của pháp y (phần II)

    Thoạt đầu, nghệ thuật pháp y thường chỉ là việc vẽ lại nhân dạng của tên tội phạm để đăng truy nã trên báo. Sau đó, pháp y được dùng để dựng lại hiện trường vụ án. Bước tiếp theo, pháp y được dùng để dựng lại nhân dạng của kẻ tình nghi theo những gì mà các nhân chứng còn nhớ được.




    Bác sĩ Alphone Bertillon.

    Trong lịch sử của ngành pháp y, bác sĩ Alphone Bertillon là người có công lớn trong việc phát triển các phương pháp nhận diện mặt người. Tất cả bắt đầu một cách đơn giản từ ý tưởng lưu trữ thông tin để phát hiện ra tỷ lệ tái phạm tội trong những kẻ đã có tiền án. Ông đã tạo ra cả một bộ hoàn chỉnh các tiêu chuẩn đo đạc cơ thể người. Trước khi người ta phát hiện ra đặc điểm dấu vân tay, bộ tiêu chuẩn của ông là hệ thống chính xác nhất trong việc nhận dạng người. Cuốn sách của Bertillon xuất bản năm 1896 về kỹ thuật này với nhiều hình ảnh minh họa đã tạo ra một nền tảng cho khoa nhận diện sau này của ngành pháp y.

    Một trong những minh chứng rõ nét cho hiệu quả của nghệ thuật pháp y là vụ án bác sĩ Hawley Harvey Crippen. Năm 1910, khi vợ mất tích, Crippen tuyên bố bà xã đã bỏ nhà đi theo một người đàn ông Mỹ. Tuy nhiên, ngay sau đó, cô thư ký trẻ đẹp của Crippen chuyển tới ở cùng ông ta. Cô ta mặc rất nhiều quần áo và đeo đồ trang sức của người mất tích. Khi một thám tử của Scotland Yard hỏi Crippen về việc này thì ông ta hoảng sợ và chạy trốn. Cảnh sát lục soát nhà Crippen và phát hiện ra thi thể của một người phụ nữ. Dựa vào ảnh chụp cũ của bà Crippen và hộp xương sọ tìm được, các nhà pháp y khẳng định đó chính là xác của bà. Bác sĩ - tên sát nhân Crippen đã phải quay về nước Anh để chịu tội xử tử bằng hình thức treo cổ.

    Năm 1935, cảnh sát tìm được ở biên giới Anh - Scotland hai chiếc đầu lâu và nhiều phần thân thể khác bị cắt rời, đang trong giai đoạn phân hủy. Họ ngờ rằng đó là xác của người phụ nữ có tên Isabella Ruxton, đã mất tích cùng với người hầu gái của mình cách đó hai tuần. Dựa vào ảnh chụp chiếc xương sọ và những ảnh cũ của bà Ruxton khi còn sống, cảnh sát khẳng định được nhận định trên là chính xác. Cùng với giám định của pháp y, cảnh sát đã có đủ chứng cứ để kết tội chồng của bà Ruxton và đưa hắn ra xử tử.

    Năm 1954, bác sĩ Sam Sheppard cho biết, một kẻ đột nhập đã đánh vợ ông đến chết ngay tại nhà. Cảnh sát sử dụng bản miêu tả của hàng xóm sống xung quanh đó và dựng nên được một bức ảnh về nhân dạng của tên tội phạm. Và chính nhờ bức hình này mà Sheppard thoạt đầu bị kết án là giết vợ nhưng sau đó đã được tha bổng.

    Đến giai đoạn những năm 1950, việc nghiên cứu xây dựng hình ảnh của các khuôn mặt từ sự làm chứng của nhiều người đã trở thành một môn khoa học thực thụ. Và các nhà nghiên cứu đã phát triển một bộ dụng cụ dùng để nhận diện, mà phần thứ nhất là một loạt tấm giấy có hình ảnh các loại khuôn mặt (vẽ tay). Căn cứ vào mẫu đó, nhân chứng có thể chọn ra loại hình tóc, mắt kính, miệng, mũi, mắt, xương má, tai, râu, ria, cằm và lông mày của kẻ bị tình nghi. Sau đó, những hình này được xếp chồng lên nhau và cho ra nhân diện tổng quát của kẻ đó. Nhân chứng có thể điều chỉnh khuôn mặt cuối cùng sao cho nó trùng khớp với hình ảnh trong trí nhớ của họ.

    Sau này, các bộ nhận diện còn dùng ảnh thể hiện từng khuôn mặt người, nhưng vẫn theo những nguyên lý cổ điển. Các mẫu mặt và bộ phận trên cơ thể người được các nhà khoa học phát triển theo một mẫu chung nào đó và đưa tới đồn cảnh sát để bổ sung vào bộ dụng cụ nhận diện. Chẳng hạn như tại Canada, cảnh sát sử dụng tất cả 7 mẫu khuôn mặt, được coi là tổng hợp tất cả các đặc điểm trong nhân diện người để xác định kẻ tình nghi.

    Bộ dụng cụ xác định nhân dạng đã giúp cảnh sát tìm ra và chặn đứng bàn tay của Harvey Glatman, một trong những tên giết người hàng loạt ghê tởm nhất trong lịch sử nước Mỹ. Năm 1950 tại Los Angeles, hắn đóng vai một người thợ chụp ảnh chuyên nghiệp, chuyên quyến rũ những phụ nữ trẻ muốn trở thành người mẫu. Hắn dụ họ ra sa mạc, trói họ lại, hãm hiếp và bóp cổ họ đến chết. Những người ở cùng phòng với nạn nhân đầu tiên đã miêu tả kẻ giết người cho cảnh sát. Dựa vào những lời miêu tả ấy, họ dựng nên bức chân dung của hắn chính xác một cách kỳ lạ. Nạn nhân thứ tư của Glatman tìm cách giật được súng của hắn và khống chế tên đồ tể. Chính những bức ảnh của kẻ tình nghi mà cảnh sát dựng được đã góp phần buộc Glatman phải cúi đầu nhận tội.

    Ngày 14/7/1966, Richard Speck dắt súng và dao trong người, tới khu nhà ở của 9 nữ sinh ngành y. Hắn lần lượt hãm hiếp và giết chết 8 người và chuẩn bị tiếp tục gây án thì người thứ 9 may mắn trốn thoát. Cô gái duy nhất còn sống sót đã miêu tả chính xác nhân dạng của kẻ giết người. Khi bức ảnh được đưa ra rộng rãi trên báo chí thì một bác sĩ từng chăm sóc vết thương cho Speck đã nhận ra hắn.

    Đến thập niên 1970, các nhà khoa học pháp y chấm dứt việc sử dụng những bộ công cụ nhận dạng, chuyển sang dùng tranh vẽ tổng hợp dựa vào miêu tả của các nhân chứng. Tuy nhiên, bộ công cụ nhận dạng hoàn toàn không rơi vào dĩ vãng. Nó tiếp tục được sử dụng hiệu quả hơn nhờ sự trợ giúp của máy tính. Nhờ công cụ này, nhân chứng được xem một loạt gương mặt theo từng nhóm cụ thể, phù hợp với miêu tả của họ, chứ không phải từng phần khuôn mặt như trước đây. Nhân chứng chỉ ra những đặc tính của khuôn mặt mẫu không giống với bộ mặt của kẻ tình nghi, và các nhà khoa học sẽ thực hiện các thay đổi cho đến khi chúng đạt độ chính xác cao nhất có thể. Hầu như không có hoạt động thay đổi nào liên quan tới nhận dạng người mà lại không thể thực hiện với bộ công cụ mới này.

    Tuy nhiên, dù đã có những máy móc tinh vi như vậy, vẫn có những nhà khoa học pháp y tin vào bản vẽ của các họa sĩ hơn. Và ví dụ rõ nét nhất là trường hợp của Jeanne Boylan, người có khả năng tạo ra phác họa về khuôn mặt của kẻ tội phạm từ miêu tả mang tính cảm tính của các nhân chứng.
    [Xin lỗi, chỉ có thành viên mới thấy link. ]
    Xuân Tùng dịch
    thay đổi nội dung bởi: athes_owl; 22-12-2009 lúc 01:35 AM

    Spoiler

  • Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn   Thank  

  • Cảm ơn athes_owl vì bài viết:

    Shin Yuri (15-01-2011)

  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    Nghệ thuật của pháp y (phần III)

    Chiều tối 1/10/1993, Polly Klaas mời hai bạn gái tới dự tiệc tại nhà riêng ở Petaluma, California. Về khuya, 3 cô bé chơi đùa trong phòng của Polly, cố gắng không tạo ra tiếng ồn vì biết mọi người trong nhà đã ngủ. Bỗng một gã thanh niên lừng lững, đầy mùi rượu xuất hiện với một con dao trên tay. Hắn đột nhập qua đường cửa sổ.



    Polly Klaas.

    Hung thủ đội một chiếc khăn thêu hoa quanh đầu, xách Polly ra khỏi nhà. Hai người bạn chỉ còn biết gọi điện cho cảnh sát.

    Tại hiện trường, các điều tra viên phát hiện dấu vân tay của kẻ tấn công. Dựa vào miêu tả của hai cô gái và hơn 900 mẫu chân dung của mình, nhà khoa học pháp y Ralph Pata đã dựng lên bức chân dung của tên tội phạm. Tuy nhiên, cả tuần sau đó, cảnh sát vẫn không sao có được thêm manh mối để giải quyết vụ án.

    Nhà hình sự pháp y Jeanne Boylan vào cuộc. Cô là người có khả năng tuyệt vời trong việc trấn an các nạn nhân còn hoảng hốt sau khi vụ án xảy ra, giúp họ nhớ lại những chi tiết về kẻ phạm tội. Làm được vậy bởi chính cô cũng từng là nạn nhân của một vụ bạo hành. Boylan phát triển một kỹ thuật khác với việc vẽ ảnh của kẻ tình nghi. Chân dung mà cô dựng lên thường nhờ vào việc khai thác nhân chứng từ góc độ tâm lý. Cô đặt ra nhiều câu hỏi mà các nhà hình sự pháp y khác cũng không bao giờ nghĩ tới. Boyland bỏ qua những miêu tả quá cụ thể và chi li về nhân diện, chỉ tập trung vào cảm giác mà các nét mặt tạo ra.

    Phương pháp của Boylan nhấn mạnh việc khắc phục cảm giác nghi ngại của nhân chứng về độ chính xác trong miêu tả của họ. Họ muốn giúp đỡ cảnh sát, nhưng sự lo lắng của cảnh sát rất dễ lây sang họ, đặc biệt trong trường hợp nạn nhân của các vụ bắt cóc vẫn còn sống.

    Trong vụ án của Polly, Boylan nói chuyện với 2 nhân chứng về các chủ đề thông thường hợp với lứa tuổi của các em và thêm vào đó một ít câu hỏi về vụ án. Cách hỏi chuyện đó tạo cho hai cô bé cảm giác yên tâm, giúp các em hồi tưởng chính xác những ấn tượng về hình dạng của kẻ tấn công. Boylan cũng tránh hỏi về những nét cụ thể trên mặt của kẻ tấn công vì đó là điều rất khó đối với một người bình thường. Phải mất rất nhiều thời gian cho những buổi nói chuyện như vậy, cuối cùng cô cũng đưa ra được một bức chân dung có nhiều đặc điểm cụ thể và rõ ràng hơn hẳn so với bức chân dung được tạo ra trước đó.



    Ảnh dựng về chân dung của Richard Allen Davis.

    Ngày 4/12/1993, Richard dẫn cảnh sát tới nơi hắn vứt xác của Polly. Tháng 6/1996, hắn bị buộc 8 tội bao gồm bắt cóc và giết người cấp độ một và bị kết án tử hình.



    Ảnh thật của Richard Allen Davis

    Nhưng thành công lớn nhất của Boylan lại không dẫn tới việc bắt giữ tên tội phạm. Năm 1994, cảnh sát Mỹ đau đầu về việc trong suốt 15 năm liền, một tên tội phạm đã giết 3 người và làm bị thương 29 người khác, mà vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Năm 2001, Boylan được cảnh sát mời tới để hỗ trợ công tác điều tra. Tài năng của cô đã giúp các nhân chứng nhớ lại chính xác những gì họ nhìn thấy cách đó đã lâu. Bức chân dung do Boylan phác họa đã giúp cảnh sát bắt được Ted Kaczynski, dù tên sát nhân đã tự làm gãy mũi mình để thay đổi nhân dạng, hòng trốn thoát.
    Ngoài những hình vẽ, các nhà khoa học pháp y còn có thể tạo ra những bức tượng căn cứ vào các chứng cứ và lời miêu tả của nhân chứng. Nổi bật trong số họ về khả năng này là nhà hình sự pháp y Karen T. Taylor.


    Tái tạo cả một khuôn mặt



    Karen T. Taylor.

    Trong suốt 18 năm, Karen T. Taylor, tác giả của cuốn sách "Nghệ thuật pháp y", là nhân viên của Sở An sinh Xã hội bang Texas (DPS). Trước đó, cô đã học điêu khắc tại Bảo tàng tượng sáp Madame Tussaud (London) trong suốt 3 năm. Cho đến năm 1981, công việc của Taylor tại DPS là làm những tấm biển báo an toàn dùng trong giao thông và một số công việc khác.

    Một hôm, cảnh sát tới tìm Taylor và nhờ cô hợp tác với họ trong việc xây dựng ảnh nhận diện một tên tội phạm. Taylor được sắp xếp nói chuyện với một bé gái 8 tuổi, là nhân chứng của vụ tai nạn xe cộ đã gây ra cái chết của người anh họ. Cô đã kịp nhìn thấy người lái xe và miêu tả chính xác khuôn mặt hắn. Nhờ bức chân dung mà Taylor tạo ra qua lời kể của cô bé, cảnh sát bắt được tên tội phạm. Đó là thành công đầu tiên của Taylor trong nghề nghiệp mới và là bước khởi đầu thuận lợi cho những đột phá của cô sau này.
    [Xin lỗi, chỉ có thành viên mới thấy link. ]
    Xuân Tùng dịch

    Spoiler


  • Cảm ơn athes_owl vì bài viết:

    Shin Yuri (15-01-2011)

  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    Nghệ thuật của pháp y (phần IV)

    Những vụ án Taylor tham gia điều tra ngày càng phức tạp hơn. Cô dần nhận ra yêu cầu đặc biệt của việc thẩm vấn các nhân chứng còn ở trong trạng thái sốc sau khi chứng kiến những sự kiện bi thảm là phải tiếp cận một cách nhẹ nhàng và tế nhị.



    Ảnh dựng về một tên tội phạm.

    Taylor nói: “Công việc của nhà khoa học pháp y rất phức tạp và dễ bị người ngoài coi thường, đặc biệt là việc vẽ lại chân dung của kẻ tình nghi. Việc phỏng vấn nạn nhân trong một sự kiện bi thảm và dựng lại được phần trí nhớ cùng với ấn tượng của họ là vô cùng khó khăn. Phải hết sức thận trọng khi làm điều đó. Thường thì trí nhớ của nhân chứng ghi lại các khuôn mặt cùng với những tình cảm của họ lúc chứng kiến sự kiện. Công việc của các nhà pháp y là phải lần ngược quá trình mã hoá những cảm xúc ấy để tìm ra nhân dạng chính xác của kẻ tình nghi".



    Ảnh thật của kẻ tội phạm ngoài đời.

    Thoạt đầu Taylor tập hợp thông tin bởi cô muốn biết chính xác vai trò của người đó trong vụ án (là nhân chứng hay nạn nhân). Kèm theo là mức độ của những xúc cảm mà họ phải gánh chịu khi chứng kiến vụ án. Taylor cũng tìm hiểu xem kẻ tình nghi có cùng nhóm chủng tộc với người làm chứng hay không, vì đó là căn cứ để biết mức độ chính xác trong miêu tả của họ về đối tượng. Ngoài ra, cũng cần hiểu liệu người làm chứng có nhận thức được đầy đủ về công việc làm chứng của mình. Nói tóm lại, mỗi cuộc phỏng vấn nhân chứng của một vụ án đều gắn liền với nó một hoàn cảnh cụ thể. Taylor phải cẩn thận cân nhắc loại câu hỏi sẽ đưa ra cho các nhân chứng để họ có được sự cân đối trong miêu tả và cảm nhận.

    Đầu tiên, để các nhân chứng miêu tả câu chuyện theo cách riêng của họ, cô đưa ra những câu hỏi về nhận thức. Sau đó, cô đi sâu vào những câu hỏi đã được chọn lọc kỹ để lấy thêm thông tin phụ. Chẳng hạn như:

    - Nhân chứng đã nhìn thấy kẻ tình nghi trong bao lâu ?
    - Nhân chứng đã nhìn thấy kẻ tình nghi cách đây bao lâu?
    - Điều kiện của ánh sáng mặt trời lúc đó như thế nào?
    - Nhân chứng cách kẻ tình nghi hay nơi xảy ra sự việc bao xa?
    - Có vật gì cản trở trong góc nhìn của nhân chứng?

    Từ những câu hỏi trên, Taylor từng bước xây dựng chân dung của kẻ tình nghi.

    Dù có nhiều phần mềm giúp Taylor làm những công việc như nêu ở trên, cô không tin rằng chúng có thể hoạt động tốt ngang với khả năng cảm nhận của con người. Cô nói: "Các phần mềm máy tính được tạo ra để phác họa chính xác một đôi mắt, mũi hay miệng dựa vào các chi tiết tỉ mỉ. Nhưng một người bình thường không ghi nhớ các đặc điểm cụ thể theo kiểu như vậy. Họ chỉ nhớ các chi tiết đó theo từng hoàn cảnh, và thường là họ bỏ qua phần tương quan giữa các bộ phận trên khuôn mặt. Tôi biết có những vụ trong đó cảnh sát dùng tới các chương trình máy tính kỹ thuật cao với rất nhiều lựa chọn. Chính vì có nhiều lựa chọn như vậy mà người làm chứng bị nhầm lẫn, vì rằng không mấy người trong số họ có kiến thức về nhân diện học và sự sắp xếp của cả khuôn mặt. Tôi cho rằng, quan trọng hơn cả là cái “vẻ” mà khuôn mặt kẻ tình nghi tạo ra trong cảm giác của những người làm chứng. Chúng ta phải hỏi đúng câu hỏi với đúng liều lượng cần thiết".

    Và chẳng bao lâu sau đó, Taylor phải đảm nhiệm một công việc mới: vẽ chân dung của những xác chết.

    Cảnh sát yêu cầu cô phác thảo chân dung của những người đã chết từ những ảnh chụp thi thể của họ. Để làm được việc ấy, Taylor cho biết: “Tôi phải đọc rất nhiều sách chuyên ngành pháp y, nói chuyện với nhiều nhà nhân chủng học để hiểu rõ những biến dạng xảy ra trên xương mặt người sau khi chết. Thi thể thường được tìm ra trong những tình trạng khác nhau, ngay sau khi họ bị giết hay khi toàn bộ thân người đã phân huỷ, chỉ còn lại xương. Tình trạng của xác chết phụ thuộc vào quãng thời gian giữa lúc xảy ra án mạng cho đến lúc xác của họ được phát hiện và điều kiện thời tiết của nơi đó. Ngoài ra, còn nhiều nhân tố khác cần phải tính đến, chẳng hạn như hoạt động của các loại sâu bọ và động vật. Các nhà điều tra pháp y phải thường xuyên chú ý tới các ảnh chụp".

    Trong một số trường hợp dưới đây các nhà hình sự pháp y phải sử dụng tranh vẽ:

    - Đối tượng tự tử và bị giết.
    - Đối tượng bị giết trong những tình huống khủng khiếp và làm biến dạng khuôn mặt.
    - Đối tượng bị chết đuối hay bị tai nạn thuyền bè, xác bị ngâm lâu dưới nước.

    Trong nhiều trường hợp, vì các bức ảnh chụp xác chết chưa đủ nên cảnh sát thường dùng các bức phác thảo mặt của người chết khi còn sống để tìm ra các thông tin về đối tượng. Một người bình thường sẽ nhận ra đặc điểm của người mình quen tốt hơn thông qua bức phác hoạ. Ngoài ra, từ xác chết, cảnh sát còn có thể phát hiện ra những thông tin khác về người đã chết như đặc điểm trên cơ thể, tình hình bệnh lý hay đặc điểm của răng.
    [Xin lỗi, chỉ có thành viên mới thấy link. ]
    Xuân Tùng dịch

    Spoiler


  • Cảm ơn athes_owl vì bài viết:

    Shin Yuri (15-01-2011)

  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    Nghệ thuật của pháp y (phần V)

    Những bức vẽ nhiều khi có hiệu quả hơn hẳn so với ảnh chụp vì họa sĩ có thể thêm vào khuôn mặt trong tranh một số đặc điểm riêng theo ý muốn. Nhiều trường hợp, nét thêm vào làm biến dạng khuôn mặt, nhưng bức ảnh lại trở nên sống động hơn và gợi nhớ tốt hơn cho những người làm chứng.

    Taylor giải thích: “Việc vẽ lại người đã chết như khi họ còn sống là một thách thức lớn vì thông thường khuôn mặt của một người hiện lên trong trí nhớ của một người khác thường ở dạng động chứ không phải ở dạng tĩnh. Khuôn mặt tái tạo phải thật sinh động, và tôi coi đó là phần việc khó nhất”.

    Tuy nhiên, nghệ thuật pháp y không chỉ đơn giản là vẽ lại. Taylor từng thực hiện một bức tượng điêu khắc miêu tả chính xác khuôn mặt ở cả 3 chiều từ một bộ xương sọ. Vì thế, cô đã phải tới học Betty Pat Gatliff.



    Ảnh dựng lại của Gatliff dựa vào xương sọ của nạn nhân.

    Gatliff từng có thâm niên thực hiện các hình mẫu kỹ thuật trong hải quân, sau đó là 20 năm vẽ tranh minh họa, phục vụ ngành y tế của không quân. Bà thường làm việc cho nhà nhân chủng học, Tiến sĩ Clyde Snow. Chính những kinh nghiệm trong ngành điêu khắc đã giúp bà trở thành người hỗ trợ cho các chuyên gia pháp y.

    Công việc đầu tiên của Gatliff là tái tạo một khuôn mặt cho cảnh sát vào năm 1967. Lúc đó, bà hợp tác với Snow để phác họa chân dung của một lính hải quân bị chết mà không xác định được danh tính. Trong 3 thập kỷ sau đó, Gatliff tham gia giúp đỡ cảnh sát trong khoảng hơn 200 vụ án với công việc chính là tạo ra các bức tượng người dựa vào xác của họ. 9 người trong số đó là nạn nhân của vụ án kẻ giết người hàng loạt nổi tiếng với biệt danh "Thằng hề".



    Ảnh thật của nạn nhân.

    Các bước thông thường trong công việc của Gatliff là tạo ra bề mặt nền của bức tượng dựa vào cấu trúc xương sọ, bề dày dự tính của các cơ, lượng mỡ của cơ thể và những dự tính khác về da và các cơ nối. Để làm việc đó, bà phải dựa vào sơ đồ cơ từ phía ngoài vào đến phía trong mà các nhà nhân chủng học thường dùng. Khi đã biết lớp “da thịt” cần có độ dày khoảng bao nhiêu, bà sẽ dùng những mốc đánh dấu độ dày của chúng. Sau đó, bà tạo ra lớp phủ bằng đất sét trên khuôn mặt để tượng trưng cho từng phần ấy.

    Có rất nhiều cách để phát triển những nét tiêu biểu mang tính đại diện của cá tính con người trên khuôn mặt một bức tượng. Vì các mô và phần xương sụn luôn bị phân hủy sớm nên Gatliff thường phải tìm cách dự tính số đo của các bộ phận trên mặt, chẳng hạn như mũi. Bà nói: “Về bề ngang của mũi thì chúng tôi dựa vào bề rộng của lỗ mũi. Sau đó, chúng tôi tăng nó lên khoảng 5milimét ở mỗi bên để ước lượng chiều rộng thật sự. Phép chiếu đơn giản nhất là căn cứ vào phần xương mũi ngay ở phía dưới thành vách ngăn. Sau đó nhân chỉ số này với 3. Rồi thực hiện phép quy chiếu để đo chiều dài của xương mũi, nếu chiều dài bằng 8 thì con số cần có là 24. Tóm lại, chúng tôi sử dụng đồng thời hai cách là đo chiều rộng và quy chiếu. Khi nối chúng lại với phần sống mũi thì chiếc mũi coi như đã hoàn thành. Trong suốt 30 năm nay, công thức này cho kết quả rất chính xác”.
    Để hoàn thành khuôn mặt bức tượng, Gatliff thêm vào khuôn mặt đôi mắt. Nếu như tìm thấy vài sợi tóc ở xác chết, bà sẽ tạo ra một mái tóc nhân tạo có cùng màu và độ dày của sợi tóc. Bức tượng của bà coi như đã hoàn thành và đến phần việc của thợ chụp ảnh.

    Ngoài công việc chuyên môn, Gatliff còn mở các lớp dạy về kỹ năng pháp y. Taylor đã tham gia vào một trong các lớp học đó. Cô nói: “Theo tôi, việc tạo ra khuôn mặt từ xương sọ nói chung được chia làm hai phần. Phần đầu tiên thuần túy kỹ thuật và phần thứ hai mang tính nghệ thuật. Tôi có thể dạy các học viên về nhiều loại cơ khác nhau phủ trên hộp xương sọ và những phần mô mềm có liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình đó, bản năng của người nghệ sĩ đóng vai trò rất quan trọng. Vì đã vẽ hàng nghìn khuôn mặt trong đời, họ tự phát triển một loại kỹ năng rất đặc biệt về cảm nhận. Một cách vô thức, họ "thu thập" được một bộ những nét luôn đi đôi với nhau trên một khuôn mặt. Tôi cho rằng, pháp y, vì thế, là một môn kết hợp cả hai yếu tố khoa học và nghệ thuật. Luôn có sự kết hợp của một người nghệ sĩ tạo hình và một nhà khoa học pháp y trong quá trình điều tra các vụ án. Nhà khoa học có thể là nhà nghiên cứu bệnh học, nha học hoặc nhân chủng học”.

    Trong suốt 3 năm liên tục, Taylor làm việc với những bức tượng để xác định nhân dạng của người chết. Chính từ việc làm đó cô đã phát triển được một kỹ thuật mới. Cô nói: “Tôi khá quen với cách tạo ra bộ mặt trên xương sọ theo phương pháp hai chiều. Việc tôi phải làm là kết hợp những chỉ số về độ sâu của cơ bắp trên khuôn mặt với nhiều hình thức phát triển khác nhau của các nét mặt. Trước đây, rất nhiều người đã tìm cách dựng nên một bức ảnh dựa vào xương sọ bằng cách úp một tờ giấy phẳng lên khuôn mặt. Giờ đây, khi đã hiểu phương pháp của Betty, tôi cho rằng phải làm khác đi. Tôi sẽ bắt đầu bằng cách vẽ dựa vào phần nền là xương sọ của hộp sọ. Tôi dùng những dụng cụ đánh dấu bằng cao su giống như trong phương pháp tạo tượng 3 chiều và sau đó chụp ảnh những vị trí đánh dấu ấy. Tôi tạo ra phần trán và gáy của hộp sọ theo đúng cỡ của người thật và lắp chúng vào hộp sọ. Sau đó tôi vẽ lại theo đúng kích thước thật dựa vào bức ảnh chụp hộp sọ”.

    Khi phương pháp này chứng tỏ tính đúng đắn của nó, Taylor được mời dự một buổi hội thảo quốc tế của FBI, năm 1990. Sau đó, cứ 6 tháng một lần, cô tới Quantico để dạy các lớp về kỹ thuật của mình. Cô cho rằng hai phương pháp dựng tượng 2 chiều và 3 chiều có tác dụng tương tự nhau nên được áp dụng phổ biến như nhau. Chỉ trong trường hợp hộp sọ tìm được đã hỏng và dễ vỡ thì phương pháp dựng theo 2 chiều mới chứng tỏ có hiệu quả hơn hẳn.

    Ngoài việc vẽ và tái tạo, Taylor còn tạo ra hình ảnh trên máy tính với những chương trình phần mềm tạo ra được nét già đi trên khuôn mặt. Theo cô, đó là lĩnh vực mà máy tính phát huy hiệu quả nhất. Tuy vậy, ngay cả với sự chính xác và tinh xảo của máy tính, người tạo hình vẫn phải cần tới sự viện trợ của những môn khoa học bổ trợ như giải phẫu phần mặt hay nhân chủng học.

    Taylor đã được mời làm việc trong rất nhiều trường hợp để giúp giải quyết các vụ án khó, trong đó tiêu biểu nhất là vụ của Virgilio Paz Romero. Tên này bị tình nghi giết hại đại sứ Chile tại Mỹ và trợ lý của ông. Taylor chỉ được xem một số ảnh cũ, rất mờ của nghi phạm. Sau khi làm việc với bức ảnh, cô dự tính rằng đến thời điểm chính quyền Mỹ truy lùng tên này, hắn vẫn có dáng người thanh mảnh như khi gây án. Nhiều khả năng hắn còn là người rất năng động. Vì thế, cô quyết định vẽ hắn với một chiếc áo sơ mi đỏ.

    Bức ảnh mà cô tạo ra được phát trên TV, và chỉ 3 ngày sau, Paz đã bị bắt. Đúng như linh tính của Taylor, lúc bị bắt hắn đang mặc một chiếc áo đỏ.
    Giờ đây, Taylor không còn làm ở sở cảnh sát về pháp y nữa mà đã tập trung vào công ty của riêng mình. Quyển sách tiếp theo của cô có tựa đề "Thấu hiểu khuôn mặt người", trình bày những gì cô học và thu lượm được qua thực tế. Nhiều chuyên gia cho rằng đó là một cuốn kinh điển trong dòng sách pháp y.
    [Xin lỗi, chỉ có thành viên mới thấy link. ]
    Xuân Tùng dịch

    Spoiler


  • Cảm ơn athes_owl vì bài viết:

    Shin Yuri (15-01-2011)

  • Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gởi
    775
    Cảm ơn
    5
    Được cảm ơn 17 lần trong 14 bài
    Rep Power
    45



    Nghệ thuật của pháp y (phần cuối)

    Nhiệm vụ khác của các nhà pháp y là tạo ra được sự biến đổi trên nét mặt theo thời gian của một người mất tích đã lâu. Đó thường là những trẻ em hoặc những tên tội phạm mà cảnh sát đã mất dấu.



    Ảnh một kẻ giết người hàng loạt khi còn trẻ.

    Để có được nhận dạng chính xác của một người nào đó, nhà pháp y cần phải tiên liệu được tốc độ già đi và những đặc điểm già đi của khuôn mặt. Các vết nhăn phát triển thêm như thế nào, môi mỏng đi ra sao, tóc ít dần đi và màu tóc thay đổi theo dạng nào. Trong khi vẻ ngoài của một người dường như giữ nguyên trong cả cuộc đời của họ, đặc biệt như phần mắt. Những phần khác thay đổi một cách đáng kể và khó có thể dự đoán nó thay đổi như thế nào sau khoảng 10 năm. Tuy nhiên, có rất nhiều nhân tố cá nhân nằm trong quá trình già đi của một người. Chẳng hạn, các nhà pháp y thường dựa vào bức ảnh của những người họ hàng gần gũi với kẻ tội phạm mất tích để phát hiện ra “quy tắc” biến đổi nói chung của khuôn mặt. Ngoài ra, họ còn tìm hiểu các thói quen của hắn như hút thuốc, ăn uống. Loại cá tính hoặc thậm chí đường nhăn trên khuôn mặt còn bị ảnh hưởng bởi những bệnh mà họ từng mắc phải.



    Ảnh dựng chân dung hắn khi về già.

    Trong pháp y, khó nhất là vẽ được lại khuôn mặt của một đứa trẻ mất tích vì không thể xác định tính cách nó sẽ phát triển ra sao, sự thay đổi trên khuôn mặt nó sẽ diễn ra như thế nào.

    Mary H. Manhein tác giả cuốn "Người đàn bà làm việc với những khúc xương", giám đốc phụ trách của Phòng thí nghiệm dịch vụ máy tính phát triển và nhân chủng học pháp y (FACES) tại đại học Louisiana là một nhà pháp y nổi tiếng. Bà cho biết, trong thập kỷ đầu tiên của nghề pháp y, công việc chủ yếu của nhà pháp y là đo đạc theo các tiêu chuẩn không gian ba chiều hộp xương sọ. Đến năm 1990 họ thêm vào một số chi tiết khác: “Chúng tôi sử dụng khả năng ngày càng cao của máy vi tính để xác định độ già đi trên khuôn mặt người. Những người trợ lý cho tôi thường được đào tạo tại Trung tâm Quốc gia cho trẻ em bị mất tích và bị bóc lột sức lao động. Tuy nhiên, chúng tôi cũng thực hiện các kỹ thuật đó với những tên tội phạm và người lớn bị mất tích”.

    Để dựng ảnh về quá trình lớn lên và già đi trên nét mặt của một trẻ em bao gồm:

    - Sử dụng một bức ảnh, thường là ảnh của đứa trẻ khi mới 2 tuổi.
    - Các ảnh của đứa trẻ từ khi mới ra đời và trong suốt giai đoạn phát triển cho đến khi bị mất tích.
    - Ảnh chụp của cha mẹ và họ hàng thân cận của đứa trẻ.
    - Ảnh của pháp y tạo ra về bố mẹ của đứa trẻ vào thời điểm hiện tại với những đặc điểm già đi trên nét mặt của họ để có thể nhận ra quy tắc trong sự biến đổi ấy ở đứa trẻ.
    - Sử dụng những thông tin về chỉ số lớn lên của đứa trẻ từ lúc đẻ ra cho đến khi mất tích.

    Các bức ảnh sẽ được quét và lưu vào máy tính. Máy tính sẽ căn cứ vào những chỉ số về tốc độ lớn để dự đoán thay đổi trong cấu trúc hình dáng hiện tại của đứa trẻ. Sử dụng “bộ khung tiêu chuẩn” như vậy, các nhà pháp y tạo ra những phần khác nhau của ảnh và chi tiết hoá những thay đổi, dù nhỏ, trên khuôn mặt của một đứa trẻ.

    Thường thì khi lớn lên, khuôn mặt của những đứa trẻ sẽ phát triển theo chiều dài và rộng. Răng mọc mới thế chỗ những chiếc răng sữa. Sống mũi phát triển cao lên và dài ra. Hộp sọ và miệng mở rộng, mắt nhỏ lại, mái tóc màu sáng trở nên sẫm hơn. Đến 12 tuổi, bộ mặt của đứa trẻ đã phát triển khá đầy đủ với việc cằm và mũi hình thành rõ rệt, hoàn chỉnh. Cuối cùng, xương má lớn lên và lông mày xuất hiện đầy đủ.

    Các nhà hình sự pháp y cũng có thể dùng những bức ảnh của một người họ hàng cùng lứa tuổi với đứa trẻ bị mất tích để có đánh giá cụ thể, chính xác hơn.

    Theo Karen Taylor, trường hợp đầu tiên mà cô thành công trong việc giải quyết vụ trẻ em mất tích là hai chị em Debbi và Cathy. Hai cô bé bị cha ruột bắt cóc năm 1977. Tám năm sau, vào năm 1985, đài truyền hình NBC phát đi chương trình Các trường hợp thất lạc với bức ảnh hai cô bé do nhà pháp y Scott Barrows phác hoạ. Ông đã lấy bức ảnh cũ của hai cô bé và tạo ra những nét già trên khuôn mặt. Chỉ trong vài phút chương trình này được phát đi, các giáo viên tại trường của hai cô bé đã nhận ra và gọi điện liên lạc với đài truyền hình.

    Các nhà điều tra pháp y rất chú ý nghiên cứu các trường hợp trẻ em bị mất tích hoặc bắt cóc. Các kỹ thuật mà họ sử dụng ngày càng tinh xảo và chính xác hơn. Nhưng thường thì chúng vẫn là 2 loại kỹ thuật phổ thông từ trước tới nay là vẽ phác hoạ và tạo hình ảnh trên máy tính. Quả thật, pháp y là ngành khoa học kết hợp giữa tính chính xác của nhân thể học và sự mẫn cảm tinh tế của người nghệ sĩ tạo hình.

    Nghệ thuật tạo hình là một công cụ có hiệu quả trong việc tạo dựng hình ảnh giống thật của những người mất tích. Cảnh sát luôn hy vọng rằng, trong tương lai, sẽ có nhiều người hơn nữa, nhờ vào tài năng của các nhà hình sự pháp y, được trở lại với gia đình thật của mình hoặc... vào tù!
    [Xin lỗi, chỉ có thành viên mới thấy link. ]
    Xuân Tùng dịch
    - Hết-

    Spoiler


  • Cảm ơn athes_owl vì bài viết:

    Shin Yuri (15-01-2011)

  • + Trả Lời Ðề Tài

    Thread Information

    Users Browsing this Thread

    There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

       

    Chủ đề giống nhau

    1. Nghệ thuật cưa gái nào anh em
      By thanhlong92196 in forum Tổng Hợp
      Trả lời: 8
      Bài mới gởi: 02-12-2008, 05:57 PM
    2. nghệ thuật kết hợp tình huống hay đây
      By heart_bell94 in forum Trò chơi, câu đố
      Trả lời: 7
      Bài mới gởi: 11-11-2008, 06:40 PM
    3. Nghệ thuật tạo hạnh phúc
      By ladloveluffy in forum Tâm lý- Giáo dục
      Trả lời: 0
      Bài mới gởi: 22-06-2008, 03:58 PM
    4. Nghệ Thuật Sống
      By ladloveluffy in forum Tâm lý- Giáo dục
      Trả lời: 0
      Bài mới gởi: 22-06-2008, 03:43 PM
    5. Nghệ Thuật Thấu Hiểu Tâm Lý Người Khác
      By ladloveluffy in forum Tâm lý- Giáo dục
      Trả lời: 0
      Bài mới gởi: 22-06-2008, 03:08 PM

    Visitors found this page by searching for:

    cha đẻ của ngành pháp y

    cha đẻ ngành pháp y

    Dien Dan

    Members who have read this thread : 30

    Bookmarks

    Quuyền Hạn Của Bạn

    • Bạn không thể tạo chủ đề mới
    • Bạn không thể trả lời bài viết
    • Bạn không thể gửi file đính kèm
    • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết