NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TÂM LÝ TỘI PHẠMI - Khái niệm tội phạm (Phần này hok wan trọng lắm nên mình cắt đi, mọi người có thể đọc trong bản word đính kèm bên dưới)(trích từ từ cuốn "Tâm lý học pháp lý" của PGS. TS. Nguyễn Hồi Loan và Th. S. Đặng Thanh Nga)
II - Nhân cách người phạm tộiSpoiler
2.1. Khái niệm nhân cách người phạm tội:
Ngày nay vấn đề nhân cách đang trở thành trung tâm nghiên cứu của các ngành khoa học như triết học, xã hội học, đạo đức học, y học, giáo dục học, tâm lý học,... Do đó, có rất nhiều trường phái với nhiều quan niệm đa đạng khác nhau. Tuy vậy, vẫn chưa có một trường phái nào giải quyết một cách thỏa đáng, toàn diện vấn đề bản chất của nhân cách.
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm Marxist cho rằng nhân cách người phạm tội không phải tự nhiên mà có và cũng không phải do bẩm sinh di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà nhân cách người phạm tội được hình thành trong quá trình thực hiện tội phạm, quá trình tác động qua lại giữa cá nhân với môi trường sống xã hội tiêu cực.
Nhân cách phạm tội là những đặc điểm tâm lý không phù hợp với những chuẩn mực xã hội và luôn trái ngược với lợi ích của Nhà nước và cộng đồng.
2.2. Phân loại nhân cách người phạm tội:
Căn cứ vào mức độ hình thành của những phẩm chất tâm lý tiêu cực ở người phạm tội, nhân cách phạm tội có thể được chia ra thành 3 loại sau đây:
a. Người phạm tội toàn phần:
Người có loại nhân cách này thường có thái độ tiêu cực đối với các giá trị xã hội, có quan điểm lệch lạc và hoàn toàn trái ngược với các chuẩn mực xã hội, ý thức pháp luật kém. Trên thực tế, những người phạm tội chuyên nghiệp, tái phạm và tái phạm nguy hiểm thường thuộc loại nhân cách này.
b. Người phạm tội từng phần:
Người có nhân cách loại này thường có cả những phẩm chất tích cực lẫn những phẩm chất tiêu cực. Nhưng những phẩm chất tiêu cực thường lấn át những phẩm chất tích cực. Trong những hoàn cảnh thuận lợi, những phẩm chất tiêu cực dễ dàng được bộc lộ. Ví dụ: Những người này thường có tình cảm tốt đối với gia đình và đối xử đúng mực với bạn bè, nhưng họ lại có những phẩm chất tiêu cực như tham lam, hám lợi, muốn hơn người, có những quan điểm lệch lạc, thiếu hiểu biết pháp luật,... Những người thuộc loại nhân cách này thường hay phạm các tội có tính vụ lợi (các tội phạm về tham nhũng, các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội xâm phạm sở hữu, các tội phạm về ma túy,...).
c. Người phạm tội từng phần nhỏ:
Những người thuộc loại nhân cách này chỉ có một số phẩm chất tâm lý tiêu cực, nhưng trong những hoàn cảnh phức tạp họ đã không làm chủ được bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: Những người có đặc điểm dễ bị xúc động, dễ bị kích động,... nếu rơi vào hoàn cảnh éo le như ghen tuông, thù hằn,... thì dễ dẫn đến việc họ thực hiện hành vi phạm tội.
III - Quá trình hình thành hành vi phạm tộiSpoiler
Trong khoa học pháp lý hình sự, hành vi phạm tội được hiểu là hành vi có ý thức và ý chí, là thể thống nhất giữa mặt khách quan (hoàn cảnh, môi trường sống) và mặt chủ quan (nhân cách) của tội phạm, đồng thời nó còn được coi như một khái niệm cơ bản nhất của luật hình sự.
Dưới góc độ tâm lý học người ta nghiên cứu cấu trúc quá trình hình thành hành vi phạm tội bao gồm những nội dung sau đây:
- Nhu cầu và lợi ích.
- Động cơ, mục đích và ý định phạm tội.
- Quyết định thực hiện hành vi phạm tội.
- Phương thức thực hiện hành vi phạm tội.
Quá trình hình thành hành vi phạm tội có thể biểu thị qua sơ đồ dưới đây:
Nhu cầu, lợi ích --> Động cơ, mục đích, ý định phạm tội --> Quyết định thực hiện hành vi phạm tội --> Phương thức thực hiện hành vi phạm tội
3.1. Nhu cầu và lợi ích:
a. Nhu cầu:
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Nhu cầu quy định hướng lựa chọn của ý nghĩ, rung cảm, và ý chí của con người. Nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu của con người là động lực thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của cá nhân và nhóm xã hội.
Trong lĩnh vực pháp lý hình sự, nhu cầu thực hiện chức năng là động lực thúc đẩy hành vi của người phạm tội. Nó quy định xu hướng chọn ý định, động cơ, mục đích phạm tội. Ngoài những nhu cầu nói chung, nhu cầu của người phạm tội còn có thể có các đặc tính sau:
- Tính nhỏ nhen, nghiêng về vật chất, thực dụng.
- Sự lệch lạc so với chuẩn mực xã hội, chống đối lại xã hội.
- Nhu cầu quá cao ngoài khả năng thỏa mãn cho phép.
- Tính đồi bại, suy thoái.
Nhu cầu của con người và nhu cầu của xã hội nói chung thường có phần cao hơn khả năng hiện có, đó là cơ sở để cho sự phát triển đi lên. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nhu cầu và khả năng hiện có có thể trở thành điều kiện (nhưng không phải là nguyên nhân) của hành vi phạm tội. Người ta thường dễ phạm tội khi mức thỏa mãn nhu cầu quá thấp. Nhu cầu quá lớn, lòng tham, tính đố kỵ, ý muốn "hơn người" thường dẫn đến hành vi tham ô, hối lộ, trộm cắp, cướp giật, cưỡng đoạt,...
b. Lợi ích:
Lợi ích của con người thể hiện mối quan hệ của con người với điều kiện hiện tại, với cả ước muốn trong kế hoạch hoạt động sống của họ trong tương lai. Đôi khi có những dạng hành vi nhất định trở thành lợi ích độc lập của cá nhân, tách khỏi điều kiện xuất phát. Hành vi vu khống, đổ lỗi cho người khác, cãi cọ và thậm chí vi phạm pháp luật thường biểu hiện như hình thức biến dạng của sự tự khẳng định và của "tính tích cực xã hội". Nhìn chung, người phạm tội thường xử lý không đúng mối quan hệ giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của người khác, của tập thể, của xã hội.
3.2. Động cơ, mục đích, ý định phạm tội:
a. Động cơ phạm tội:
Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: Giết người vì động cơ trả thù, giết người để che giấu hoặc thực hiện một tội phạm khác,...
Nhu cầu của con người khi đã được nhận thức đầy đủ và có khả năng thực hiện thì có thể trở thành động cơ. Ví dụ: Động cơ của một hành vi tham ô có thể được hình thành từ nhu cầu muốn làm giàu một cách nhanh chóng, muốn có cuộc sống hơn người khác về lợi ích cũng có thể do yếu tố thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí dẫn đến sự không chấp nhận mất cân đối giữa tiền lương với địa vị và công việc,... Những yếu tố trên đã trở thành những giá trị thường trực, hấp dẫn chủ thể và khi gặp đối tượng, có điều kiện thuận lợi sẽ trở thành động cơ thúc đẩy hành vi tham ô.
Động cơ và thái độ xử sự của con người là hiện tượng hết sức phức tạp, nó không chỉ xuất hiện trong mỗi cá nhân trên cơ sở các nhu cầu cấp thiết mà cả trong các mối quan hệ của cá nhân với người khác, với hoàn cảnh xã hội. Hành vi của con người trong trạng thái tâm lý bình thường đều được diễn ra do sự thúc đẩy của một hoặc một số động cơ nhất định.
Trong những trường hợp phạm tội cố ý thì bao giờ hành vi của người phạm tội cũng do động cơ phạm tội thúc đẩy. Chỉ những trường hợp phạm tội vô ý vì cẩu thả, vô ý vì quá tự tin thì hành vi mới không có động cơ phạm tội thúc đẩy. Thường những trường hợp phạm tội này được thực hiện do xung đột tình cảm được tích tụ lại. Đôi khi hình ảnh xuất hiện đột ngột trong tâm trí, kích động con người hành động mà không phân tích kỹ hậu quả tất yếu của nó hoặc không biết hành vi của mình là hành vi phạm tội hoặc tin hành vi của mình không trở thành hành vi phạm tội. Có những trường hợp con người hành động không theo ý muốn của mình mà có sự điều khiển, chi phối của người khác hoặc nhóm người khác và đã dẫn đến phạm tội.
* Trong hành vi phạm tội, việc phát hiện ra động cơ phạm tội và nghiên cứu chúng sẽ rất thiết thực đối với việc:
- Xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
- Dự báo khả năng tái phạm của người phạm tội.
- Xác định khung hình phạt đối với người phạm tội. Ví dụ: Động cơ đê hèn là dấu hiệu định khung tăng nặng được phản ánh trong cấu thành tội phạm tăng nặng của tội giết người (điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự).
- Xác định những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội (trong những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định ở Điều 46 và 48 Bộ luật hình sự có nhiều tình tiết thuộc động cơ phạm tội).
* Thường thì những hành vi phạm tội xuất phát từ những động cơ sau:
- Động cơ vụ lợi gắn liền với những ham muốn vật chất hẹp hòi như muốn có đồ vật quý, có tích lũy lớn, làm giàu bất hợp pháp.
- Động cơ gắn liền với những suy tính nhằm nâng cao thể diện cá nhân (muốn hơn người, có địa vị xã hội cao).
- Động cơ mang tính chất hiếu chiến, kết hợp với ý thức coi thường lợi ích của người khác, của xã hội, không tôn trọng nhân phẩm con người.
- Động cơ đi ngược lại với lợi ích xã hội gắn liền với tình trạng vô trách nhiệm và không hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước.
b. Mục đích phạm tội:
Mục đích phạm tội là cái mà người phạm tội đặt ra trong trí óc của mình dưới dạng hình ảnh, biểu tượng và mong muốn đạt được nó thông qua hành vi phạm tội.
Người phạm tội khi thực hiện tội phạm đều nhằm tới những mục đích nhất định. Mục đích phạm tội thường do chủ thể định ra và được nhận thức như là yếu tố cần thiết và có khả năng thực hiện trong điều kiện nhất định. Sự hình thành mục đích là giai đoạn đầu tiên của sự hình thành hành vi phạm tội.
Việc lựa chọn mục đích là do động cơ quyết định. Từ động cơ người ta xác định mục đích hành động, vạch ra kế hoạch cụ thể để đạt kết quả tối ưu.
c. Ý định phạm tội:
Ý định phạm tội được xuất hiện trên cơ sở những động cơ phạm tội và gắn liền với sự phân tích đánh giá hoàn cảnh cụ thể và việc xác định mục đích phạm tội cụ thể. Ý định phạm tội không mang tính khách quan mà là yếu tố tâm lý có tính chủ quan.
Trong lĩnh vực pháp lý hình sự, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự không phải vì ý định phạm tội của mình mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi người phạm tội đã có những hành vi nguy hiểm cụ thể được thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan. Ví du: Tìm kiếm dao, súng để giết người (giai đoạn chuẩn bị phạm tội) hoặc can phạm đã có hành vi đâm, bắn, bóp cổ trong tội giết người (giai đoạn thực hiện tội phạm). Tuy nhiên, ý định phạm tội chính là cơ sở tâm lý dẫn đến việc thực hiện tội phạm.
Ý định phạm tội có quan hệ chặt chẽ với điều kiện thực hiện tội phạm. Điều kiện thay đổi có thể làm thay đổi ý định phạm tội hoặc làm xuất hiện ý định phạm tội mới. Ví dụ: Lúc đầu chủ thể có ý định trộm cắp tài sản nhưng khi điều kiện thay đổi y thực hiện hành vi cướp tài sản. Ý định phạm tội sẽ biến mất khi không có điều kiện khách quan thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội. Đôi khi có điều kiện phạm tội nhưng chủ thể tự nguyện từ bỏ ý định phạm tội với nhiều lý do khác nhau.
3.3. Quyết định thực hiện hành vi phạm tội:
Cực điểm dẫn đến hành vi phạm tội là việc hình thành quyết định hành động cụ thể, sự "khẳng định" hoàn toàn phương án đã chọn là thời điểm xuất phát để thực hiện hành vi, là điểm nút của toàn bộ quá trình chuẩn bị phạm tội. Có thể nói rằng đến thời điểm này nhân cách đã chuyển hóa, mục đích phạm tội đã chi phối toàn bộ suy nghĩ, tình cảm, hành động của tội phạm, hướng đến kết quả sẽ đạt được thông qau hành vi phạm tội.
Trên thực tế, sự lựa chọn phương án thực hiện hành vi có thể thích hợp, có cơ sở, hợp lý, có thể tính đến logic phát triển của các sự kiện. Những cũng có thể không thích hợp, không hợp lý khi những phương án khả năng không được sắp xếp theo trình tự "hợp lý" và không được phân tích, so sánh một cách kỹ lưỡng. Tuy vậy, đối với tất cả mọi hành vi phạm tội, chủ thể của nó đều gây ra hậu quả xấu cho xã hội và sự trừng phạt của xã hội đối với họ là không thể tránh khỏi.
3.4. Phương thức thực hiện hành vi phạm tội:
Phương thức thực hiện hành vi phạm tội là hệ thống phương pháp được lựa chọn xuất phát từ động cơ, mục đích phạm tội đã hình thành và do đặc điểm tâm lý của người thực hiện hành vi phạm tội quy định.
Phương thức thực hiện hành vi phạm tội phản ánh ý định và quá trình chuẩn bị phạm tội. Việc làm rõ phương thức thực hiện hành vi phạm tội sẽ giúp thấy được động cơ thúc đẩy người phạm tội, mục đích mà họ theo đuổi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi phạm tội của họ. Trong phương thức còn thể hiện những đặc điểm tâm lý, trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, các mối quan hệ xã hội, kiểu khí chất, trạng thái tâm lý của người phạm tội. Ví dụ: Những hành vi côn đồ thường có ở những người thuộc khí chất nóng, không biết kiềm chế, thiếu giáo dục.
Trong hành vi phạm tội, phương thức thực hiện hành vi quan hệ mật thiết với động cơ và mục đích. Nếu động cơ xác định mục đích thì đến lượt mình mục đích lại xác định tính chất và phương thức thực hiện hành vi.
IV - Diễn biến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tộiSpoiler
Việc thực hiện hành vi phạm tội trong đa số các trường hợp đều gắn liền với việc đạt tới kết quả đã định trước. Sau khi người phạm tộ thực hiện hành vi phạm tội, đã đạt được kết quả ở mức độ khác nhau so với dự kiến ban đầu thì thường có những thay đổi nhất định diễn ra trong tâm lý của họ, có thể diễn ra theo 2 chiều hướng chủ yếu là thái độ ăn năn, hối hận hoặc thỏa mãn với kết quả đã đạt được:
- Hình ảnh về kết quả đã đạt được có thể gây nên những cảm xúc nặng nề, ghê rợn cùng với sự ăn năn, hối hận ở người phạm tội. Ở một số người phạm tội mới bị đe dọa phát giác, bị trừng phạt mà đã có trạng thái tâm lý căng thẳng. Vì vậy, trong thời gian này người phạm tội thường có những hành vi không hợp với hoàn cảnh, giảm khả năng tự điều chỉnh, hay nghi ngờ, không nhanh nhạy, luôn luôn trong trạng thái trầm uất, ủ rũ. Nhiều người đã tự ra đầu thú trước cơ quan pháp luật. Có trường hợp họ tìm những hoàn cảnh xúc động để làm quên đi những gì đã xảy ra.
- Ngược lại, việc thỏa mãn với kết quả sẽ củng cố trong tâm lý của người phạm tội về hành vi phạm tội, tăng thêm ý thức đi ngược lại với lợi ích của xã hội. Trong trường hợp này, người phạm tội thường thận trọng xóa đi dấu vết của hành vi cũ và "tích cực" tìm ra mưu kế, lập kế hoạch cho những hành vi phạm tội mới. Điều đáng lưu ý ở đây là những hành vi phạm tội mới thường được thực hiện một cách tàn nhẫn, trắng trợn, nguy hiểm hơn nhưng lại thiếu tính toán hơn.
Cũng có trường hợp người phạm tội tự nguyện không thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, tức là đã kịp thời dừng lại trước khi đạt kết quả đã dự tính từ trước. Động cơ thúc đẩy người phạm tội không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đến cùng có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như sợ bị pháp luật trừng trị, cảm thông với nỗi đau, mất mát của người khác hoặc do nhút nhát, sợ hãi,...
Người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội, dù là phạm tội lần đầu hay tái phạm đều có trạng thái tâm lý căng thẳng, luôn luôn lo lắng, bồn chồn, sợ hãi do bị ám ảnh bởi hành vi phạm tội mà họ đã gây ra và bởi ý nghĩ sẽ bị phát giác, bị bắt và sự trừng phạt mà họ sẽ phải gánh chịu. Đây là trạng thái tâm lý đặc trưng có tính chất quy luật trong diễn biến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên trạng thái tâm lý đó của người phạm tội thường không được ổn định mà luôn luôn vận động, thay đổi.
4.1. Những nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội:
- Tính chất của hành vi phạm tội:
Tính chất phức tạp của quá trình thực hiện hành vi phạm tội có ảnh hưởng rất nhiều đến trạng thái tâm lý của người phạm tội. Bởi vì nếu quá trình thực hiện hành vi phạm tội diễn ra khó khăn, đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng nhiều sức lực và trí tuệ, phải vật lộn, đối chọi với người bị hại thì sau đó trạng thái tâm lý của họ rất căng thẳng. Trong những trường hợp phạm tội lần đầu hay phạm tội lần đầu hay phạm tội do hoàn cảnh hoặc hậu quả của tộ phạm xảy ra là nằm ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội thì sau đó họ thường có trạng thái lo lắng, căng thẳng và bị dằn vặt nhiều hơn so với những trường hợp khác.
Ngoài ra, tính chất cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm cũng ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý của người phạm tội. Trong các trường hợp đồng phạm, trạng thái tâm lý của người phạm tội thường xảy ra 2 khả năng, hoặc là trạng thái tâm lý căng thẳng hơn nếu họ cho rằng bí mật sẽ bị lộ từ những người cùng thực hiện tội phạm hoặc là trạng thái tâm lý yên tâm, khi cho rằng nếu mình bị bắt thì những người cùng thực hiện tội phạm với mình cũng bị bắt.
- Sự nhận thức của người phạm tội về hậu quả của tội phạm và những cảm xúc trước hậu quả đó:
Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại về vật chất, tinh thần và các biến đổi khác nguy hiểm cho xã hội do hành động phạm tội gây ra luôn là yếu tố quan trọng tác động đến trạng thái tâm lý của người phạm tội. Trên thực tế, nếu người phạm tội nhận thức được những thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra cho xã hội, mà những thiệt hại đó lại rất nghiêm trọng hoặc nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ, thì chính hậu quả của tội phạm sẽ ám ảnh rất nhiều trong đầu óc của người phạm tội và gây nên cho họ những cảm xúc lo lắng, bồn chồn, sợ hãi về trách nhiệm hình sự mà họ phải gánh chịu. Trạng thái của người phạm tội càng trở nên căng thẳng hơn khi họ thấy có nguy cơ bị phát giác, bị bắt. Ngược lại, nếu người phạm tội không nhận thức được thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra cho xã hội, thì trạng thái tâm lý của họ không căng thẳng hoặc ít căng thẳng hơn.
- Sự đánh giá về việc ngụy trang, che giấu hành vi phạm tội của người phạm tội và về trách nhiệm hình sự mà họ phải gánh chịu:
Sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội thường phân tích, đánh giá lại sự ngụy trang, che giấu hành vi phạm tội của mình để xác định xem chỗ nào đã đảm bảo bí mật và chỗ nào còn sơ hở, dễ bị cơ quan điều tra phát hiện. Nếu phát hiện ra bí mật của hành vi phạm tội có nguy cơ bị bại lộ, thì người phạm tội luôn có trạng thái tâm lý rất căng thẳng và tập trung tư duy cao độ để tìm mọi cách đối phó với các cơ quan pháp luật và che giấu hành vi phạm tội của mình.
- Tác động của dư luận xã hội và hoạt động điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật:
Nếu như người phạm tộ đã gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội và bị dư luận xã hội lên án gay gắt, đồng thời đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật phải tiến hành hoạt động điều tra tích cực bằng mọi cách để nhanh chóng tìm ra can phạm thì sẽ gây cho họ trạng thái tâm lý căng thẳng, lo sợ bị phát giác, bị trừng trị. Ngược lại, nếu như hành vi phạm tội của người phạm tội không bị dư luận xã hội lên án gay gắt và hoạt động điều tra của các cơ quan bảo vệ luật pháp không tiến hành một cách ráo riết thì họ có những trạng thái tâm lý ít căng thẳng hơn, thậm chí ở một số người phạm tội có trạng thái yên tâm hơn.
4.2. Một số cách người phạm tội thường dùng nhằm giải tỏa trạng thái tâm lý căng thẳng của họ sau khi thực hiện hành vi phạm tội:
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội luôn rơi vào trạng thái tâm lý căng thẳng. Chính trạng thái tâm lý này sẽ ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thể chất của người phạm tội. Do vậy, theo quy luật tâm lý, người phạm tội luôn muốn thoát khỏi trạng thái tâm lý căng thẳng bằng mọi cách. Để thoát khỏi trạng thái này, người phạm tội thường sử dụng các giải pháp sau đây:
- Người phạm tội thay đổi nhịp sống khác với thường ngày như họ thường có biểu hiện tích cực không bình thường mang tính bề ngoài (tham gia lao động tích cực, học tập chăm chỉ khác thường,...). Hoặc họ dùng bia, rượu, ma túy để dìm mình vào trong trạng thái âm tính (trạng thái ức chế), từ đó gạt bỏ trạng thái tâm lý căng thẳng. Đây là cách "giải tỏa" diễn ra đơn giản và có hiệu quả trong một thời gian nhất định nên giải pháp này thường phổ biến ở người phạm tội. Tuy nhiên, sau ức chế, trạng thái tâm lý căng thẳng lại tiếp tục.
- Người phạm tội xa lánh địa bàn nơi gây án và địa bàn đang diễn ra hoạt động điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Mặt khác, các quan hệ với môi trường mới, công việc mới, quan hệ xã hội mới,... làm xuất hiện ở tội phạm trạng thái tâm lý mới: vui vẻ, phấn khởi... Do vậy, trạng thái này sẽ lấn dần tâm trạng lo lắng, sợ hãi trước đây.
- Người phạm tội tìm mọi cách để che giấu hành vi phạm tội của mình, chống lại sự phát hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đối với những người phạm tội chuyên nghiệp, tái phạm thì họ thường tạo ra dáng vẻ "bình thản", "bất cần", "phó mặc sự đời" và "ù lì" với mọi tác động, đồng thời, chuẩn bị cung cách khai báo nếu bị bắt.
- Trong thực tế, không ít trường hợp người phạm tội ra đầu thú trước cơ quan bảo vệ pháp luật và tìm cách khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Cuối cùng cũng xong phần lý thuyết. Phần này vừa chán, vừa dài, vừa... lý thuyết, nhưng là những kiến thức cơ bản nhất mà mọi người nên bít (nó đơn giản đến mức mà mọi người sẽ ko thể tin là nó dài đến thế). ^^!





LinkBack URL
About LinkBacks
Trả Lời Với Trích Dẫn









. Cáo trạng không cho biết lúc nhỏ Lê Thanh Vân được giáo dục như thế nào, nhưng chính việc lăn lộn vào đời quá sớm có thể đã làm y thị “nhập tâm” những “khuôn mẫu hành vi” mang tính chất bạo lực là tiền đề cho các hành động sau này của mình.
kudo_shinichi_holmes
Bookmarks